Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

SKKN Tổ chức học nhóm có hiệu quả


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "SKKN Tổ chức học nhóm có hiệu quả": http://123doc.vn/document/568445-skkn-to-chuc-hoc-nhom-co-hieu-qua.htm


I . Phần chung :
1 . Lý do chọn đề tài :
1.1/ Cơ sở pháp chế :
Với mục đích nâng cao chất lợng giáo dục trong thời kì đổi
mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc . Nhà nớc ta cũng nh Bộ GD &
ĐT luôn đề ra những yêu cầu và nhiệm vụ cuh thể của từng năm
học đối với ngành nói chung và từng nhà trờng nói riêng . Cụ thể
trong năm học 2006 - 2007 , nhiệm vụ đã đợc đề ra nh sau :
Trớc tiên toàn ngành giáo dục hởng ứng cuộc vận động "
Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo
dục " .
Bên cạnh đó chúng ta tiếp tục thực hiện đổi mới ch ơng trình
SGK phơng pháp giáo dục, giảng dạy .
Tiếp tục thực hiện chuẩn hoá đội ngũ giáo viên , hiện đại
hoá giáo dục , tăng cờng nền nếp, kỉ cơng trong giáo dục .
Đối với bậc học THCS cũng có những mục tiêu và nhiệm vụ
cụ thể đó là tiếp tục hình thành những kiến thức và kĩ năng cần
thiết và phẩm chất trí tuệ để học sinh có thể tiếp tục bậc học hoặc
đi vào cuộc sống lao động . Cụ thể trong quá trình giáo dục,
chúng ta cần bồi dỡng nhân lực, nhân tài cho đất nớc, bồi dỡng
đội ngũ khoa học kĩ thuật, đào tạo thế hệ trẻ trở thành ng ời lao
động có tri thức, văn hoá, có đạo đức, sức khoẻ , chủ động sáng
tạo trong học tập cũng nh trong lao động để tiếp tục sự nghiệp
cách mạng của đất nớc .
Ngoài ra, một trong những chủ trơng , chính sách của Đảng
và nhà nớc ta hiện nay là mở rộng quan hệ ngoại giao với các n ớc
trên thế giới và trong khu vực . Chìa khoá để mở ra cánh cửa văn
minh thế giới đó là ngôn ngữ giao tiếp chung , và một trong
những ngôn ngữ đợc coi trọng là ngôn ngữ quốc tế International
Language - đó là tiếng Anh .
Nắm bắt đợc tầm quan trọng của ngoại ngữ, đặc biệt là
tiếng Anh, ngay ở bậc THCS , nhà nớc ta đã trú trọng việc dạy
môn này . Tuy nhiên, ở bậc THCS chỉ cần bồi d ỡng cho các em
các kĩ năng giao tiếp cơ bản , tối thiểu và t ơng đối hệ thống về
Tiếng Anh hiện đại phù hợp với lứa tuổi . Từ đó giúp các em dễ
dàng trong các bậc học tiếp theo hoặc trong việc lựa chọn nghề
nghiệp trong tơng lai .
Từ những lí do, căn cứ cơ bản trên , cho ta thấy việc giáo
dục toàn diện cho học sinh là rất cần thiết . Bên cạnh đó việc
giảng dạy tiếng Anh cũng là một nhiệm vụ quan trọng trong nhà
1
trờng . Vấn đề dặt ra cho mỗi chúng ta nói chung và các giáo viên
trực tiếp giảng dạy tiếng Anh ở bậc THCS nói riêng là làm thế
nào để có đợc kết quả tốt trong giảng dạy . Vì vậy các phơng
pháp giảng dạy tích cực luôn đợc thực hiện triệt để và sáng tạo
bởi các giáo viên .
1.2/ Cơ sở lí luận :
Cũng nh phần đầu tôi đã trình bày, việc dạy học tiếng Anh
trong nhà trờng là rất quan trọng, là bớc khởi đầu để các em làm
quen với tiếng Anh, giúp các em hình thành các kĩ năng cơ bản
trong giao tiếp và sử dụng tiếng Anh . Cũng giống nh tất cả các
môn học khác, phơng pháp giáo dục, giảng dạy trong thời kì đổi
mới đó là luôn phát huy vai trò chủ động sáng tạo cho học sinh .
Trong giờ học, giáo viên chỉ đóng vai trò là ng ời hớng dẫn, chỉ
đạo trực tiếp để giúp các em tìm ra các kiến thức cơ bản , chân lí
đúng đắn . Trong giờ học ở trờng cũng nh ở nhà học sinh luôn
phát huy tối đa của mình trong các kĩ năng cơ bản : Nghe - nói -
đọc - viết . Qua đó rèn luyện thói quen lao động độc lập sáng tạo
phù hợp với yêu cầu của su thế phát triển của thời đại .
Tiếng Anh đợc đa vào nh một môn học chính thức trong trờng học
THCS , cũng là bớc đầu cho học sinh thấy nhu cầu, cũng nh yêu
cầu giao lu quốc tế, hội nhập với các nớc trên thế giới và trong
khu vực là rất quan trọng . Vì vậy việc học tiếng Anh cũng nh các
ngoại ngữ khác là diều không thể thiếu .
Với môn học tiếng Anh ở trờng THCS , học sinh cần đạt đợc các
yêu cầu cụ thể sau :
+ Nắm đợckiến thức cơ bản, tối thiểu và tơng đối hệ thống
về tiếng Anh hiện đại , phù hợp với lứa tuổi .
+ Có kỹ năng sử dụng tiếng Anh nh một công cụ giao tiếp
đơn giản dới dạng Nghe - Nói - đọc - viết .
+ Có sự hiểu biết về các nớc nói tiếng Anh nói chung và nớc
Anh nói riêng .
+ Hình thành các kĩ năng học tếng Anh và phát triển t duy .
Những kỹ năng này sẽ giúp các em phát triển khả năng sử dụng
tiếng mẹ đẻ và góp phần hình thành ngôn ngữ toàn diện cho học
sinh .
Cũng nh các môn học khác, môn tiếng Anh ở tr ờng THCS có
những thuận lợi và khó khăn riêng :
+ Đối với học sinh, môn học này là môn học tơng đối mới
mẻ . Vì vậy học sinh luôn có ý thức tò mò khám phá . Do đặc tr ng
của bộ môn là tơng đối sôi nổi nên phần lớn các em đều yêu thích
2
. Hiện nay chơng trình SGK và phơng pháp giảng dạy đợc đổi mới
phù hợp với tâm lý lứa tuổi và yêu cầu giáo dục trong tình hình
đổi mới . Bên cạnh đó gia đình các em luôn toạ điều kiện thuận
lợi cho việc học tập của học sinh đợc tốt .
+ Đối với giáo viên có kiến thức, phơng pháp giảng dạy cập
nhật phù hợp với yêu cầu hiện nay, thờng xuyên đợc tham gia các
lớp học bồi dỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ .
+ Đối với xã hội đã có cách nhìn nhận khách quan và tích
cực hơn đối với môn học . Hơn nữa, trong những năm gần đây,
môn tiếng Anh đã trở thành môn thi tốt nghiệp cũng nh thi vào
các trờng cao Đẳng, Đại học. Vì vậy động lực học và điều kiện
học tập đợc trú trọng hơn .
Tuynhiên so với những thuận lợi trên, môn học này còn tồn
tại một số khó khăn sau :
+ Thứ nhất là cơ sở vật chất còn thiếu thốn , không có đủ
trang thiết bị cần thiết phục vụ cho việc học tập bộ môn nh đài,
băng, tài liệu tham khảo và nâng cao rất hạn chế . Bên cạnh đó ,
song song với những gia đình có điều kiện quan tâm đến việc học
tập của học sinh thì còn những gia đình dân tộc thiểu số , do điều
kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nên ch a quan tâm sâu sắc tới
quá trình học tập của các em ; Nhận thức của học sinh vì thế cũng
cha cao . Do vậy là giáo viên, nhiều khi tôi chỉ cố gắng truyền
đạt đủ nội dung kiến thức trong SGK , việc mở rộng trên lớp là
rất hạn chế và khó khăn . Điều đó dẫn đến chất lợng bài học của
học sinh cũng cha cao . Ngoài ra điều kiện tự học , bồi dỡng nâng
cao nghiệp vụ chuyên môn , nâng cao trình độ của giáo viên còn
thấp, vì vậy chất lợng giờ giảng cha thờng xuyên đợc nâng cao .
Để phát huy những mặt tích cực của giáo viên cũng nh học
sinh , khắc phục và hạn chế những khó khăn nhìn chung có nhiều
cách để giúp giáo viên nâng cao chất lợng giờ dạy của mình . Một
trong các phơng pháp biện pháp tôi mạnh dạn đề ra thảo luận
trong đề tài này là : " Hớng dẫn học sinh rèn luyện, luyện tập
theo cặp, theo nhóm trong giờ học tiếng Anh " .
1.3 / Cơ sở thực tiễn :
Qua thực tế giảng dạy, tôI nhận thấy rằng, học sinh phổ
thông đặc biệt là học sinh nông thôn miền núi rất ngại giao tiếp,
các em quá e dè , nhút nhát , đôi khi là tự ti với bản thân . Các
em không có thói quen bày tỏ quan điểm của mình tr ớc một vấn
đề gì đó, nhiều em có tâm lí thụ động, chờ đợi , phụ thuộc vào
ngời khác . Trong khi đó phơng pháp giảng dạy mới đòi hỏi phảI
3
phát huty tối đa khả năng độc lập, sáng tạo của học sinh, mỗi học
sinh đều phải có ý kiến, đề xuất về một vấn đề đặt ra . Hơn nữa,
môn học tiếng Anh ở bậc học THCS đòi hỏi học sinh rèn luyện
trên 4 kĩ năng cơ bản là : nghe, nói, đọc, viết . Trong đó đặc biệt
là kĩ năng nghe và nói đợc thực hiện nhiều ở trên lớp ( Kĩ năng
đọc; viết thờng đợc dành cho các bài tập ở nhà ) . Do đó việc
luyện tập giao tiếp của học sinh ở trên lớp là rất quan trọng, nó
góp phần rất lớn để đánh giá chất l ợng giờ dạy cũng nh chất lợng
học tập của học sinh .
Những vấn đề khó khăn đợc đặt ra là : Số lợng học sinh
trong một lớp là tơng đối lớn ( Khoảng 40 học sinh ) . Vì vậy việc
hớng dẫn từng học sinh rèn luyện là rất khó thực hiện . Nh chúng
ta đã biết , hiẹn nay chúng ta đang thực hiện đổi mới ph ơng pháp
dạy học trên tát cả các môn . Có nhiều ph ơng pháp phát huy đợc
tính tích cực của học sinh , hiệu quả cao và ột trong rát nhiều ph -
ơng pháp đó là : " Hớng dẫn học sinh rèn luyện, luyện tập theo
cặp, theo nhóm "
Đối với phơng pháp này đã khắc phục đợc một số khó khăn
trên nh : Tất cả học sinh trong lớp đều đợc học cùng một nội
dung, cùng một thời điểm ; Giúp giáo viên tiết kiệm đ ợc thời gian
; giúp các em yếu kém hoặc hay xấu hổ có cơ hội để đ ợc cùng
luyện tập với bạn để đợc đa ra ý kiến của mình .
Tuy nhiên khi áp dụng phơng pháp này, giáo viên lại gặp
phảI những vấn đề bất lợi nh : Đôi khi các em gây ra quá ồn ào,
một số em lợi dụng tình thế để nói chuyện riêng , làm việc riêng .
Vì các em luyện tập với bạn nên nhiều khi các em mắc nhiều lỗi
sai giáo viên không biết . Nếu các điểm yếu này không đ ợc điều
chỉnh kịp thời thì hiệu quả của giờ dạy học sẽ rất thấp .
Vậy làm thế nào để đạt đợc hiệu quả cao trong giáo dục nói
chung cũng nh phơng pháp rèn luyện theo cặp nói riêng . ngời
giáo viên phải làm gì để đạt đợc điều đó ! đó chính là vấn đề đợc
giải quyết trong đề tài này .
2 . Nhiệm vụ của đề tài :
a/ Nhiệm vụ cơ bản :
Nhìn chung với đề tài này cần phải giải quyết các vấn đề
sau :
+ Tìm hiểu thực tế giảng dạy bộ môn , tình hình học tập của
học sinh .
+ Tìm hiểu lí thuyết của phơng pháp "" Hớng dẫn học sinh
rèn luyện, luyện tập theo cặp, theo nhóm " ; từ đó thấy đ ợc những
mặt tích cực cũng nh khó khăn của phơng pháp .
4
+ Phát huy các mặt tích cực, khắc phục những mặt ch a
thuận lợi để áp dụng vào thực tế giảng dạy .
b/ Nhiệm vụ của giáo viên :
Đối với mỗi ngời giáo viên đều có những nhiệm vụ cụ thể
của ngành giao cho nh : Thực hiện các qui chế chuyên môn soạn,
giảng, chấm, chữa bài kiểm tra của học sinh, bồi d ỡng học sinh
giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém, hoàn thành các đầu hồ sơ sổ sách
Tuy nhiên ở đây, tôi chỉ bàn về nhiệm vụ cụ thể của giáo viên
trong việc thực hiện đề tài . Đó là :
+ Trớc tiên để thực hiện đề tìa này và triển khai vào thực tế
giảng dạy thì giáo viên phảI hiểu rõ lý thuyết giáo học pháp của
phơng pháp dạy " Hớng dẫn học sinh rèn luyện, luyện tập theo
cặp, theo nhóm " trong tình hình đổi mới hiện nay .
+ Tiếp theo giáo viên phảI tiến hành khảo sát tình hình học
tập chất lợng học tập của học sinh để xây dựng cơ sở thực hiện đề
tài sao cho hợp lý nâng cao chất lợng học tập của học sinh .
+ Sau đó giáo viên tiến hành viết đề tài, triển khai đề tài
trong thực tế giảng dạy .
Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu cũng nh triển khai áp
dụng đề tài sẽ có nhiều vấn đề nảy sinh . Vì vậy cần có sự điều
chỉnh sao cho phù hợp để đa ra phơng pháp luyện tập cho từng
học sinh . Hơn nữa để kết quả giáo dục có chất lợng thì giáo viên
cũng cần kết hợp chặt chẽ với các phơng pháp dạy học khác cũng
nh đối với các giáo viên khác .
c/ Nhiệm vụ của học sinh :
Nh chúng ta đã biết, mỗi học sinh đều phải thực hiện
nghiêm chỉnh nhiệm vụ, vai trò của mình .
Trớc tiên học sinh phải có đủ phơng tiện, đồ dùng học tập
tối thiểu cho bộ môn nh : Sách, vở, bút, mực Trong giờ học
luôn có tháI độ học tập nghiêm túc, tích cực chú ý nghe giảng,
luyện tập theo sự chỉ đạo của giáo viên .
Làm bài tập về nhà đầy đủ, chuẩn bị bài tốt trớc khi lên
lớp . Đặc biệt với bộ môn tiếng Anh các em luôn phải tạo cho
mình phong tháI tự tin, mạnh dạn không sợ khó, sợ sai . Mỗi học
sinh biết tự đề ra cho mình phơng pháp học tập hợp lý thờng
xuyên thảo luận , đề xuất ý kiến về những thuận lợi và khó khăn
trong việc học tập bộ môn .
3 . Giới hạn của đề tài :
5
Dựa trên những yêu cầu của việc đổi mới phơng pháp giảng
dạy. Dựa trên cơ sở lý luận của phơng pháp giảng dạy thông qua
việc luyện tập theo cặp, theo nhóm . Với giới hạn của đề tài này,
tôi mạnh dạn thảo luận về các biện pháp hớng dẫn học sinh rèn
luyện, luyện tập theo cặp, theo nhóm ở lớp tôI giảng dạy . Qua đó
cay dựng cho các em tinh thần học tập tích cực, độc lập, có nhiều
sáng tạo . Giúp các em có thói quen giúp đỡ nhau trong học tập
thúc đẩy sự tự tin cần thiết hạn chế sự e dè nhút nhát . Đặc biệt
với bộ môn này cần giúp các em phát triểncác kĩ năng giao tiếp
cơ bản, vì vậy với đề tài này , tôi tập trung nghiên cứu, áp dụng
một số biện pháp, phơng pháp hớng cẫn học sinh luyện tạp theo
từng cặp từng nhóm ở những lớp tôi trực tiếp giảng dạy .
Qua đề tài này, mục đích đạt đợc của tôi nhằm nâng cao
chất lợng giờ giảng của giáo viên ; Nâng cao chất lợng học tập
của học sinh , thông qua việc làm phong phú ph ơng pháp giảng
dạy, kết hợp với nhiều phơng pháp giảng dạy , cũng nh kết hợp
với các bộ môn khác . Qua đó góp phần nâng cao chất l ợng học
tập của học sinh , đảy mạnh hơn nữa nền giáo dục của n ớc nhà .
Vấn đề cơ bản là giúp các em học sinh miền núỉơ địa phơng có
phơng pháp học tập hợp lý phù hợp với yêu cầu hiện tại góp phần
giúp học sinh miền núi theo kịp miền xuôi .
4 . Đối tợng nghiên cứu :
Trong năm học 2006 - 2007 , tôI đợc giao nhiệm vụ giảng
dạy bộ môn tiếng Anh 6, 7, 9 . Mục đích của tôi cũng giống nh
tất cả các giáo viên khác là luôn tìm ra phơng pháp giảng dạy hợp
lý giúp học sinh hiểu bài, chất lợng giáo dục đợc nâng cao .
Trong đề tài này, tiếp thu phơng pháp giảng dạy theo cặp, theo
nhóm và áp dụng trực tiếp vào những lớp tôi trực tiếp giảng dạy .
Vì vậy các học sinh trong lớp tôi giảng dạy sẽ là đối t ợng nghiên
cứu chính và trực tiếp trong đề tài này . TôI sẽ cố gắng áp dụng
những phơng pháp dạy học cải tiến để học sinh có thể tiếp thu bài
giảng một cách dẽ dàng nhất . Các em sẽ có một kiến thức cơ bản
để tiếp thu , tiếp tục bậc học cao hơn hoặc góp phần cung cấp các
kiến thức cơ bản giúp các em đi vào cuộc sống lao động . Đẻ làm
đợc điều đó , ngời giáo viên phảI thực sự hiểu tâm lý lứa tuổi của
các em học sinh , hiểu tâm lý giáo dục học lứa tuổi, từ đó các ph -
ơng pháp giảng dạy , giáo dục mới đợc nâng cao .
Bên cạnh đó, bản thân tôi muốn hoàn thành nhiệm vụ của
mình thì một mình bản thân tôi và các học sinh ch a đủ và rất khó
thực hiện, mà cần có sự giúp đỡ của ban giám hiệu , các tổ
6
chuyên môn , các giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên bộ môn
khác . Trớc tiên là các giáo viên giảng dạy cùng bộ môn, tôi sẽ
cùng thảo luận , dạy thực nghiệm để đề ra ph ơng pháp và biện
pháp thực hiện tối u . Bên cạnh đó , tôi kết hợp với các giáo viên
giảng dạy bộ môn khác ví dụ nh giáo viên dạy toán, văn, sử , địa
Tôi sẽ so sánh các phơng pháp dạy thneo cặp, theo nhóm giữa
các bộ môn để thấy đợc sự giống nhau và khác nhau qua đó học
hỏi tiếp thu những kinh nghiệm giảng dạy . Cách sử lý các tình
huống s phạm trong lớp của các đồng nghiệp giàu kinh nghiệm .
Hay nói một cách khác các đồng nghiệp của tôi chính là một
trong những tác nhân quan trọng giúp tôi hoàn thành đề tài này .
Bên cạnh các nhân tố quan trọng trên, thì yếu tố gia đình
phụ huynh học sinh là không thể thiếu . Bởi vì các em sống trong
môi trờng nh thế nào ? điều kiện kinh tế và thời gian có đảm bảo
cho các em học tập đợc tốt hay không ? Các bậc phụ huynh có
quan tâm, tạo điều kiện cho các con em mình hay không ? Giải
đáp đợc vấn đề nêu trên cũng là một phần không nhỏ giúp tôi áp
dụng đợc các phơng pháp một cách hiệu quả hơn .
Và điều quan trọng , bản thân tôi, giáo viên trực tiếp giảng
dạy , thực hiện đề tài này, cũng với các tài liệu , sự đóng góp ý
kiến , giúp đỡ của bạn bè đồng nghịêp sẽ đảm bảo sự hoàn thiện
của đề tài . Trớc tiên tôi xem xét mức độ hiểu thấu đáo của tôi về
lí thuyết phơng pháp giảng dạy theo cặp, theo nhóm , sau đó tôi
su tầm thêm các tài liệu có liên quan đến bộ môn và đề tài .
Nhìn chung để hoàn thiện đề tài này thì một đối t ợng, một
nhân tố duy nhất nào đó không thể giúp tôi hoàn thành tốt đ ợc đề
tài , mà phải có sự gắn kết giữa các đối tợng, sự kết hợp hài hòa
các phơng pháp . Có nh vậy đề tài sáng kiến kinh nghiệm của tôi
mới mang lại hiệu quả cao . Chất lợng giảng dạy của tôi mới góp
phần đợc nâng cao .
5 . Phơng pháp nghiên cứu :
Để đề tài có hiệu quả cao, chúng ta cần có phơng pháp
nghiên cứu đúng đắn . Trớc tiên phải có sự quan sát đánh giá tình
hình học sinh, chất lợng học tập, ý thức học tập ở gia đình của
các em . Khi đánh giá đợc tình hình học tập của học sinh , tôi lựa
chọn nội dung nghiên cứu , từ đó tôi quyết định tìm tòi tài liệu
phù hợp phục vụ cho đề tài , tiếp theo tôi tìm hiểu, tham khảo ý
kiến của đồng nghiệp . Cùng với tài liệu đã thu thập đ ợc , tôi viết
đề cơng sau đó đa ra tổ chuyên môn cùng thảo luận . Đợc sự đóng
góp ý kiến của tổ chuyên môn, tôi thực hiện viết đề tài . Qua quá
7
trình nghiên cứu đề tài trên lý thuyết kết hợp với thực tế học sinh
, tôi kết hợp điều chỉnh các thiếu sót , bất cập nảy sinh . Nói
chung phơng pháp cơ bản để tôi thực hiện đề tài này đó là ph ơng
pháp tổng hợp, tổng hợp từ tài kiệu , tổng hợp ý kiến Nh ng
điều quan trọng là phải đảm bảo áp dụng lí thuyết ; bám sát lý
thuyết vào giảng dạy ở trên lớp .
6 . Thời gian nghiên cứu :
Nâng cao chất lợng, hiệu quả giáo dục , giảng dạy không
những là của bộ môn tiếng Anh mà là của tất cả các môn học
khác . Đây cũng không phải là một nhiệm vụ dễ dàng , do đó để
có thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài, do đó tôi phải phải dành
ra khoảng thời gian rất lớn trớc đó để tìm ra vấn đề , định hình đề
tài nghiên cứu từ những năm học trớc . ở đây do điều kiện thực tế
còn hạn chế nên tôi chia khoảng thời gian thực hiện đề tài của tôi
nh sau :
6.1./ Tháng 9 :
- Quan sát đánh giá tình hình học tập của học sinh .
- Lựa chọn nội dung nghiên cứu , tên đề tài sáng kiến
kinh nghiệm .
- Su tầm thu thập tài liệu có liên quan đến nội dung
nghiên cứu .
- Dạy thực nghiệm .
6.2 /Tháng 10 :
- Đăng kí tên đề tài .
- Xây dựng đề cơng .
- Thông qua tổ chuyên môn thảo luận, xét duyệt .
6.3 tháng 11 :
- Viết đề tài .
- Dạy thực nghiệm .
6.4 / Tháng 12, 1,2,3,4,5 :
- áp dụng vào thực tế giảng dạy .
- Đúc rút kinh nghiệm, sửa đổi bổ sung kịp thời .
7 . Tài liệu tham khảo :
- SGK, SGV các lớp 6,7,8,9 .
- Teach English ( Adrian Doff) .
- Tâm lý giáo dục học .
II . Nội dung đề tài :
8
1 . Nội dung thực hiện :
Cũng nh tôi đa trình bày ở phần Lý do chọn đề tài thì
chất lợng luôn là vấn đề đặt ra hàng đầu trong quá trình giáo
dục . Tuy nhiên đây không phải là vấn đề dễ dàng đối với giáo
viên và học sinh . Trong khi đó môn học này là môn học còn mới
mẻ ở địa phơng và là môn khó . Do vậy, còn thiếu các giáo viên
dày dạn kinh nghiệm mà hầu hết là giáo viên trẻ, thâm niên nghề
nghiệp cha cao . Vì vậy để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, các giáo viên tiếng Anh chúng tôi đều phải tự mình từng bớc
tìm ra phơng pháp giải quyết cho các vấn đề khó khăn .
Thông qua các chủ điểm gần gũi trong cuộc sống của các
em nh : bạn bè, gia đình, trờng học, môi trờng sức khỏe rèn
luyện cho các em các kĩ năng thực hành tiếng nghe- Nói - Đọc
Viết . Giúp các em hiểu sâu sắc hơn về các vấn đề trong cuộc
sống , cũng nh khuyến khích các em xây dựng tinh thần thái độ,
trách nhiệm đối với bản thân, bạn bè, gia đình bên cạnh đó
môn học phần nào giúp các em tiếp cận với các nền văn hóa trên
thế giới đặc biệt là các nớc nói tiêng Anh . Nhng trong 4 kĩ năng
cơ bản, các em chủ yếu rèn luyện 2 kĩ năng Nghe Nói . Các
kĩ năng này đợc rèn luyện dới nhiều hình thức nh : Nghe băng
đài, nghe bạn bè, nghe cô giáo nói với bạn bè, thầy cô Một
trong nhiều phơng pháp thông dụng, có hiệu quả giúp rèn luyện
các kĩ năng này ở lớp đông học sinh là phơng pháp Rèn luyện
theo cặp, theo nhóm .
Trong tài liệu SGK đổi mới thì các bài tạp trong SGK luôn
có những yêu cầu nh :
+ Listen and read . Then practice With a partner .
+ Listen and repeat . then ask and answer with a
partner .
+ Work in groups of four, make a similar dialogue
Nh vậy các dạng bài tập trên luôn yêu cầu học sinh luyện
tập Nghe Nói với bạn Các bài tập tren th ờng là tình huống
các bài hội thọa, qua các tình huống giao tiếp, giáo viên giúp học
sinh biết đợc từ mới, các mẫu câu, cấu trúc ngữ pháp mới . Vì thế
việc cho học sinh rèn luyện theo cặp, theo nhóm là công việc th -
ờng xuyên ở trên lớp học tiếng Anh
VD : Unit 2 ; English 7 Exercise .
Bài tập yêu cầu : Listen . Then practice With a partner .
Để tiến hành bài tập này, giáo viên hớng dẫn học sinh thực
hiện các bớc sau :
9
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
- Hớng dẫn học sinh tình huống
bài hôi thoại
- Hớng dẫn từ mới .
- Yêu cầu học sinh đọc bài theo
cặp .
- ( Sửa lỗi phát âm cho học sinh
)
- Hớng dẫn cách làm bài tập .
- Chữa lỗi ( Nếu có )
(Hớng dẫn các bớc tơng tự )
+Đoán tình huống, nội dung của
bài hội thoại .
+ Đọc từ mới
+ Đọc bài theo cặp .
+ Một vài cặp đọc to trớc lớp
* Now answer
+Hỏi và trả lời theo cặp .
+ Một vài cặp trả lời to trớc lớp
.
+ Viết câu trả lời đúng vào vở
bài tập .
* About you : (as the same)
Qua ví dụ trên cho thấy đây là một trong các ví dụ điển hình
sử dụng phơng pháp luyện tập theo cặp, theo nhóm . Trong ví dụ
này cũng nh các bài tập tơng tự, phần lớn thời gian trong bài dành
cho học sinh luyện tập và giáo viên chỉ đóng vai trò
Monitor/guider Ngời hớng dẫn / ngời điều hành . Trong khi
HS luyện tập, GV đi quanh lớp theo dõi, giúp đỡ những em,
những cặp còn yếu .
Khi yêu cầu các em luyện tập theo cặp, theo nhóm thì l ợng
ngôn ngữ đợc luyện tập trong đơn vị lớp, đơn vị thời gian sẽ đ ợc
nhiều hơn .
Ví dụ : Unit 1 Exercise 2 / page 11 Tiếng Anh 8 . Việc
miêu tả hình dáng ngời có thể thực hiện cùng một thời gian với
tất cả 6 ngời và điều quan trong là tất cả các em đều đ ợc luyện
nói . Việc gọi một vài học sinh đọc, trả lới trớc lớp chỉ là để đánh
giá, kiểm tra sự hiểu bài của cả lớp, GV chữa kỗi chung cho cả
lớp .
Ta có thể so sánh cùng với bài này : Nếu GV không sử dụng
phơng pháp luyện tập theo cặp, theo nhóm mà gọi từng HS lên trả
lời : Nếu lần lợt cả lớp đều đợc trả lời thì rất mất thời gian, nhng
ngợc lại chỉ cần trả lời song 8 câu hỏi thì trong lớp chỉ có 8 em
đợc luyện tập, đợc giáo viên chữa lỗi còn các em khác không đợc
GV chữa lỗi, và GV cũng không thể chắc chắn đợc rằng cả lớp có
hiểu bài hay không . Thậm trí những em đợc đứng dậy phát biểu
thì chỉ đợc luyện tập với 1 câu , các em khác cả giờ sẽ không đợc
nói, luyện tập câu nào . Dần dần sẽ dẫn đến tình trạng chây ỳ ,
đặc biệt những em nhút nhát và lời nhác , vì vậy việc luyện tập
10
theo cặp, theo nhóm sẽ giúp thu hút, lôi cuốn tất cả các em tham
gia, các em có cơ hội học tập giúp đỡ lẫn nhau, giúp các em yếu
kém có cơ hội luyện tập nhiều hơn .
Tuy nhiên trong qúa trình luyện tập theo cặp, theo nhóm sẽ
xảy ra một số điều bất lợi sau :
- Lớp học gây ồn ào, có thể gây ảnh h ởng tới các lớp học
bên cạnh, đặc biệt trong điều kiện lớp học nh hiện nay, mặc dù
đây là những tiếng ồn tích cực và đợc phép .
- Bên cạnh đó khi các em tự luyện tập thì có thể sẽ mắc
nhiều lỗi sai mà GV không biết .
- Ngoài ra nhiều em sẽ tranh thủ nói chuyện, làm việc riêng
trong khi cả lớp luyện tập, thâm chí có những em ngồi im .
Để hạn chế đợc các điều bất lợi trên, giáo viên cần đặt ra
những qui định rõ ràng và luôn yêu cầu các em luyện tập, thực
hiện theo các bớc đã qui định . Ví dụ : Khi bắt đầu bất cứ một bài
tập nào thì GV đều hớng dẫn chi tiết cách thực hiện, làm mẫu một
vài ví dụ sau đó cho các em tự luyện tập và sửa lỗi và nhằm tránh
đợc hiện tợng mắc lỗi nhiều ở học sinh thì giáo viên sẽ xếp những
em học khá ngồi cùng luyện tập với những em học kém . Tuy
nhiên GV cũng không lấy hiện tợng mắc lỗi nhiều là điều qúa
trầm trọng, bởi vì khi giáo viên chữa lỗi thì các em sẽ tự biết sửa
lỗi và nhớ lâu hơn .
Vậy giáo viên phải tổ chức và hớng dẫn học sinh tiến hành
hoạt động nh thế nào ? cũng nh các hoạt động khác , hoạt động
theo cặp, theo nhóm có thể nhanh chóng trở nên quen thuộc với
HS và khi vào bài GV chỉ cần đa ra yêu cầu Work in pairs ,
pleasd hoặc Work in groups, please ! thì học sinh có thể
luyện tập ngay với cặp / nhóm của mình .
Có nghĩa là ngay những giờ đầu tiên giáo viên qui định các
cặp , các nhóm cụ thể .
+ Đối với PaiWork Cặp học sinh thì hai em ngồi cạnh
nhau sẽ là một cặp hoặc với bạn ngay sau hoặc ngồi ngay tr ớc
mình . Với những lớp lợng HS học khá thì việc chia cặp rất đơn
giản . Nhng với những lớp nhiều học sinh kém thì khi chia cặp
giáo viên phải lu ý các em học khá sẽ kèm các em học kém , các
em mạnh dạn sẽ kèm với các em nhút nhát , hay sấu hổ .
+ đối với Group work Nhóm học tập thì tùy vào tình hình
của lớp , tùy vào tình hình bài học để chia , có thể chia nhóm 3,
nhóm 4, nhóm 5 học sinh . Vậy nếu một bàn có 2 HS ngồi thì hai
bàn sẽ là một nhóm , nếu một bàn có 4 em ngồi thì bàn đó sẽ là
11
một nhóm . Cũng nh cặp học sinh thì nhóm luyện tập cũng cần l u
ý các em khá giỏi kèm các em yếu kém .
Sau khi chia các cặp, các nhóm một cách rõ ràng , rành rẽ
thì khi có yêu cầu thì học sinh sẽ tự luyện tập theo cặp theo nhóm
của mình . Qua quá trình luyện tập, giáo viên có thể đánh giá ,
phê bình, khen ngợi các cặp , các nhóm . Hớng dẫn bài tập một
cách rõ ràng có ví dụ cách thực hiện bài tập ; Và khi HS luyện
tập, GV phải quan sát HS một cách kỹ l ỡng, đảm bảo tất cả các
em đều đang luyện tập , tuy nhiên cũng không quá ồn ào gây ảnh
hởng tới các lớp khác . Giáo viên có thể qui định mức độ âm l ợng
lời nói của các em . Giáo viên có thể tham gia luyện tập với từng
nhóm . Giúp đỡ, khuyến khích các em đa ra ý kiến của mình .
Trên đây là một số phơng pháp tôi áp dụng , dựa trên cơ sở
lí luận và dựa trên cơ sở thực tiễn của ph ơng pháp luyện tập theo
cặp, theo nhóm để hớng dẫn học sinh thực hiện ở lớp tôi trực tiếp
giảng dạy . Tuy nhiên vẫn còn nhiều điểm bất cập vì vậy trong
quá trình giảng dạy, tôi vẫn phải tiếp tục điều chỉnh , phát huy
những điểm tốt , hạn chế, khắc phục những điểm yếu .
2 . Kết quả :
Đánh gia kết quả giáo dục là cả một quá trình lâu dài . Đối
với tôi trong quá trình nghiên cứu, áp dụng một trong các ph ơng
pháp giảng dạy đổi mới là phơng pháp Hớng dẫn học sinh luyện
tập theo cặp, theo nhóm . Tôi nhận thấy rằng : Thứ nhất, cùng
với các phơng pháp đổi mới khác thì phơng pháp này không
những rất phù hợp với đặc trng của bộ môn và còn rất phù hợp với
nhiều môn khác .
Trong môn học tiếng Anh thì hoạt động nhóm phù hợp với
rất nhiều phần trong bài học : ví dụ phần Warmup, Cotrolled ,
practice và phù hợp với nhiều kiểu bài khác nhau nh : Đọc bài
khóa, luyện tập hỏi và trả lời
Qua thực tế thì với phần hoạt động cặp , nhóm thì học sinh
rất sôi nổi học tập tạo ra sự mạnh dạn, thoải mái của học sinh ,
các em yếu kém nhút nhát dần lấy lại đợc sự tự tin . Nhìn chung
mặc dù tiếng Anh là một môn học khó nhng phần lớn các em đề
yêu thích, môn học kết quả ngày càng đợc nâng cao .
3 . Bài học kinh nghiệm và giảI pháp thực hiện :
Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng đề tài SKKN H ớng
dẫn học sinh luyện tập theo cặp, theo nhóm bản thân tôi rút ra đ -
ợc một số bài học kinh nghiệm sau :
12
+ Phơng pháp này là một trong số các ph ơng pháp daỵ học
đổi mới phù hợp với đặc trng của bộ môn . Vì vậy cần áp dụng
linh hoạt vào từng bài học , từng đối tợng học sinh .
+ Cần tránh học sinh gây qua ồn ào và làm việc riêng trong
giờ thì giáo viên phải đóng vai trò là một Monitor/guider
Ngời hớng dẫn / ngời điều hành hết sức nghiêm túc , theo dõi
chặt chẽ hoạt động của học sinh ; Có các biện pháp , ví dụ đánh
giá cho điểm , để tạo sự thi đua tích cực giữa các cặp, các nhóm .
+ Cần đảm bảo các cặp, các nhóm hoạt động đúng chủ đề,
theo đúng hớng yêu cầu của bài học cũng nh của giáo viên thì tr-
ớc khi cho học sinh luyện tập thì giáo viên phảI hớng dẫn kĩ lỡng
cách làm bài ; Và sau khi cho cả lớp kuyện tập thì giáo viên gọi
một số cặp , nhóm để kiểm tra lại ; Đặc biệt khuyến khích các
phơng hớng, phơng án trả lời khác nhau phát huy khả năng sáng
tạo của học sinh .
+ Cần kết hợp với các giáo viên khác cũng nh các phơng
pháp khác để phát huy tối đa khả năng học của học sinh cũng nh
nâng cao chất lợng học tập của học sinh .
4 . Kết luận :
Luôn đổi mới nội dung, phơng pháp giáo dục nhằm nâng
cao chất lợng, hiệu quả giảng dạy là yêu cầu hàng đầu của ngành
giáo dục cũng nh của giáo viên, học sinh, gia đình học sinh
Bản thân tôi là một giáo viên trực tiếp giảng dạy , tôi mạnh dạn
đa ra một số phơng pháp hớng dẫn học sinh luyện tập theo cặp,
theo nhóm . Đây chỉ là các ý kiến nhỏ nhằm nâng cao chất l ợng
giảng dạy , tuy nhiên không có phơng pháp nào là duy nhất tối u .
Vì vậy để đạt đợc hiệu quả cao cho đề tài này, ngoài sự nỗ lực cố
gắng phấn đấu của giáo viên và học sinh thì việc kết hợp với các
phơng pháp khác cũng nh kết hợp với các giáo viên các bộ môn
khác là điều không thể thiếu .
Dù giáo viên có sử dụng phơng pháp nào thì học sinh cũng
vẫn là đối tợng trung tâm trong bài giảng . Trong khi đó đối với
môn tiếng Anh thì tập trung phát triển các kỹ năng Nge nói -
đọc viết . Mà kĩ năng nghe nói là chủ yếu , Vì vậy việc phát
huy, tăng cờng thời gian nói của học sinh là rất quan trọng . Tôi
hi vọng đề tài này sẽ mang lại hiệu quả cao , giúp tôi đúc rút kinh
nghiệm để đạt đợc hiệu quả giáo dục cao . Mặc dù vậy trong một
giờ học cụ thể cũng cần thiết kết hợp nhiều ph ơng pháp giáo dục ,
giảng dạy khác nhau .
13

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét