Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. So sánh 4 mô hình của DHHT
Bảng 3.1. Tần suất điểm kiểm tra (đợt 1)
Bảng 3.2. Tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra (đợt 1)
Bảng 3.3. Kiểm định X điểm kiểm tra (đợt 1)
Bảng 3.4. Phân tích phương sai điểm kiểm tra (đợt 1)
Bảng 3.5. Tần suất điểm kiểm tra (đợt 2)
Bảng 3.6. Tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra (đợt 2)
Bảng 3.7. Kiểm định X điểm kiểm tra (đợt 2)
Bảng 3.8. Phân tích phương sai điểm kiểm tra (đợt 2)
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Hoạt động của GV và HS trong QTDHHT
Hình 2.2. Các bước của quy trình tổ chức DHHT
Hình 2.3. Yếu tố môi trường và việc học
Hình 2.4. Yếu tố môi trường và phương pháp sư phạm
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Biểu đồ tần suất điểm kiểm tra (đợt 1)
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ tấn suất hội tụ tiến điểm kiểm tra (đợt 1)
Biểu đồ 3.3. Biểu đồ tần suất điểm kiểm tra (đợt 2)
Biểu đồ 3.6. Biểu đồ tấn suất hội tụ tiến điểm kiểm tra (đợt 2)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu …………………………………………………………………… …1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu về dạy học hợp tác trên thế giới ……………… 4
1.2. Tình hình nghiên cứu về dạy học hợp tác ở Việt Nam ………………… 8
Chương 2: VẬN DỤNG DẠY HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC SINH
HỌC 11
2.1. Cấu trúc chương trình SH 11 và các thành phần kiến thức cơ bản…… 12
2.2. Cơ sở lí thuyết của dạy học hợp tác…………………………………… 13
2.3. Khái niện dạy học hợp tác ……………………………………………. 16
2.4. Phân loại nhóm hợp tác ………………………………………………. 18
2.5. Hiệu quả của dạy học hợp tác ………………………………………… 19
2.6. Các mô hình tổ chức dạy học hợp tác…………………………………. 20
2.7. Quy trình của một bài học hợp tác ……………………………………. 26
2.8. Môi trường học tập và các nhiệm vụ quản lí …………………………. 37
2.9. Kiểm tra, đánh giá trong dạy học hợp tác …………………………… 38
2.10. Giáo án mẫu …………………………………………… 41
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiện sư phạm …………………………. 56
3.2. Nội dung thực nghiệm ………………………………………………… 56
3.3. Phương pháp thực nghiệm ……………………………………………. 57
3.4. Kết quả thực nghiệm …………………………………………………. 59
3.5. Kết luận chung về thực nghiệm sư phạm ………………………… … 67
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 75
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI cùng với sự phát triển của xã hội là sự bùng nổ
của cách mạng khoa học – công nghệ đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết đối với
sự nghiệp giáo dục đào tạo là phải đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp
giáo dục. Nghị quyết TW 2 khoá VIII (12/1996) đã xác định “phải đổi mới
phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ kiến thức một chiều,
rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các
phương pháp tiên tiến hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và
thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh”. Văn kiện Hội nghị lần thứ chín
Ban chấp hành TW khoá X tiếp tục khẳng định “Tập chung nâng cao chất
lượng giáo dục - đào tạo toàn diện, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [7].
Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng
của cải cách giáo dục nói chung và của cải cách bậc trung học phổ thông nói
riêng. Vài năm gần đây các trường trung học phổ thông đã có những cố gắng
trong việc đổi mới phương pháp dạy học và đã đạt được những tiến bộ trong
việc phát huy tính tích cực của học sinh. Tuy nhiên các phương pháp dạy học
truyền thống đặc biệt là phương pháp thuyết trình vẫn chiếm một vị trí chủ
đạo trong các phương pháp dạy học ở các trường THPT.
Định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục
mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng hình
thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động sáng tạo của người học. Đó
cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách phương pháp dạy học ở nhà
trường phổ thông hiện nay. Một trong những phương pháp đáp ứng được
những yêu cầu trên là dạy học hợp tác (DHHT). DHHT là mô hình dạy học
mà trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của giáo viên,
các hoạt động riêng biệt của từng cá nhân được liên kết với nhau trong hoạt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
động chung nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập. DHHT khơi dậy được tiềm
năng sáng tạo của học sinh, bên cạnh đó còn huy động và hội tụ tiềm năng trí
tuệ của cả tập thể. Vì vậy, DHHT vừa giúp học sinh nắm vững tri thức, vừa
giúp hình thành các kỹ năng tham gia thực hành xã hội.
Năm 2006, sách giáo khoa Sinh học 11 đã hoàn thiện và đưa vào chương
trình phổ thông. Tuy nhiên nội dung của sách sinh học 11 là nội dung khó nên
việc truyền đạt kiến thức cho học sinh sẽ gặp nhiều trở ngại. Vì vậy, trong quá
trình giảng dạy đa số giáo viên sẽ chọn các phương pháp dạy học truyền
thống. Nhưng nếu chỉ sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống sẽ
không phát huy được tính tích cực của học sinh.
Từ những lí do trên chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Vận dụng
dạy học hợp tác trong dạy học sinh học 11”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí thuyết của dạy học hợp tác để xây dựng cách tổ chức
bài học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học sinh học 11 ở trường
phổ thông.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu cơ sở lí thuyết và thực tiễn của dạy học hợp tác.
- Thiết kế và tổ chức bài học SH 11 theo dạy học hợp tác.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dạy học hợp tác trong dạy học SH 11 ở trường
THTP.
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học sinh học 11
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Sử dụng các phương pháp phân tích tổng
hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá nguồn tài liệu lí luận và thực tiễn có liên
quan để xây dựng cơ sở lí thuyết cho quá trình nghiên cứu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát hoạt động của giáo viên và học
sinh trong giờ học để tìm hiểu về thực trạng vận dụng dạy học hợp tác ở các
trường THPT.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm tại các
trường THPT để kiểm tra tính khả thi của phương án đã đề xuất.
Sử dụng phần mềm Excel xử lí các số liệu trước và sau thực nghiệm.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng phương pháp dạy học hợp tác một cách hợp lí thì chất
lượng dạy học sinh học 11 ở trường THPT có thể được nâng cao.
7. Những đóng góp của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận của dạy học hợp tác trong dạy học sinh
học.
- Xây dựng cách tổ chức bài học hợp tác góp phần nâng cao chất lượng dạy
học sinh học 11 – THPT.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận nội dung chính của luận văn được
trình bày trong 3 chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 2: Vận dụng dạy học hợp tác trong dạy học sinh học 11
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu dạy học hợp tác trên thế giới
Dạy học hợp tác là một trong các mô hình giảng dạy được sử dụng với
mục tiêu nhằm thúc đẩy học sinh học tập.
Dạy học hợp tác không phải rút ra từ lý thuyết của một cá nhân hoặc từ
một sự tiếp cận đơn lẻ tới việc học mà nguồn gốc của dạy học hợp tác là từ
người Hy Lạp. Sự phát triển của DHHT phải kể đến công lao của các nhà tâm
lý học giáo dục và các nhà lý luận giáo dục của thế kỷ XX.
Năm 1916, John Dewey (khi đó làm việc tại đại học Chicago) đã viết
một cuốn sách có tựa đề “Democracy and Education” (Nền dân chủ giáo
dục). Theo Dewey, lớp học phải phản ánh được xã hội rộng lớn và phải là một
phòng thí nghiệm cho việc học và cuộc sống thực tế. Khoa sư phạm của
Dewey yêu cầu giáo viên phải tạo ra trong môi trường học tập một hệ thống
xã hội có các quy tắc dân chủ. Trách nhiệm chủ yếu của GV là sắp xếp các
học sinh trong việc tìm hiểu những vấn đề giữa các cá nhân và xã hội. Các
quy tắc cho các lớp học cụ thể được mô tả bởi Dewey và những người kế tiếp
sau này là tập trung vào các nhóm học sinh giải quyết vấn đề để tìm câu trả
lời cho riêng mình và học các nguyên tắc dân chủ qua các hoạt động tương tác
hàng ngày [12], [39].
Nhiều năm sau (1954, 1960), Herbert Thelen cũng thuộc trường đại học
Chicago đã phát triển và chính xác hơn trong việc giúp học sinh làm việc theo
nhóm. Giống như Dewey, Thelen lập luận rằng lớp học sẽ là một thư viện
hoặc một nền dân chủ thu nhỏ nhằm mục đích nghiên cứu và tham gia vào các
vấn đề giữa cá nhân và xã hội. Thelen quan tâm tới sự năng động của nhóm,
tới tính chất giáo dục của việc điều tra theo nhóm. Từ đó mang lại khái niệm
cơ bản cho sự phát triển của dạy học hợp tác [37], [39].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Năm 1954, toà án tối cao Mỹ đã ra phán quyết mang tính lịch sử về dân
chủ trong giáo dục. Theo đó, toà án phán quyết rằng các trường công lập ở
Mỹ không thực hiện chính sách phân biệt chủng tộc mà phải thực hiện chính
sách bình đẳng. Điều này đã dẫn đến một loạt các hành động và quyết định kế
tiếp của các cơ quan hành pháp và lập pháp trên khắp đất nước yêu cầu các
quan chức phải đệ trình các kế hoạch cho việc xoá bỏ phân biệt chủng tộc
trong nhà trường.
Lúc bấy giờ các nhà lý luận tư tưởng và nhà quan sát đã cho rằng đặt
mọi người có hai lai lịch dân tộc, hoặc chủng tộc khác nhau trong cùng một vị
trí sẽ không làm mất đi sự thành kiến hoặc thúc đẩy sự liên kết, chấp nhận
giữa các nhóm. Ví dụ, trong một quán tự phục vụ vẫn có thể bắt gặp hình ảnh
học sinh da đen ngồi một bên, học sinh da trắng ngồi bên khác. Họ cũng đồng
thời nhận thấy rằng một cộng đồng có thể có sự hoà nhập cao nhưng vẫn có
những nhà hàng hoặc nhà thờ chỉ ưu tiên cho một nhóm người da đen hoặc da
trắng [39].
Gordon Allport, một nhà xã hội học hàng đầu lúc bấy giờ đã lập luận
rằng bản thân luật pháp không làm giảm được sự định kiến giữa các nhóm và
thúc đẩy các nhóm chấp nhận nhau. Năm 1984, Shlomo Sharan và các đồng
nghiệp ở trường đại học Tel Aviv (Isreal) dựa trên cơ sở của Allport đã tổng
kết ba điều kiện cơ bản về việc chống lại phân biệt chủng tộc: (1) Hoà giải,
tiếp xúc giữa các dân tộc (2) Tạo điều kiện địa vị công bằng giữa các thành
viên của các nhóm tham gia trong cùng một hoàn cảnh (3) Việc liên kết giữa
các nhóm dân tộc được thừa nhận.
Từ 3 điều kiện trên người ta đã quan tâm tới việc xây dựng những lớp
học, tiến trình dạy học khắc phục được nạn phân biêt chủng tộc; mô hình học
tập hợp tác đã được hình thành. Công việc của Sharan và các đồng nghiệp ở
Isreal là tìm ra con đường thúc đẩy sự hoà hợp giữa những người nhập cư Do
thái có nguồn gốc Châu Âu và những người có nguồn gốc Trung Đông. Công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
việc của Johnsons tại trường đại học Minesota là khám phá ra làm thế nào để
môi truờng học tập mang tính hợp tác có thể dẫn đến cách học tốt hơn và tích
cực hơn, học sinh từ các dân tộc chủng tộc khác nhau có xu hướng hoà nhập
với nhau hơn trong môi trường lớp học [39].
Những năm 60 của thế kỷ XX Carl Roger đã đưa ra chiến lược lấy học
sinh làm trung tâm bao gồm những hoạt động đa dạng để tạo lập và duy trì
bầu không khí tâm lý thuận lợi cho việc tiếp thu tri thức của học sinh [30].
Chiến lược này gồm:
- Tổ chức môi trường học tập thuận lợi, thích hợp cho sự đối thoại giữa thầy
giáo và học sinh, giữa học sinh với học sinh.
- Rút ngắn khoảng cách xã hội bằng cách lắng nghe nhau, trao đổi với nhau về
vấn đề học tập.
- Cho phép học sinh lựa chọn những phương pháp lập luận riêng, từ năng lực
cá nhân và giải quyết nhiệm vụ học tập.
- Lôi cuốn sự tham gia của mọi học sinh bằng cách tôn trọng những thắc mắc,
những ý kiến đối lập và sử dụng chúng để tạo sức đẩy cho bài học.
- Khuyến khích học sinh nói lên điều họ suy nghĩ và cách thức họ muốn làm,
cho phép họ xác lập các chuẩn đánh giá mức tiến bộ của mình.
Như vậy lý thuyết của Carl Rogers đã nêu ra là ngoài chức năng tiếp cận cá
nhân còn chú ý tới tác động của cá nhân thông qua sự hợp tác giữa các học sinh.
Cuộc sống ở thế kỷ XX được mô tả là một cộng đồng toàn cầu, một xã
hội phức tạp mà ở đó yêu cầu về mức độ hợp tác giữa các thành viên là rất
cao. Kết quả là phần lớn mọi người đều có những hành vi mang tính hợp tác
và tin tưởng rằng nó là một mục tiêu quan trọng mà giáo dục cần đạt được.
Rất nhiều các hoạt động ngoại khoá trong trường học chẳng hạn như đội thể
thao, các tác phẩm nhạc, kịch đã được dựa trên căn cứ này. Thế nhưng còn về
các hoạt động trong lớp học thì sao? Liệu các hoạt động hợp tác của học tập
hợp tác có ảnh hưởng đến hành vi hợp tác của học sinh?
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Sharan (1984) và các đồng nghiệp của ông đã tìm kiếm câu trả lời cho
những câu hỏi này trong suốt hơn một thập kỷ. Họ làm việc một cách miệt
mài nhằm tiếp cận cụ thể việc học mang tính hợp tác và thử nghiệm nó để
xem liệu việc sử dụng nó có cải thiện được mối quan hệ xã hội giữa những
người Do thái ở Isreal. Trong một nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã chỉ định
ngẫu nhiên 33 giáo viên tiếng Anh và văn học, chia thành ba nhóm tập huấn.
Các giáo viên nhóm 1 được dạy làm thế nào để hình thành kỹ năng cho
toàn bộ lớp học.
Các giáo viên thuộc nhóm 2 được dạy làm thế nào sử dụng việc phân
chia thành quả làm việc trong nhóm (STAD): mỗi tuần các giáo viên sử dụng
STAD giới thiệu các thông tin mới cho học sinh bằng miệng hoặc văn bản.
Học sinh trong lớp sẽ phân chia thành các đội gồm 4 hoặc 5 thành viên khác
nhau về giới tính, chủng tộc, dân tộc, học lực
Những giáo viên thuộc nhóm thứ 3 được dạy cách khảo sát trong nhóm
(GI): giáo viên phân lớp học thành các nhóm hỗn tạp gồm 5 hoặc 6 thành
viên, học sinh sẽ tham gia lập kế hoạch về chủ đề học tập và cả cách tiến hành
công việc điều tra.
Các nhà điều tra đã thu thập một khối lượng lớn các thông tin trước,
trong và sau quá trình thực nghiệm, bao gồm dữ liệu từ các thử nghiệm thành
công, quan sát lớp học và hành vi hợp tác của học sinh. Nghiên cứu của
Sharan chỉ rõ ra rằng các phương pháp chỉ dẫn ảnh hưởng tới hành vi cạnh
tranh hoặc hợp tác của học sinh. Mô hình điều tra theo nhóm (GI) tạo ra nhiều
hành vi hợp tác hơn so với việc giảng dạy cho toàn bộ lớp học hay phân chia
thành quả làm việc trong nhóm (STAD). Và STAD lại tạo ra nhiều hành vi
hơn việc dạy cả lớp. Trong một phân tích khác được tiến hành theo dữ liệu
này, Sharan và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng cách tiếp cận học mang tính
hợp tác đã làm tăng sự hợp tác giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
trong các nhóm để hoàn thành nhiệm vụ học tập hơn là giảng dạy trong toàn
bộ lớp học [35], [39].
Robert Slavin (1984) có viết: Các học sinh thường không đánh giá bạn
học có kết quả học tập tốt trong khi họ lạis đánh giá cao những bạn học có kết
quả vượt trội trong thể thao… Vì thành công trong thể thao mang lại lợi ích
cho nhóm (đội, trường, thị trấn), trong khi thành công trong học tập chỉ mang
tính cá nhân. Thực tế, trong một lớp học nếu sử dụng việc chấm điểm mang
tính cạnh tranh thì bất kì sự thành công của cá nhân nào đó sẽ làm giảm sự
thành công của các cá nhân khác. Slavin và đồng sự tin rằng học tập hợp tác
có thể thay đổi cách nhìn của giới trẻ và khiến học sinh dễ chấp nhận kết quả
học tập của mình hơn.
Hành vi hợp tác là một khía cạnh quan trọng của học hợp tác nó thúc
đẩy học sinh có trách nhiệm trong việc học tập của mình đồng thời thúc đẩy
các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm. Slavin (1986) đã tổng quan
các nghiên cứu và báo cáo rằng: trong 45 công trình nghiên cứu đã được thực
hiện từ năm 1972 đến năm 1986 điều tra về hiệu quả của cách học mang tính
hợp tác trong các môn học: ngôn ngữ, phát âm. địa lý, nghiên cứu khoa học,
toán học, tiếng anh ở các nước Mỹ, Israel, Nga và Đức có 37/45 nghiên cứu
cho thấy các lớp học mang tính hợp tác làm tốt hơn trong việc kiểm soát
nhóm học sinh và giành kết quả học tập cao hơn, 8 nghiên cứu còn lại cho
thấy không có sự khác biệt. Không một nghiên cứu nào phủ định lại những lợi
ích của việc học hợp tác mang lại [39].
1.2. Tình hình nghiên cứu về dạy học hợp tác ở Việt Nam
Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, ở thời kì chưa hình thành tổ chức nhà
trường, một giáo viên thường dạy cho một nhóm nhỏ học sinh có thể chênh
lệch nhau khá nhiều về lứa tuổi và trình độ. Điển hình là thầy đồ Nho ở nước
ta thời kì phong kiến dạy trong cùng một lớp từ đứa trẻ mới học Tam tự kinh
đến môn sinh đi thi tú tài, cử nhân. Trong kiểu dạy đó, thầy đồ nho bắt buộc
Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014
Du lịch Đà Nẵng - Quảng Nam tiềm năng, thực trạng và giải pháp .doc
và quần đảo Hoàng Sa nằm trọn giữa hai kinh tuyến 110 - 113 Đông, trong vùng
vĩ độ 15 45" - 17 07" Bắc.
Về danh giới hành chính, phía Bắc và Tây-Bắc Đà Nẵng - Quảng Nam giáp
với tỉnh Thừa Thiên -Huế; phía Tây giáp nớc bạn CHDCND Lào với 140 km đờng
biên giới; phía Tây-Nam giáp tỉnh Kom Tum; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía
Đông giáp biển Đông với hơn 150 km bờ biển.
Đà nẵng - Quảng Nam có tổng diện tích tự nhiên là 12.291,4 km2 (chiếm
khoảng 3,71% tổng diện tích tự nhiên của cả nớc), bao gồm 21 đơn vị hành chính,
trong đó:
- Thành phố Đà Nẵng với 5 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành
Sơn, Liên Chiểu và 2 huyện: Hoà Vang, huyện đảo Hoàng Sa.
- Tỉnh Quảng Nam với Thị xã Tam kỳ (tỉnh lỵ), thị xã Hội An, các huyện:
Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Thăng Bình, Quế Sơn, Tiên Phớc, Phớc Sơn,
Núi Thành, Hiên, Giằng, Trà Mi.
* Tầm quan trọng của vị trí địa lý Đà nẵng - Quảng Nam đối với Miền Trung
và cả nớc:
Đà nẵng - Quảng Nam là đầu mối của các trục giao thông Đông - Tây với hệ
thống đờng sắt, đờng bộ, đờng thuỷ, hàng không đồng bộ. Sân bay Đà Nẵng là sân
bay quốc tế đợc trang bị hiện đại, cảng Tiên Sa là một cảng du lịch kết hợp với
cảng Liên Chiểu, cảng Chu lai sẽ đặt Đà nẵng - Quảng Nam nằm trên tuyến đờng
hàng hải thuận lợi nối liền ấn Độ dơng và Thái Bình Dơng. Bên cạnh đó với triển
vọng của đờng bộ xuyên á nối Lào với đông Bắc Thái Lan, Đà Nẵng đã đợc coi là
"cánh cổng thứ 3 vào Đông Dơng".
Đà Nẵng - Quảng Nam là hành lang phát triển kinh tế, thơng mại và chuỗi đô
thị hạt nhân từ Liên Chiểu đến Dung Quất; là trung tâm giáo dục đào tạo, khoa học
công nghệ của miền Trung.
Đà Nẵng - Quảng Nam giữ vị trí chiến lợc trong an ninh, quốc phòng. Trong
chiến tranh, Đà Nẵng đã là nơi nổ súng và đổ bộ đầu tiên của Thực dân Pháp (năm
1858) và đến năm 1965, một lần nữa đế quốc Mỹ lại chọn Đà Nẵng để xây dựng
căn cứ hỗn hợp quân sự lớn nhất ở miền Trung, từ đó làm bàn đạp để đánh vào
Miền Nam Việt Nam.
Từ những lợi thế về vị trí địa lý, kinh tế, xã hội cùng với sự phong phú của tài
nguyên du lịch, đặc biệt là hai di sản văn hoá thế giới Đô thị cổ Hội An, Thánh địa
Mỹ Sơn lại liền kề với trung tâm du lịch Huế đã đem lại cho Đà Nẵng - Quảng Nam
vị trí đầu mối, trung tâm quan trọng về hoạt động du lịch. Đà Nẵng - Quảng Nam
trở thành nơi trung chuyển khách, nơi hội tụ du khách các nơi về dự hội thảo, hội
nghị, nghiên cứu và là trục giao lu chính trong các tuyến du lịch miền Trung.
1.2. Tài nguyên du lịch
1.2.1. Tài Nguyên du lịch tự nhiên
1.2.1.1. Địa hình.
* Đặc điểm chung địa hình Đà Nẵng - Quảng Nam.
Địa hình Đà Nẵng - Quảng Nam khá đa dạng, bao gồm: đồng bằng, đồi núi,
bờ bãi biển và hải đảo góp phần tạo nên sự phong phú về loại hình du lịch.
Nằm trong khu vực có sự chuyển tiếp giữa đồng bằng ven biển và miền núi
khá đột ngột, dãy Trờng Sơn chạy song song rất gần với biển, nên địa hình của Đà
Nẵng - Quảng Nam có sự kết hợp độc đáo giữa các dạng địa hình. Núi, biển, đồng
bằng không những làm cho cảnh quan thiên nhiên thêm phần hùng tráng mà Sự kết
hợp độc đáo này còn là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức liên kết theo không
gian các loại hình du lịch.
Nhìn chung, có thể chia lãnh thổ Đà Nẵng - Quảng Nam thành 2 khu vực nh
sau:
+ Đồng bằng ven biển _ chiếm 25% diện tích tự nhiên.
+ Đồi, núi (phía Tây, Tây Bắc và phía Nam) _ chiếm 75%.
Phía Bắc thành phố Đà Nẵng là dãy núi Hải Vân làm thành danh giới khí hậu, nh
bức tờng thành thiên nhiên quan trọng ngăn những đợt gió mạnh từ phơng Bắc tràn
về. Vì vậy, từ Đà Nẵng - Quảng Nam trở vào thời tiết hầu nh ấm áp quanh năm.
* Các dạng địa hình có giá trị đối với du lịch.
Điạ hình đồng bằng
Vùng đồng bằng ven biển và triền sông của Đà Nẵng - Quảng Nam là dạng địa
hình tơng đối bằng phẳng, địa hình ít biến đổi tập trung ở phía đông của 2 tỉnh,
thành phố. Do đặc điểm đồi núi ăn sát biển nên đồng bằng bị chia cắt và nhỏ hẹp.
Đây là vùng nông nghiệp, làng nghề thích hợp cho các loại hình du lịch làng quê,
Địa hình đồi núi
Vùng núi Đà Nẵng - Quảng Nam đợc nâng lên mạnh vào tân kiến tạo, chạy
theo hớng Tây Đông. Cấu trúc tơng đối phức tạp (phần lớn là đá Granit, đá biến
chất, và một số đơn thể đá hoa cơng ở Ngũ Hành Sơn _ Đà Nẵng). Địa hình đồi núi
đã đem lại cho Đà Nẵng - Quảng Nam nhiều thắng cảnh đẹp, rất có giá trị. Đèo Hải
Vân cao 500m nằm trải dài theo sờn núi Hải Vân (dài khoảng 20km) đợc tạo thành
do các nhánh núi đâm ngang có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ đã đợc mệnh danh:"
Thiên hạ đệ nhất hùng quan". Bà Nà là một vùng núi non trùng điệp ở phía Tây
thành phố Đà Nẵng dựa lng vào dãy Trờng Sơn, trên đỉnh có địa hình bằng phẳng
nh một vùng cao nguyên nhỏ. Đứng trên đỉnh Bà Nà, du khách có thể ngắm đợc
cảnh núi sông nh đang bồng bềnh giữa đám mây trôi, bởi mây chỉ ở lng chừng núi
mà trên đỉnh cao trời luôn quang rạng. Ngũ Hành Sơn lại nằm ngay trong lòng đồng
bằng Quảng Nam Đà Nẵng với 5 ngọn núi đá hoa cơng mang tên Kim, Thuỷ, Thổ,
Hoả, Mộc có truyền thuyết rất thú vị về sự hình thành. Núi Sơn Trà có cảnh trí đẹp
nhô ra biển, cùng với Ngũ Hành Sơn tạo nên sự tơng phản sâu sắc với đồng bằng.
K Khu vực đồi núi cao của Đà Nẵng - Quảng Nam nhìn chung còn hoang
dã, nhng với cảnh quan thiên nhiên miền núi nh vậy Đà Nẵng - Quảng Nam rất có
triển vọng phát triển loại hình du lịch núi với các hoạt động tham quan, nghỉ dỡng,
du lịch sinh thái, du lịch thể thao leo núi, du lịch mạo hiểm. Tuy nhiên cũng cần
phải quy hoạch hợp lí để đảm bảo tính bền vững.
Địa hình bờ bãi biển:
Khu vực bờ bãi biển của Đà Nẵng - Quảng Nam dài hơn 150km (trong đó ở
địa phận của tỉnh Quảng Nam là 125km). Dới tác động của nội lực, quá trình san
bằng đã làm cho các bãi cát nối liền lại với nhau tạo cho vùng nhiều bãi tắm đẹp
liên tục kéo dài: Nam Ô - Xuân Thiều, Mỹ Khê, Mỹ An, Non Nớc, Cửa Đại. Ngoài
ra Quảng Nam còn có các bãi biển nh Tam Thanh, Bãi Rạng, Kỳ Hà rất có giá trị.
Phần lớn các bãi biển đều thoải, bằng phẳng có độ dốc trung bình 2 ữ 3 , cát
trắng, khá mịn, có đờng kính 0,119 mm ữ 0,281 mm, tỉ lệ nhiễm bẩn xạ nhỏ:1- 4%.
Địa hình đáy ven bờ ít phức tạp, độ dốc nhỏ (1%), đáy nhiều cát trắng và xám, nhất
là từ Sơn Trà đến Cửa Đại. Bờ bãi biển Đà Nẵng - Quảng Nam cùng với bờ bãi biển
của Thừa Thiên Huế đã đợc đánh giá là 1 trong 5 khu vực có tiềm năng du lịch biển
lớn của nớc ta.
Địa hình bờ bãi biển với nhiều bãi tắm đẹp, tạo thuận lợi cho Đà Nẵng -
Quảng Nam trong phát triển các loại hình du lịch biển, nghỉ ngơi, an dỡng, lặn
biển
* Cù Lao Chàm nằm cách Cửa Đại gần 18 km về phía Đông- Đông bắc gồm 1
nhóm đảo nhỏ nối sát nhau. Trung tâm nhóm đảo là hòn đảo lớn nhất gọi là Cù Lao
Chàm, trên đảo có núi cao tới 518 m gồm 3 ngọn: Ngọc Long, Tiên Bút và Bất Lao.
Đứng trên cù lao Chàm nhìn lên phía bắc cách 4km là hòn La, nhìn sang phía Tây
bắc 6 km là một nhóm đảo gồm Hòn Khô Lớn, Hòn Khô Nhỏ, Hòn Dài, Hòn Mận.
Còn ngay phía Tây chỉ cách 1 km là Hòn Lôi; và phía nam cách không đầy 3 km là
Hòn én với 1 đặc sản quý tổ yến. Cù lao chàm với phong cảnh đẹp, động thực vật
đặc trng có thể làm hài lòng Du khách tới thăm.
Tại đây có thể phát triển các loại hình du lịch nh tham quan, nghỉ ngơi, giải trí,
tắm biển, lặn biển, du thuyền
1.2.1.2. Khí hậu
Khí hậu Đà Nẵng - Quảng Nam mang tính chất nhiệt đới gió mùa và là nơi
đánh dấu sự chuyển tiếp giữa hai vùng khí hậu khác biệt: miền Bắc và miền Nam
Việt Nam.
Khí hậu phân hoá theo không gian và thời gian tạo nên 2 dạng khí hậu rõ rệt,
khí hậu nhiệt đới ven biển (ở các vùng đồng bằng ven biển) và một ít khí hậu ôn đới
vùng cao (khu vực Bà Nà_ Đà Nẵng và vùng núi phía Tây Quảng Nam). Mùa hạ
của Đà Nẵng - Quảng Nam kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 với đặc trng thời tiết hầu
nh khô ráo, nóng, cuối mùa thờng có bão. Mùa đông kéo dài từ tháng 10 đến tháng
4 năm sau. Trong mùa đông có thể phân thành thời kỳ chính đông, thời kỳ chuyển
tiếp từ hạ sang đông và thời kỳ chuyển tiếp từ đông sang hạ.
Chế độ nhiệt
Chế độ nhiệt của Đà Nẵng - Quảng Nam là sản phẩm quan trọng của loại hình
nhiệt đới gió mùa của một lãnh thổ nằm khá sâu trong khu vực nội chí tuyến trên bờ
biển Đông. Đó là một nền nhiệt độ cao bắt nguồn từ sự tiếp nhận một lợng bức xạ
mặt trời phong phú, khá đồng đều quanh năm. Tổng nhiệt trung bình quanh năm
>9300 C, v ợt xa tiêu chuẩn nhiệt đới (7500-9500 C). Tổng l ợng bức xạ trung bình
đạt 234 Kcal/cm
2
/năm, cán cân bức xạ trong các tháng đều có trị số dơng, hằng
năm tổng số giờ nắng đo đợc tại Đà Nẵng là 2161 và 2381 tại Quảng Nam. Thời kỳ
nhiều nắng nhất thờng từ tháng 5 -7, trung bình khoảng 244h (Đà Nẵng) và khoảng
252h (Quảng Nam); tháng ít nắng nhất là tháng 12, khoảng >100h. Trong đó lợng
mây tổng quan (theo 10 phần bầu trời) cũng khá lớn (Đà Nẵng: 5,4/năm, Tam Kỳ:
6,5/năm).
Với tổng lợng bức xạ, cán cân bức xạ và số giờ nắng nh trên nên đã tạo ra một
nền nhiệt độ cao dần từ bắc xuống Nam. Tại Đà Nẵng - Quảng Nam nhiệt độ trung
bình năm đạt từ 25ữ26 C, tháng lạnh nhất (tháng 1): 21 ữ22 C, tháng nóng nhất
(Tháng 6-7): 28 ữ30 C. Biên độ dao động nhiệt cũng khá cao, có thể đạt tới 7 ữ
9 C trong mùa hè và khoảng 4 ữ 6 C vào mùa đông.
Bảng: Nhiệt độ không khí trung bình tháng và Năm (C)
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB năm
Đà Nẵng 21 22 24 26 28 29 29 29 27 26 24 21 23,5
Tam Kỳ 21 23 25 27 28 29 29 29 27 26 24 21 25,6
Nguồn: Trạm dự báo và phục vụ KTTV ĐN, QN.
Chế độ ẩm
Bảng: Độ ẩm tơng đối (%) trung bình tháng và năm.
Địa
điểm
Tháng
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Năm
Đà Nẵng 86 86 86 84 82 77 76 78 84 85 86 86 83
Tam Kỳ 86 86 83 81 77 79 75 76 82 86 88 87 82
Nguồn: Trạm dự báo và phục vụ KTTV ĐN, QN.
Độ ẩm không khí tại Đà Nẵng - Quảng Nam khá cao. Trung bình trong năm
trên toàn lãnh thổ hai tỉnh, thành phố độ ẩm đạt từ 82 % - 83 %. Ngay cả trong
mùa hè độ ẩm trung bình tháng cũng đạt không dới 76 %. Thời kỳ có độ ẩm thấp
kéo dài từ tháng 6- tháng 8 với trị số trung bình là 76-78. Từ tháng 9 đến tháng 12,
thời kỳ ma nhiều, là thời kỳ ẩm ớt nhất trong năm, độ ẩm tăng từ 84-88.
L ợng m a.
Điều kiện địa lý, địa hình và cơ chế hoàn lu đã chi phối toàn bộ cơ chế hình
thành và phân bố lợng ma của Đà Nẵng - Quảng Nam. Tổng lợng ma trung bình
hằng năm > 2000 mm ở những vùng đồng bằng và có thể lên tới > 4000 mm ở
những vùng núi. Tổng lợng ma tăng dần về phía Bắc Đà Nẵng, phía Tây Nam và
tăng theo độ cao. Vùng Bà Nà (Đà Nẵng) và Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) là một
trung tâm ma lớn của khu vực và của cả nớc (Trung bình năm trên 5000 mm).
Bảng: Lợng ma trung bình tháng và năm (mm)
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
TB năm
Đà Nẵng
92 33 23 27 61 87 85 103 350 613 366 199 2044,5
Tam Kỳ 73 25 8 40 95 182 68 114 264 693 659 312 2531,5
Nguồn: Trạm dự báo và phục vụ KTTV ĐN, QN.
Đà Nẵng - Quảng Nam không những có lợng ma lớn mà cờng độ ma cũng rất
lớn. Số ngày ma trung bình năm là 149 ngày. Thờng những tháng có lợng ma nhiều
là những tháng có số ngày ma nhiều. Cờng độ ma tập chung vào những tháng đầu
mùa ma nh tháng 9, tháng 10. Những ngày ma lớn, tổng lợng ma lên tới 500-600
mm, dễ gây ra lũ lụt.
Chế độ gió
Gió là một yếu tố thời tiết không những bị cơ chế hoàn lu chi phối, mà còn
chịu tác động mạnh của điều kiện địa hình. Hớng gió tại Đà Nẵng - Quảng Nam t-
ơng đối phân tán, tần suất các hớng thay đổi theo thời gian.
Gió mùa là một trong những đặc trng cơ bản của khí hậu Đà Nẵng - Quảng
Nam. Tuy có gió mùa tây nam thổi vào mùa hạ nhng rất ít. ở những nơi có độ cao
trên 500 m hầu nh không chịu ảnh hởng của gió mùa Tây nam. Gió mùa đông bắc
thổi nhiều vào mùa đông, sức gió trung bình hằng tháng từ 1,5-2,3m/s. Vào thòi kỳ
chuyển tiếp giữa hai mùa thờng có gió Đông và Đông Nam đem lại thời tiết ấm,
khô ráo cho mùa đông và mát mẻ cho mùa hè.
Mùa ma ở miền Trung nói chung và Đà Nẵng - Quảng Nam nói riêng thờng
hay có bão và gió lớn (thờng tập chung vào khoảng thời gian từ tháng 10-12, vận
tốc gió có thể lên tới 50 m/s. Trong đó tháng 10 hằng năm hầu nh đều có gió lớn với
vận tốc > 10 m/s và tháng 5 là có ít gió mạnh.
Khí hậu đối với việc hình thành các mùa du lịch với các loại hình du lịch
Với đặc điểm khí hậu nh trên, Đà Nẵng - Quảng Nam có khả năng phát triển tốt
các loại hình du lịch biển do nền nhiệt độ cao, số giờ nắng trong ngày nhiều, tập
trung vào các tháng mùa hạ. Tổ chức đợc loại du lịch núi vì có khí hậu ôn đới ở khu
vực núi cao. Tuy nhiên vào những thời điểm xảy ra các hiện tợng thời tiết bất thờng
nh lũ lụt, ma to, bão có thể gây ách tắc giao thông, hạn chế các hoạt động tham
quan ngoài trời và gây khó chịu cho du khách.
Diễn biến về điều kiện khí hậu có thể cho thấy ngoài các tháng có lợng ma và
gió lớn (tháng 9,10,11) thì khoảng thời gian còn lại đều đợc xem là mùa thích hợp
cho các loại du lịch hiện có. Đối với loại du lịch nghỉ biển thì mùa du lịch chính vẫn
là từ tháng 4 đến tháng 7 (thòi gian này độ sâu của biển, gió, nhiệt độ của nớc đều
thích hợp).
Thực tế diễn biến số lợng khách du lịch đến Đà Nẵng - Quảng Nam qua các
tháng trong năm cho thấy phần nào phù hợp với phân tích trên đây. Tuy nhiên, cờng
độ thấp nhất vẫn là khoảng tháng 1,2,9,10; cao nhất vào tháng3,4,7,8. Tháng 5
thuộc mùa du lịch chính nhng nhu cầu du lịch lại giảm. Nh vậy khí hậu chỉ là một
trong những nhân tố ảnh hởng đến thời vụ du lịch. Nhất là đối với vùng có điều kiện
khí hậu hầu nh phù hợp với các thể loại du lịch phát triển quanh năm thì các mùa du
lịch chính chủ yếu vẫn do sự tập chung nhu cầu của khách quyết định.
Bảng: Tổng hợp mức độ thuận lợi của khí hậu trong năm đối với hoạt động du lịch
Đà Nẵng - Quảng Nam.
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Mức độ
thuận lợi
Thuận lợi ít thuận lợi
1.2.1.3. Nguồn nớc.
* N ớc mặt
Mạng lới sông ngòi
Mạng lới sông ngòi của Đà Nẵng - Quảng Nam đều bắt nguồn từ phía Tây và
Tây Bắc, Tây Nam của tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Sông ngòi đều
mang đặc điểm chung của sông ngòi Việt Nam đó là đặc điểm của sông ngòi một
miền núi dốc, phản ánh cấu trúc của địa hình; lu lợng nớc lớn, nhiều phù sa; thuỷ
chế theo sát nhịp điệu mùa khô và ma của khí hậu. Trên địa bàn Đà Nẵng - Quảng
Nam có các hệ thống sông chính nh sau:
Sông Hàn là hạ lu của sông Vu Gia. Sông Vu Gia gồm nhiều sông nhánh hợp
thành, trong đó có 3 nhánh chính là sông Cái, sông Bung và sông Con (đều nằm
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam). Chiều dài của sông tính từ thợng nguồn sông cái đến
Đà Nẵng là 204 km. Tổng diện tích lu vực tính đến Giao Thuỷ (Quảng Nam) là
5180 km
2
. Sông Vu Gia chảy đến ái Nghĩa phân làm 2 nhánh, một nhánh đa nớc
sông Vu GIa qua sông Quảng Huế đổ về sông Thu Bồn, nhánh thứ 2 chảy về đồng
bằng và tiếp tục chia thành nhiều nhánh nhỏ rồi tiếp tục đổ về sông Hàn, chảy ra
vịnh Đà Nẵng.
Sông Cu Đê (dài 38 km, tổng diện tích lu vực là 426 km2) nằm phía Bắc thành
phố Đà Nẵng, là hợp lu của 2 sông Bắc (dài 23 km) và sông Nam (dài 47 km). Hạ lu
sông Cu Đê thờng xuyên bị nhiễm mặn, trong mùa khô gần 1/ 2 chiều dài sông bị
nhiễm mặn.
Hệ thống sông Thu Bồn (diện tích lu vực10350 km2) và chiều dài dòng chảy
là 205 km). Hệ thống sông có tới 80 phụ lu thuộc 4 cấp, trong đó có những sông lớn
nh sông Cái, sông Bung. Sông Thu bồn là sông đẹp nhất của Đà Nẵng - Quảng
Nam, chứa đựng nhiều thắng cảnh. Bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Lĩnh cao 2598m, chảy
qua các vùng ghềnh đá cheo leo trên vùng núi phía Tây nam, hoà cùng sông Tiên,
sông Tranh tại vùng Quế Tân, tăng thêm lu lợng rồi chảy qua lớp sơn thạch ở Hòn
Kẽm Đá Dừng, đa phù sa bồi đắp cho các vùng Quế Sơn, Đại Lộc, Duy Xuyên, đặc
biệt là vùng Điện Bàn. Tại đây phân thành 2 hớng: Nhánh chính ở hớng Bắc với tên
Thu Bồn, nhánh nhỏ hơn ở hớng Nam là sông Bà Rén. Gần đến biển, 2 nhánh sông
này lại gặp nhau để hoà với dòng Trờng Giang, Qua phố cổ Hội An, đổ ra Cửa Đại.
Từ sông Hàn (Đà Nẵng) có thể đến sông Thu Bồn bằng cách ngợc dòng Cẩm lệ để
qua sông đào Vĩnh Điện.
Ngoài ra còn có các hệ thống sông Tam kỳ, sông Trờng Giang
Bảng: Độ dài sông ngòi Đà Nẵng - Quảng Nam có thể phục vụ du lịch (đv: km)
Tên sông Độ dài dòng chính Độ dài có thể khai thác
- Sông Hàn
- Thu Bồn
- Vu Gia
- Trờng Giang
- Vĩnh Điện
- Cẩm lệ
- Bà Rén
- Tam kỳ
- Trờng Định
- Các sông
còn lại
32
97
85
66
32
30
32
17
30
122
32
41
23
66
32
20
32
7
20
11
Tổng số 543 284
Nguồn Sở Du lịch Đà Nẵng- Sở TM-DL Quảng Nam
Có thể thấy mạng lới sông ngòi của Đà Nẵng - Quảng Nam phân bố khá đều,
chủ yếu chảy theo hớng Tây, Tây nam đến Bắc, Đông Bắc. Bắt nguồn từ các dãy núi
phía Tây, phần trung và hạ nguồn của các sông thờng chảy quanh co qua các vùng
có cảnh quan đẹp, các làng quê, thành phố, thị xã trớc khi đổ ra biển. Đây là điều
kiện thuận lợi để tổ chức các tuyến du lịch trên sông.
Hiện nay nguồn nớc mặt đang có xu hớng ô nhiễm. Kết quả phân tích mẫu nớc
tại cửa sông Hàn cho thấy các chỉ tiêu lý hoá đều vợt mức tiêu chuẩn cho phép
nhiều lần.
Nguồn nớc mặt của Đà Nẵng và Quảng Nam không chỉ có trong các sông mà
còn có các hồ chứa nớc nh: Hồ Đồng Nghệ (Hoà Vang), Hồ Thuỷ điện Duy Sơn
rộng 200 ha (Duy Xuyên), Hồ Giang Thơm (Núi Thành), Hồ Phú Ninh (Tam Kỳ_
hồ chứa nớc lớn nhất có diện tích 2300 ha, với dung tích chứa nớc là 273 triệu m
3
),
Hồ thuỷ lợi Tân Khe (Đại Lộc) rộng 340 ha, dung lợng nớc bình quân 54 triệu m
3
;
Hồ thuỷ lợi Việt An (Hiệp Đức)
Các hồ này ngoài giá trị phục vụ cho sinh hoạt của nhân dân địa phơng thì còn
có giá trị phục vụ du lịch bởi cảnh quan núi đồi rất đẹp, khí hậu mát mẻ cùng với hệ
động thực vật phong phú, thích hợp cho loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dỡng, đặc
biệt là Hồ Phú Ninh.
Ngoài ra, Đà Nẵng và Quảng Nam còn có hệ thống suối, thác nớc đẹp cũng rất
có giá trị đối với hoạt động du lịch nh Suối Tiên, Đèo Le-Suối Nớc Mát (Quế Sơn),
suối Mơ, Khe Lim (Đại Lộc),Thác Grăng (Giằng), Khe Cái (Hiệp Đức), Suối Nớc
Lan (Phớc Sơn)
* N ớc ngầm
Theo kết quả thăm dò của Liên đoàn địa chất thuỷ văn 708 và Đoàn địa chất
thuỷ văn miền Nam 500N, nguồn nớc ngầm có điều kiện khai thác thuận lợi của Đà
Nẵng và Quảng Nam đợc phân bố nh sau:
Khu vực ven biển từ Đà Nẵng đến Hội An có tầng nớc chứa Holoxen khá
phong phú, cách mặt đất từ 10-34m. Đây là loại nớc ngầm nhạt có hàm lợng Clor
nhỏ (23,05ữ35,46g/l) nhng độ khoáng hoá cao (0,72ữ0,9g/l).
Khu vực từ Ngũ Hành Sơn đến Hoà Khơng có tầng chứa nớc khe nứt và nớc
Karst. ở Văn Xá và Ngũ Hành Sơn nguồn nớc này có hàm lợng Clor và độ khoáng
hoá thấp, nớc nhạt, trong suốt, không mùi, có độ dày chứa nớc lớn. Với nguồn nớc
ngầm nh trên có khả năng bổ xung cho nguồn nớc mặt ngày càng có xu hớng bị ô
nhiễm.
Khu vực phía Tây Bắc và Đà Nẵng và Tây Nam Tam kỳ một số mạch nớc
khoáng nóng có giá trị nh: nguồn nớc khoáng Phớc Nhơn (Hoà Vang - Đà Nẵng)
gần hồ Đồng Nghệ có nhiệt độ 43 C; nguồn n ớc khoáng Phú Ninh (Tam Kỳ -
Quảng Nam) nhiệt độ đo đợc tại cửa suối là 90 C, hàm l ợng khoáng chất cao, lu l-
ợng 0,5m
3
/s; nguồn nớc nóng Tây Viên (Quế Sơn - Quảng Nam) nhiệt độ khoảng
87 C chứa nhiều khoáng chất chữa bệnh.
vĩ độ 15 45" - 17 07" Bắc.
Về danh giới hành chính, phía Bắc và Tây-Bắc Đà Nẵng - Quảng Nam giáp
với tỉnh Thừa Thiên -Huế; phía Tây giáp nớc bạn CHDCND Lào với 140 km đờng
biên giới; phía Tây-Nam giáp tỉnh Kom Tum; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía
Đông giáp biển Đông với hơn 150 km bờ biển.
Đà nẵng - Quảng Nam có tổng diện tích tự nhiên là 12.291,4 km2 (chiếm
khoảng 3,71% tổng diện tích tự nhiên của cả nớc), bao gồm 21 đơn vị hành chính,
trong đó:
- Thành phố Đà Nẵng với 5 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành
Sơn, Liên Chiểu và 2 huyện: Hoà Vang, huyện đảo Hoàng Sa.
- Tỉnh Quảng Nam với Thị xã Tam kỳ (tỉnh lỵ), thị xã Hội An, các huyện:
Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Thăng Bình, Quế Sơn, Tiên Phớc, Phớc Sơn,
Núi Thành, Hiên, Giằng, Trà Mi.
* Tầm quan trọng của vị trí địa lý Đà nẵng - Quảng Nam đối với Miền Trung
và cả nớc:
Đà nẵng - Quảng Nam là đầu mối của các trục giao thông Đông - Tây với hệ
thống đờng sắt, đờng bộ, đờng thuỷ, hàng không đồng bộ. Sân bay Đà Nẵng là sân
bay quốc tế đợc trang bị hiện đại, cảng Tiên Sa là một cảng du lịch kết hợp với
cảng Liên Chiểu, cảng Chu lai sẽ đặt Đà nẵng - Quảng Nam nằm trên tuyến đờng
hàng hải thuận lợi nối liền ấn Độ dơng và Thái Bình Dơng. Bên cạnh đó với triển
vọng của đờng bộ xuyên á nối Lào với đông Bắc Thái Lan, Đà Nẵng đã đợc coi là
"cánh cổng thứ 3 vào Đông Dơng".
Đà Nẵng - Quảng Nam là hành lang phát triển kinh tế, thơng mại và chuỗi đô
thị hạt nhân từ Liên Chiểu đến Dung Quất; là trung tâm giáo dục đào tạo, khoa học
công nghệ của miền Trung.
Đà Nẵng - Quảng Nam giữ vị trí chiến lợc trong an ninh, quốc phòng. Trong
chiến tranh, Đà Nẵng đã là nơi nổ súng và đổ bộ đầu tiên của Thực dân Pháp (năm
1858) và đến năm 1965, một lần nữa đế quốc Mỹ lại chọn Đà Nẵng để xây dựng
căn cứ hỗn hợp quân sự lớn nhất ở miền Trung, từ đó làm bàn đạp để đánh vào
Miền Nam Việt Nam.
Từ những lợi thế về vị trí địa lý, kinh tế, xã hội cùng với sự phong phú của tài
nguyên du lịch, đặc biệt là hai di sản văn hoá thế giới Đô thị cổ Hội An, Thánh địa
Mỹ Sơn lại liền kề với trung tâm du lịch Huế đã đem lại cho Đà Nẵng - Quảng Nam
vị trí đầu mối, trung tâm quan trọng về hoạt động du lịch. Đà Nẵng - Quảng Nam
trở thành nơi trung chuyển khách, nơi hội tụ du khách các nơi về dự hội thảo, hội
nghị, nghiên cứu và là trục giao lu chính trong các tuyến du lịch miền Trung.
1.2. Tài nguyên du lịch
1.2.1. Tài Nguyên du lịch tự nhiên
1.2.1.1. Địa hình.
* Đặc điểm chung địa hình Đà Nẵng - Quảng Nam.
Địa hình Đà Nẵng - Quảng Nam khá đa dạng, bao gồm: đồng bằng, đồi núi,
bờ bãi biển và hải đảo góp phần tạo nên sự phong phú về loại hình du lịch.
Nằm trong khu vực có sự chuyển tiếp giữa đồng bằng ven biển và miền núi
khá đột ngột, dãy Trờng Sơn chạy song song rất gần với biển, nên địa hình của Đà
Nẵng - Quảng Nam có sự kết hợp độc đáo giữa các dạng địa hình. Núi, biển, đồng
bằng không những làm cho cảnh quan thiên nhiên thêm phần hùng tráng mà Sự kết
hợp độc đáo này còn là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức liên kết theo không
gian các loại hình du lịch.
Nhìn chung, có thể chia lãnh thổ Đà Nẵng - Quảng Nam thành 2 khu vực nh
sau:
+ Đồng bằng ven biển _ chiếm 25% diện tích tự nhiên.
+ Đồi, núi (phía Tây, Tây Bắc và phía Nam) _ chiếm 75%.
Phía Bắc thành phố Đà Nẵng là dãy núi Hải Vân làm thành danh giới khí hậu, nh
bức tờng thành thiên nhiên quan trọng ngăn những đợt gió mạnh từ phơng Bắc tràn
về. Vì vậy, từ Đà Nẵng - Quảng Nam trở vào thời tiết hầu nh ấm áp quanh năm.
* Các dạng địa hình có giá trị đối với du lịch.
Điạ hình đồng bằng
Vùng đồng bằng ven biển và triền sông của Đà Nẵng - Quảng Nam là dạng địa
hình tơng đối bằng phẳng, địa hình ít biến đổi tập trung ở phía đông của 2 tỉnh,
thành phố. Do đặc điểm đồi núi ăn sát biển nên đồng bằng bị chia cắt và nhỏ hẹp.
Đây là vùng nông nghiệp, làng nghề thích hợp cho các loại hình du lịch làng quê,
Địa hình đồi núi
Vùng núi Đà Nẵng - Quảng Nam đợc nâng lên mạnh vào tân kiến tạo, chạy
theo hớng Tây Đông. Cấu trúc tơng đối phức tạp (phần lớn là đá Granit, đá biến
chất, và một số đơn thể đá hoa cơng ở Ngũ Hành Sơn _ Đà Nẵng). Địa hình đồi núi
đã đem lại cho Đà Nẵng - Quảng Nam nhiều thắng cảnh đẹp, rất có giá trị. Đèo Hải
Vân cao 500m nằm trải dài theo sờn núi Hải Vân (dài khoảng 20km) đợc tạo thành
do các nhánh núi đâm ngang có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ đã đợc mệnh danh:"
Thiên hạ đệ nhất hùng quan". Bà Nà là một vùng núi non trùng điệp ở phía Tây
thành phố Đà Nẵng dựa lng vào dãy Trờng Sơn, trên đỉnh có địa hình bằng phẳng
nh một vùng cao nguyên nhỏ. Đứng trên đỉnh Bà Nà, du khách có thể ngắm đợc
cảnh núi sông nh đang bồng bềnh giữa đám mây trôi, bởi mây chỉ ở lng chừng núi
mà trên đỉnh cao trời luôn quang rạng. Ngũ Hành Sơn lại nằm ngay trong lòng đồng
bằng Quảng Nam Đà Nẵng với 5 ngọn núi đá hoa cơng mang tên Kim, Thuỷ, Thổ,
Hoả, Mộc có truyền thuyết rất thú vị về sự hình thành. Núi Sơn Trà có cảnh trí đẹp
nhô ra biển, cùng với Ngũ Hành Sơn tạo nên sự tơng phản sâu sắc với đồng bằng.
K Khu vực đồi núi cao của Đà Nẵng - Quảng Nam nhìn chung còn hoang
dã, nhng với cảnh quan thiên nhiên miền núi nh vậy Đà Nẵng - Quảng Nam rất có
triển vọng phát triển loại hình du lịch núi với các hoạt động tham quan, nghỉ dỡng,
du lịch sinh thái, du lịch thể thao leo núi, du lịch mạo hiểm. Tuy nhiên cũng cần
phải quy hoạch hợp lí để đảm bảo tính bền vững.
Địa hình bờ bãi biển:
Khu vực bờ bãi biển của Đà Nẵng - Quảng Nam dài hơn 150km (trong đó ở
địa phận của tỉnh Quảng Nam là 125km). Dới tác động của nội lực, quá trình san
bằng đã làm cho các bãi cát nối liền lại với nhau tạo cho vùng nhiều bãi tắm đẹp
liên tục kéo dài: Nam Ô - Xuân Thiều, Mỹ Khê, Mỹ An, Non Nớc, Cửa Đại. Ngoài
ra Quảng Nam còn có các bãi biển nh Tam Thanh, Bãi Rạng, Kỳ Hà rất có giá trị.
Phần lớn các bãi biển đều thoải, bằng phẳng có độ dốc trung bình 2 ữ 3 , cát
trắng, khá mịn, có đờng kính 0,119 mm ữ 0,281 mm, tỉ lệ nhiễm bẩn xạ nhỏ:1- 4%.
Địa hình đáy ven bờ ít phức tạp, độ dốc nhỏ (1%), đáy nhiều cát trắng và xám, nhất
là từ Sơn Trà đến Cửa Đại. Bờ bãi biển Đà Nẵng - Quảng Nam cùng với bờ bãi biển
của Thừa Thiên Huế đã đợc đánh giá là 1 trong 5 khu vực có tiềm năng du lịch biển
lớn của nớc ta.
Địa hình bờ bãi biển với nhiều bãi tắm đẹp, tạo thuận lợi cho Đà Nẵng -
Quảng Nam trong phát triển các loại hình du lịch biển, nghỉ ngơi, an dỡng, lặn
biển
* Cù Lao Chàm nằm cách Cửa Đại gần 18 km về phía Đông- Đông bắc gồm 1
nhóm đảo nhỏ nối sát nhau. Trung tâm nhóm đảo là hòn đảo lớn nhất gọi là Cù Lao
Chàm, trên đảo có núi cao tới 518 m gồm 3 ngọn: Ngọc Long, Tiên Bút và Bất Lao.
Đứng trên cù lao Chàm nhìn lên phía bắc cách 4km là hòn La, nhìn sang phía Tây
bắc 6 km là một nhóm đảo gồm Hòn Khô Lớn, Hòn Khô Nhỏ, Hòn Dài, Hòn Mận.
Còn ngay phía Tây chỉ cách 1 km là Hòn Lôi; và phía nam cách không đầy 3 km là
Hòn én với 1 đặc sản quý tổ yến. Cù lao chàm với phong cảnh đẹp, động thực vật
đặc trng có thể làm hài lòng Du khách tới thăm.
Tại đây có thể phát triển các loại hình du lịch nh tham quan, nghỉ ngơi, giải trí,
tắm biển, lặn biển, du thuyền
1.2.1.2. Khí hậu
Khí hậu Đà Nẵng - Quảng Nam mang tính chất nhiệt đới gió mùa và là nơi
đánh dấu sự chuyển tiếp giữa hai vùng khí hậu khác biệt: miền Bắc và miền Nam
Việt Nam.
Khí hậu phân hoá theo không gian và thời gian tạo nên 2 dạng khí hậu rõ rệt,
khí hậu nhiệt đới ven biển (ở các vùng đồng bằng ven biển) và một ít khí hậu ôn đới
vùng cao (khu vực Bà Nà_ Đà Nẵng và vùng núi phía Tây Quảng Nam). Mùa hạ
của Đà Nẵng - Quảng Nam kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 với đặc trng thời tiết hầu
nh khô ráo, nóng, cuối mùa thờng có bão. Mùa đông kéo dài từ tháng 10 đến tháng
4 năm sau. Trong mùa đông có thể phân thành thời kỳ chính đông, thời kỳ chuyển
tiếp từ hạ sang đông và thời kỳ chuyển tiếp từ đông sang hạ.
Chế độ nhiệt
Chế độ nhiệt của Đà Nẵng - Quảng Nam là sản phẩm quan trọng của loại hình
nhiệt đới gió mùa của một lãnh thổ nằm khá sâu trong khu vực nội chí tuyến trên bờ
biển Đông. Đó là một nền nhiệt độ cao bắt nguồn từ sự tiếp nhận một lợng bức xạ
mặt trời phong phú, khá đồng đều quanh năm. Tổng nhiệt trung bình quanh năm
>9300 C, v ợt xa tiêu chuẩn nhiệt đới (7500-9500 C). Tổng l ợng bức xạ trung bình
đạt 234 Kcal/cm
2
/năm, cán cân bức xạ trong các tháng đều có trị số dơng, hằng
năm tổng số giờ nắng đo đợc tại Đà Nẵng là 2161 và 2381 tại Quảng Nam. Thời kỳ
nhiều nắng nhất thờng từ tháng 5 -7, trung bình khoảng 244h (Đà Nẵng) và khoảng
252h (Quảng Nam); tháng ít nắng nhất là tháng 12, khoảng >100h. Trong đó lợng
mây tổng quan (theo 10 phần bầu trời) cũng khá lớn (Đà Nẵng: 5,4/năm, Tam Kỳ:
6,5/năm).
Với tổng lợng bức xạ, cán cân bức xạ và số giờ nắng nh trên nên đã tạo ra một
nền nhiệt độ cao dần từ bắc xuống Nam. Tại Đà Nẵng - Quảng Nam nhiệt độ trung
bình năm đạt từ 25ữ26 C, tháng lạnh nhất (tháng 1): 21 ữ22 C, tháng nóng nhất
(Tháng 6-7): 28 ữ30 C. Biên độ dao động nhiệt cũng khá cao, có thể đạt tới 7 ữ
9 C trong mùa hè và khoảng 4 ữ 6 C vào mùa đông.
Bảng: Nhiệt độ không khí trung bình tháng và Năm (C)
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB năm
Đà Nẵng 21 22 24 26 28 29 29 29 27 26 24 21 23,5
Tam Kỳ 21 23 25 27 28 29 29 29 27 26 24 21 25,6
Nguồn: Trạm dự báo và phục vụ KTTV ĐN, QN.
Chế độ ẩm
Bảng: Độ ẩm tơng đối (%) trung bình tháng và năm.
Địa
điểm
Tháng
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Năm
Đà Nẵng 86 86 86 84 82 77 76 78 84 85 86 86 83
Tam Kỳ 86 86 83 81 77 79 75 76 82 86 88 87 82
Nguồn: Trạm dự báo và phục vụ KTTV ĐN, QN.
Độ ẩm không khí tại Đà Nẵng - Quảng Nam khá cao. Trung bình trong năm
trên toàn lãnh thổ hai tỉnh, thành phố độ ẩm đạt từ 82 % - 83 %. Ngay cả trong
mùa hè độ ẩm trung bình tháng cũng đạt không dới 76 %. Thời kỳ có độ ẩm thấp
kéo dài từ tháng 6- tháng 8 với trị số trung bình là 76-78. Từ tháng 9 đến tháng 12,
thời kỳ ma nhiều, là thời kỳ ẩm ớt nhất trong năm, độ ẩm tăng từ 84-88.
L ợng m a.
Điều kiện địa lý, địa hình và cơ chế hoàn lu đã chi phối toàn bộ cơ chế hình
thành và phân bố lợng ma của Đà Nẵng - Quảng Nam. Tổng lợng ma trung bình
hằng năm > 2000 mm ở những vùng đồng bằng và có thể lên tới > 4000 mm ở
những vùng núi. Tổng lợng ma tăng dần về phía Bắc Đà Nẵng, phía Tây Nam và
tăng theo độ cao. Vùng Bà Nà (Đà Nẵng) và Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) là một
trung tâm ma lớn của khu vực và của cả nớc (Trung bình năm trên 5000 mm).
Bảng: Lợng ma trung bình tháng và năm (mm)
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
TB năm
Đà Nẵng
92 33 23 27 61 87 85 103 350 613 366 199 2044,5
Tam Kỳ 73 25 8 40 95 182 68 114 264 693 659 312 2531,5
Nguồn: Trạm dự báo và phục vụ KTTV ĐN, QN.
Đà Nẵng - Quảng Nam không những có lợng ma lớn mà cờng độ ma cũng rất
lớn. Số ngày ma trung bình năm là 149 ngày. Thờng những tháng có lợng ma nhiều
là những tháng có số ngày ma nhiều. Cờng độ ma tập chung vào những tháng đầu
mùa ma nh tháng 9, tháng 10. Những ngày ma lớn, tổng lợng ma lên tới 500-600
mm, dễ gây ra lũ lụt.
Chế độ gió
Gió là một yếu tố thời tiết không những bị cơ chế hoàn lu chi phối, mà còn
chịu tác động mạnh của điều kiện địa hình. Hớng gió tại Đà Nẵng - Quảng Nam t-
ơng đối phân tán, tần suất các hớng thay đổi theo thời gian.
Gió mùa là một trong những đặc trng cơ bản của khí hậu Đà Nẵng - Quảng
Nam. Tuy có gió mùa tây nam thổi vào mùa hạ nhng rất ít. ở những nơi có độ cao
trên 500 m hầu nh không chịu ảnh hởng của gió mùa Tây nam. Gió mùa đông bắc
thổi nhiều vào mùa đông, sức gió trung bình hằng tháng từ 1,5-2,3m/s. Vào thòi kỳ
chuyển tiếp giữa hai mùa thờng có gió Đông và Đông Nam đem lại thời tiết ấm,
khô ráo cho mùa đông và mát mẻ cho mùa hè.
Mùa ma ở miền Trung nói chung và Đà Nẵng - Quảng Nam nói riêng thờng
hay có bão và gió lớn (thờng tập chung vào khoảng thời gian từ tháng 10-12, vận
tốc gió có thể lên tới 50 m/s. Trong đó tháng 10 hằng năm hầu nh đều có gió lớn với
vận tốc > 10 m/s và tháng 5 là có ít gió mạnh.
Khí hậu đối với việc hình thành các mùa du lịch với các loại hình du lịch
Với đặc điểm khí hậu nh trên, Đà Nẵng - Quảng Nam có khả năng phát triển tốt
các loại hình du lịch biển do nền nhiệt độ cao, số giờ nắng trong ngày nhiều, tập
trung vào các tháng mùa hạ. Tổ chức đợc loại du lịch núi vì có khí hậu ôn đới ở khu
vực núi cao. Tuy nhiên vào những thời điểm xảy ra các hiện tợng thời tiết bất thờng
nh lũ lụt, ma to, bão có thể gây ách tắc giao thông, hạn chế các hoạt động tham
quan ngoài trời và gây khó chịu cho du khách.
Diễn biến về điều kiện khí hậu có thể cho thấy ngoài các tháng có lợng ma và
gió lớn (tháng 9,10,11) thì khoảng thời gian còn lại đều đợc xem là mùa thích hợp
cho các loại du lịch hiện có. Đối với loại du lịch nghỉ biển thì mùa du lịch chính vẫn
là từ tháng 4 đến tháng 7 (thòi gian này độ sâu của biển, gió, nhiệt độ của nớc đều
thích hợp).
Thực tế diễn biến số lợng khách du lịch đến Đà Nẵng - Quảng Nam qua các
tháng trong năm cho thấy phần nào phù hợp với phân tích trên đây. Tuy nhiên, cờng
độ thấp nhất vẫn là khoảng tháng 1,2,9,10; cao nhất vào tháng3,4,7,8. Tháng 5
thuộc mùa du lịch chính nhng nhu cầu du lịch lại giảm. Nh vậy khí hậu chỉ là một
trong những nhân tố ảnh hởng đến thời vụ du lịch. Nhất là đối với vùng có điều kiện
khí hậu hầu nh phù hợp với các thể loại du lịch phát triển quanh năm thì các mùa du
lịch chính chủ yếu vẫn do sự tập chung nhu cầu của khách quyết định.
Bảng: Tổng hợp mức độ thuận lợi của khí hậu trong năm đối với hoạt động du lịch
Đà Nẵng - Quảng Nam.
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Mức độ
thuận lợi
Thuận lợi ít thuận lợi
1.2.1.3. Nguồn nớc.
* N ớc mặt
Mạng lới sông ngòi
Mạng lới sông ngòi của Đà Nẵng - Quảng Nam đều bắt nguồn từ phía Tây và
Tây Bắc, Tây Nam của tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Sông ngòi đều
mang đặc điểm chung của sông ngòi Việt Nam đó là đặc điểm của sông ngòi một
miền núi dốc, phản ánh cấu trúc của địa hình; lu lợng nớc lớn, nhiều phù sa; thuỷ
chế theo sát nhịp điệu mùa khô và ma của khí hậu. Trên địa bàn Đà Nẵng - Quảng
Nam có các hệ thống sông chính nh sau:
Sông Hàn là hạ lu của sông Vu Gia. Sông Vu Gia gồm nhiều sông nhánh hợp
thành, trong đó có 3 nhánh chính là sông Cái, sông Bung và sông Con (đều nằm
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam). Chiều dài của sông tính từ thợng nguồn sông cái đến
Đà Nẵng là 204 km. Tổng diện tích lu vực tính đến Giao Thuỷ (Quảng Nam) là
5180 km
2
. Sông Vu Gia chảy đến ái Nghĩa phân làm 2 nhánh, một nhánh đa nớc
sông Vu GIa qua sông Quảng Huế đổ về sông Thu Bồn, nhánh thứ 2 chảy về đồng
bằng và tiếp tục chia thành nhiều nhánh nhỏ rồi tiếp tục đổ về sông Hàn, chảy ra
vịnh Đà Nẵng.
Sông Cu Đê (dài 38 km, tổng diện tích lu vực là 426 km2) nằm phía Bắc thành
phố Đà Nẵng, là hợp lu của 2 sông Bắc (dài 23 km) và sông Nam (dài 47 km). Hạ lu
sông Cu Đê thờng xuyên bị nhiễm mặn, trong mùa khô gần 1/ 2 chiều dài sông bị
nhiễm mặn.
Hệ thống sông Thu Bồn (diện tích lu vực10350 km2) và chiều dài dòng chảy
là 205 km). Hệ thống sông có tới 80 phụ lu thuộc 4 cấp, trong đó có những sông lớn
nh sông Cái, sông Bung. Sông Thu bồn là sông đẹp nhất của Đà Nẵng - Quảng
Nam, chứa đựng nhiều thắng cảnh. Bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Lĩnh cao 2598m, chảy
qua các vùng ghềnh đá cheo leo trên vùng núi phía Tây nam, hoà cùng sông Tiên,
sông Tranh tại vùng Quế Tân, tăng thêm lu lợng rồi chảy qua lớp sơn thạch ở Hòn
Kẽm Đá Dừng, đa phù sa bồi đắp cho các vùng Quế Sơn, Đại Lộc, Duy Xuyên, đặc
biệt là vùng Điện Bàn. Tại đây phân thành 2 hớng: Nhánh chính ở hớng Bắc với tên
Thu Bồn, nhánh nhỏ hơn ở hớng Nam là sông Bà Rén. Gần đến biển, 2 nhánh sông
này lại gặp nhau để hoà với dòng Trờng Giang, Qua phố cổ Hội An, đổ ra Cửa Đại.
Từ sông Hàn (Đà Nẵng) có thể đến sông Thu Bồn bằng cách ngợc dòng Cẩm lệ để
qua sông đào Vĩnh Điện.
Ngoài ra còn có các hệ thống sông Tam kỳ, sông Trờng Giang
Bảng: Độ dài sông ngòi Đà Nẵng - Quảng Nam có thể phục vụ du lịch (đv: km)
Tên sông Độ dài dòng chính Độ dài có thể khai thác
- Sông Hàn
- Thu Bồn
- Vu Gia
- Trờng Giang
- Vĩnh Điện
- Cẩm lệ
- Bà Rén
- Tam kỳ
- Trờng Định
- Các sông
còn lại
32
97
85
66
32
30
32
17
30
122
32
41
23
66
32
20
32
7
20
11
Tổng số 543 284
Nguồn Sở Du lịch Đà Nẵng- Sở TM-DL Quảng Nam
Có thể thấy mạng lới sông ngòi của Đà Nẵng - Quảng Nam phân bố khá đều,
chủ yếu chảy theo hớng Tây, Tây nam đến Bắc, Đông Bắc. Bắt nguồn từ các dãy núi
phía Tây, phần trung và hạ nguồn của các sông thờng chảy quanh co qua các vùng
có cảnh quan đẹp, các làng quê, thành phố, thị xã trớc khi đổ ra biển. Đây là điều
kiện thuận lợi để tổ chức các tuyến du lịch trên sông.
Hiện nay nguồn nớc mặt đang có xu hớng ô nhiễm. Kết quả phân tích mẫu nớc
tại cửa sông Hàn cho thấy các chỉ tiêu lý hoá đều vợt mức tiêu chuẩn cho phép
nhiều lần.
Nguồn nớc mặt của Đà Nẵng và Quảng Nam không chỉ có trong các sông mà
còn có các hồ chứa nớc nh: Hồ Đồng Nghệ (Hoà Vang), Hồ Thuỷ điện Duy Sơn
rộng 200 ha (Duy Xuyên), Hồ Giang Thơm (Núi Thành), Hồ Phú Ninh (Tam Kỳ_
hồ chứa nớc lớn nhất có diện tích 2300 ha, với dung tích chứa nớc là 273 triệu m
3
),
Hồ thuỷ lợi Tân Khe (Đại Lộc) rộng 340 ha, dung lợng nớc bình quân 54 triệu m
3
;
Hồ thuỷ lợi Việt An (Hiệp Đức)
Các hồ này ngoài giá trị phục vụ cho sinh hoạt của nhân dân địa phơng thì còn
có giá trị phục vụ du lịch bởi cảnh quan núi đồi rất đẹp, khí hậu mát mẻ cùng với hệ
động thực vật phong phú, thích hợp cho loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dỡng, đặc
biệt là Hồ Phú Ninh.
Ngoài ra, Đà Nẵng và Quảng Nam còn có hệ thống suối, thác nớc đẹp cũng rất
có giá trị đối với hoạt động du lịch nh Suối Tiên, Đèo Le-Suối Nớc Mát (Quế Sơn),
suối Mơ, Khe Lim (Đại Lộc),Thác Grăng (Giằng), Khe Cái (Hiệp Đức), Suối Nớc
Lan (Phớc Sơn)
* N ớc ngầm
Theo kết quả thăm dò của Liên đoàn địa chất thuỷ văn 708 và Đoàn địa chất
thuỷ văn miền Nam 500N, nguồn nớc ngầm có điều kiện khai thác thuận lợi của Đà
Nẵng và Quảng Nam đợc phân bố nh sau:
Khu vực ven biển từ Đà Nẵng đến Hội An có tầng nớc chứa Holoxen khá
phong phú, cách mặt đất từ 10-34m. Đây là loại nớc ngầm nhạt có hàm lợng Clor
nhỏ (23,05ữ35,46g/l) nhng độ khoáng hoá cao (0,72ữ0,9g/l).
Khu vực từ Ngũ Hành Sơn đến Hoà Khơng có tầng chứa nớc khe nứt và nớc
Karst. ở Văn Xá và Ngũ Hành Sơn nguồn nớc này có hàm lợng Clor và độ khoáng
hoá thấp, nớc nhạt, trong suốt, không mùi, có độ dày chứa nớc lớn. Với nguồn nớc
ngầm nh trên có khả năng bổ xung cho nguồn nớc mặt ngày càng có xu hớng bị ô
nhiễm.
Khu vực phía Tây Bắc và Đà Nẵng và Tây Nam Tam kỳ một số mạch nớc
khoáng nóng có giá trị nh: nguồn nớc khoáng Phớc Nhơn (Hoà Vang - Đà Nẵng)
gần hồ Đồng Nghệ có nhiệt độ 43 C; nguồn n ớc khoáng Phú Ninh (Tam Kỳ -
Quảng Nam) nhiệt độ đo đợc tại cửa suối là 90 C, hàm l ợng khoáng chất cao, lu l-
ợng 0,5m
3
/s; nguồn nớc nóng Tây Viên (Quế Sơn - Quảng Nam) nhiệt độ khoảng
87 C chứa nhiều khoáng chất chữa bệnh.
Đánh giá rủi ro kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Deloitte Việt Nam
Luận văn tốt nghiệp
là bất ngờ trong tương lai. Bên cạnh đó, các định nghĩa này cũng ám chỉ
những cấp độ hay mức độ rủi ro khác nhau. Ngoài ra các định nghĩa đều nói
đến hậu quả do một hay nhiều nguyên nhân gây ra. Điều này dường như có mối
quan hệ chặt chẽ với định nghĩa mà chúng ta đã sử dụng trước đó, theo định
nghĩa này rủi ro là không chắc chắn về hậu quả trong một tình huống cụ thể.
Tại Việt Nam, từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Sài Gòn xuất bản
năm 2005 giải thích: “Rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến”.
Và theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2003 thì: “Rủi ro là hậu
quả gây thiệt hại ít nhiều có thể dự kiến được của một hành vi mà việc thực
hiện không chỉ phụ thuộc vào ý chí của các bên đương sự. Người thực hiện
hành vi phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gây nên cho người kia”. Từ điển
Thuật ngữ Kiểm toán - Kế toán Nhà xuất bản Thống kê xuất bản năm 2002
cho rằng: “Rủi ro là khả năng bị thua lỗ hay bị tổn hại có thể đo lường được.
Rủi ro khác với bất trắc ở chỗ sự bất trắc không thể đo lường được.”
Trên thực tế, các hoạt động kinh tế thường gặp những rủi ro đặc trưng.
Mỗi ngành nghề có một rủi ro riêng, chẳng hạn: rủi ro hối đoái, rủi ro đầu tư,
rủi ro kinh doanh,… và kiểm toán cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Rủi ro hối đoái là rủi ro do biến động về tỷ giá gây ra. Rủi ro này
thường có đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Doanh nghiệp có thể gặp rủi ro khi không chắc chắn về một khoản thu nhập
hoặc chi trả do sự biến động về tỷ giá gây ra.
Rủi ro đầu tư là rủi ro khi tiến hành hoạt động đầu tư (như đầu tư vào
thị trường chứng khoán, đầu tư vào thị trường bất động sản,…). Rủi ro đầu tư
là cao khi các nhà đầu tư không lường trước được các khả năng có thể xảy ra
và các nhân tố tác động.
Rủi ro kinh doanh là các khả năng có thể xảy ra khi tiến hành hoạt động
kinh doanh. Bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào cũng có thể xảy ra rủi ro.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
5
Luận văn tốt nghiệp
Trong lĩnh vực kiểm toán, có khá nhiều loại rủi ro được đề cập đến
như: rủi ro kinh doanh, rủi ro kiểm toán, rủi ro chọn mẫu…
Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà KTV sẽ kết luận là các BCTC được trình
bày trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu, và do đó một ý kiến
chấp nhận toàn phần sẽ được công bố, trong khi, trên thực tế chúng bị sai sót
trọng yếu.
Rủi ro chọn mẫu và rủi ro không chọn mẫu là hai loại rủi ro có thể ảnh
hưởng đến các bộ phận của rủi ro kiểm toán.
Rủi ro kinh doanh (engagement risk) là rủi ro mà KTV và công ty
kiểm toán sẽ phải chịu thiệt hại vì mối quan hệ với khách hàng cho dù báo
cáo kiểm toán cung cấp cho khách hàng là đúng, là rủi ro liên quan đến trách
nhiệm của KTV bao gồm ba nhân tố:
- Những vấn đề liên quan đến khách hàng, ví dụ: tình hình tài
chính, khả năng thu lợi nhuận và danh tiếng của khách hàng
trong tương lai, đặc điểm và tính chính trực của ban quản lý và
của người chủ doanh nghiệp khách hàng trong tương lai.
- Những vấn đề liên quan đến kinh doanh, ví dụ: rủi ro chi phí
(liệu có bất kỳ lí do nào cho thất bại trong kiểm toán hay
không) như việc thực hiện chi trả các phí và liệu việc hợp tác
của ta với một khách hàng nào đó trong tương lai có gây tác hại
cho hình ảnh của công ty chúng ta xét về mặt chuyên môn hay
không.
- Những vấn đề liên quan đến kiểm toán, ví dụ: những khó khăn
dự kiến trong việc thu lượm bằng chứng kiểm toán
Qua đó ta thấy sự khác nhau cơ bản giữa rủi ro kiểm toán và rủi ro kinh
doanh. Sự kiểm soát chặt chẽ rủi ro kiểm toán là yếu tố chủ yếu của quá trình
kiểm soát rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán. Do đó, trong các loại rủi
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
6
Luận văn tốt nghiệp
ro trên thì rủi ro kiểm toán là rủi ro được đề cập đến nhiều nhất và quan trọng
nhất.
Theo Nguyên tắc Kiểm toán Quốc tế Số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm
toán”, trong Mục 9 Liên đoàn Kiểm toán Quốc tế soạn thảo định nghĩa rủi ro
kiểm toán như sau: “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà KTV có thể mắc
phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và
đó là các sai sót nghiêm trọng. Ví dụ KTV có thể đưa ra ý kiến chấp nhận
toàn bộ về một BCTC mà không biết rằng các báo cáo này có những sai phạm
nghiêm trọng”.
Ở Việt Nam, kiểm toán ra đời tương đối muộn. Tuy nhiên, những
chuẩn mực về kiểm toán được ban hành kịp thời phục vụ cho quá trình phát
triển của kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA – 400)
“Đánh giá rủi ro và kiểm toán nội bộ” đã giải thích rủi ro kiểm toán như sau:
“Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý
kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán vẫn
còn chứa đựng những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ
phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”
Trong thực tế, bất kì cuộc kiểm toán nào cũng chứa đựng và tồn tại rủi
ro. Rủi ro luôn có nguy cơ xảy ra cho dù các kiểm toán viên và công ty kiểm
toán đã chuẩn bị chu đáo cho cuộc kiểm toán. Trong mọi cuộc kiểm toán,
người ta không đảm bảo chắc chắn 100% các báo cáo tài chính đã kiểm toán
không còn chứa đựng các sai phạm trọng yếu. Vì vậy, trong các cuộc kiểm
toán, kiểm toán viên chỉ có thể kì vọng một mức rủi ro kiểm toán có thể chấp
nhận được và mở mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được kiểm toán viên sẽ
đảm bảo các sai sót trọng yếu không có cơ hội xảy ra. Do đó khái niệm rủi ro
kiểm toán mong muốn thường được các kiểm toán viên sử dụng.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
7
Luận văn tốt nghiệp
Ở tất cả các công ty kiểm toán và trong mọi cuộc kiểm toán, vấn đề xác
định rủi ro kiểm toán mong muốn là cần thiết và quan trọng. Có xác định
được rủi ro kiểm toán mong muốn kiểm toán viên mới có những cơ sở để xác
định được mức trọng yếu có thể chấp nhận. Rủi ro kiểm toán luôn được kiểm
toán viên và công ty kiểm toán xác định trước khi lập kế hoạch và thực hiện
kiểm toán. Xác định rủi ro kiểm toán trước khi lập kế hoạch và thực hiện
kiểm toán nhằm mục đích: Tìm hiểu đánh giá sơ bộ về khách hàng, xem xét
có thể cung cấp dịch vụ cho khách hàng và hỗ trợ cho việc lập kế hoạch kiểm
toán.
Trong thực tế, rủi ro kiểm toán thường xảy ra do giới hạn về mặt quản
lý, về kiểm toán, mà trực tiếp là chi phí kiểm toán (số lượng bằng chứng cần
thu thập). Thậm chí, ngay cả khi bằng chứng kiểm toán đã đủ thì rủi ro kiểm
toán vẫn có khả năng xảy ra. Chi phí kiểm toán (số lượng bằng chứng kiểm
toán) và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau. Số lượng bằng
chứng kiểm toán càng lớn thì rủi ro kiểm toán càng thấp và tiến dần về mức
rủi ro kiểm toán mong muốn.
1.1.2 Các loại rủi ro kiểm toán
Thứ nhất, Rủi ro tiềm tàng
Rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại những sai phạm trong bản thân của
các đối tượng kiểm toán mà chưa tính đến bất kì một sự tác động nào của hoạt
động kiểm toán kể cả hệ thống kiểm soát nội bộ.
Nguyên tắc Kiểm toán Quốc tế Số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm toán”
cho rằng: “Rủi ro tiềm tàng là những yếu điểm của số dư tài khoản hoặc của
một loại nghiệp vụ, đối với những sai sót này có thể đơn lẻ hoặc có thể kết
hợp với các sai sót ở những số dư, các nghiệp vụ khác (ở đây giả định là
không có các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan). Rủi ro tiềm tàng nằm
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
8
Luận văn tốt nghiệp
trong chức năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong môi trường
kinh doanh cũng như trong bản chất của số dư tài khoản hoặc các nghiệp vụ”.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) “Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ” cho rằng: “Rủi ro tiềm tàng là loại rủi ro tiềm ẩn, vốn có do
khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng
những sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không
có hệ thống kiểm soát nội bộ.”
Như vậy, về bản chất, rủi ro tiềm tàng là mức độ mà KTV ước tính là
có một sai số cao hơn mức có thể chấp nhận trong một bộ phận trước khi xét
đến tính hiệu quả của các quá trình kiểm soát nội bộ về kế toán. Mức độ rủi ro
tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh doanh của khách thể kiểm
toán, loại hình kinh doanh và năng lực nhân viên của khách thể kiểm toán.
Mức rủi ro này còn tuỳ thuộc vào đặc điểm từng loại tài sản, nghiệp vụ. KTV
không tạo ra, cũng không kiểm soát được rủi ro tiềm tàng mà họ chỉ có thể
đánh giá chúng. Rủi ro tiềm tàng có quan hệ tỉ lệ thuận với số lượng bằng
chứng kiểm toán cần thu thập. Có nghĩa là nếu rủi ro tiềm tàng càng cao thì số
lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập càng nhiều và ngược lại.
Thứ hai, Rủi ro kiểm soát
Rủi ro kiểm soát là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
không phát hiện, không ngăn chặn và không thể sửa chữa kịp thời các sai
phạm có tính chất trọng yếu. Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra các sai phạm
có tính chất trọng yếu. Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra các sai phạm trọng
yếu do hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động
hiệu quả do đó đã không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm này. Rủi ro
kiểm soát có liên quan mật thiết đến sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội
bộ của khách hàng. Cũng như rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên không thể tạo
ra và kiểm soát được rủi ro kiểm soát, KTV chỉ có thể thông qua tìm hiểu hệ
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
9
Luận văn tốt nghiệp
thống kiểm soát nội bộ của khách hàng qua đó đưa ra đánh giá mức độ rủi ro
kiểm soát.
Văn bản chỉ đạo Kiểm toán Quốc tế Số 25 Mục 14 cho rằng: “Rủi ro
kiểm soát là rủi ro xác định sai, nó có thể xảy ra đối với một số dư tài khoản
hoặc nghiệp vụ và cũng có thể là sai sót nghiêm trọng. Những sai sót này xảy
ra đơn lẻ hoặc được kết hợp với các sai sót của các số dư, hoặc các nghiệp vụ
khác mà hệ thống kiểm soát nội bộ đã không ngăn chặn hoặc không phát hiện
kịp thời. Rủi ro kiểm soát luôn xuất hiện và khó tránh khỏi những hạn chế có
tính bản chất của bất kì một hệ thống kiểm soát nội bộ nào”
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA – 400) “Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ” cho rằng “Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng
yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính
riêng rẽ hoặc gộp lại mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không
ngăn chặn hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời”
Như vậy rủi ro kiểm soát là mức độ mà KTV ước tính là có sai số cao
hơn mức có thể chấp nhận trong một bộ phận mà cơ cấu kiểm soát nội bộ của
khách hàng không ngăn chặn được. Rủi ro kiểm soát là loại rủi ro có liên quan
đến sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ. Cơ cấu kiểm soát nội bộ của
khách hàng càng hiệu quả thì rủi ro kiểm soát càng thấp và ngược lại.
Rủi ro kiểm soát có mối quan hệ tỉ lệ thuận với số lượng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập và quan hệ tỉ lệ nghịch với rủi ro phát hiện. Rủi ro
kiểm toán luôn luôn xuất hiện và khó tránh khỏi do những hạn chế cố hữu của
bất kì hệ thống kiểm soát nội bộ nào.
Thứ 3, Rủi ro phát hiện
Theo cách đơn giản, rủi ro phát hiện là loại rủi ro liên quan đến khả
năng các thủ tục kiểm toán do kiểm toán viên và các công ty kiểm toán đã tiến
hành nhưng không phát hiện được các sai phạm trọng yếu.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
10
Luận văn tốt nghiệp
Văn bản chỉ đạo Kiểm toán Quốc tế Số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm
toán” cho rằng: “Rủi ro phát hiện là những rủi ro mà kiểm toán viên không
phát hiện ra các sai sót hiện có trong các số dư tài khoản, các loại nghiệp vụ.
Các sai sót này là có thể là các sai sót nghiêm trọng xảy ra đơn lẻ hoặc có thể
kết hợp với các sai sót trong số dư các nghiệp vụ khác. Mức rủi ro phát hiện
có quan hệ trực tiếp với những phương pháp của kiểm toán viên.”
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA – 400) “Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ” cho rằng: “Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng
yếu trong từng nghiệp vụ và từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính
riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, KTV và công ty kiểm
toán không phát hiện được.”
Những yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro phát hiện như sau:
Thứ nhất: Các bước kiểm toán không thích hợp. Điều này xảy ra với
các kiểm toán viên thiếu kinh nghiệm hoặc quá trình lập kế hoạch kiểm toán
không được thực hiện một cách đúng đắn, khiến cho việc thực hiện các quy
trình kiểm toán đối với mỗi phần hành trở nên không hợp lí;
Thứ hai: Kiểm toán viên đã tìm được bằng chứng, nhưng do không tìm
được nguyên nhân gây sai sót dẫn đến kết luận sai về bản chất của khoản mục
hoặc nghiệp vụ đó;
Thứ ba: Các báo cáo tài chính bản thân cũng chứa đựng các sai sót,
nhưng sự sai sót đó là do bên trong doanh nghiệp đã có sự thông đồng để làm
sai các chính sách làm cho kiểm toán viên càng khó phát hiện hơn các sai
phạm.
Rủi ro phát hiện là mức độ mà KTV sẵn sàng chấp nhận là bằng chứng
kiểm toán phải thu thập cho một bộ phận sẽ không phát hiện ra các sai số cao
hơn có thể chấp nhận, nếu những sai sót đó tồn tại. Như vậy, rủi ro phát hiện
có nguyên nhân bắt nguồn trực tiếp từ nội dung, thời gian và phạm vi của các
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
11
Luận văn tốt nghiệp
thử nghiệm do KTV thực hiện. Mức rủi ro phát hiện sẽ giảm xuống nếu KTV
tăng các thử nghiệm chi tiết trên số dư hoặc nghiệp vụ, mở rộng phạm vi kiểm
tra hoặc tăng cường cỡ mẫu của các thử nghiệm. Do đó, ngược lại với rủi ro
tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV phải có trách nhiệm thực hiện các thủ tục
thu thập bằng chứng kiểm toán nhằm quản lý rủi ro phát hiện. Một số rủi ro
phát hiện sẽ thường vẫn xảy ra cho dù có kiểm tra 100% các số dư và các loại
nghiệp vụ vì KTV có thể lựa chọn và áp dụng các phương pháp kiểm toán
không phù hợp, áp dụng sai các phương pháp kiểm toán thích hợp, hoặc giải
thích sai hay nhận định sai các kết quả kiểm toán.
1.1.3 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro – Mô hình rủi ro kiểm toán
Rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện là những bộ phận
cấu thành rủi ro kiểm toán, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát là hai loại rủi ro tồn tại độc lập, khách quan,
kiểm toán viên không tạo ra và cũng không thể kiểm soát được chúng. Kiểm
toán viên chỉ có thể thông qua thu thập bằng chứng kiểm toán tại đơn vị
khách hàng và bằng kinh nghiệm của mình để đánh giá mức độ của chúng.
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mức độ lớn hay nhỏ phụ thuộc rất lớn
vào ngành nghề kinh doanh cũng như môi trường pháp lí mà khách hàng đang
hoạt động. Không những thế, hai loại rủi ro này còn phụ thuộc vào bản chất
của các số dư tài khoản và nghiệp vụ kinh tế đặc thù tương ứng với ngành
nghề kinh doanh của khách hàng. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mối
quan hệ tỷ lệ nghịch nên trong các cuộc kiểm toán, kiểm toán viên thường kết
hợp cùng một lúc đánh giá mức độ của hai loại rủi ro này. Ngược lại, KTV có
thể kiểm soát được rủi ro phát hiện thông qua việc điều chỉnh nội dung, thời
gian và phạm vi của các thử nghiệm. Do vậy, cần phải thiết kế các thủ tục
kiểm toán hợp lý để giảm thấp rủi ro kiểm toán như mức mong muốn với chi
phí hợp lý.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
12
Luận văn tốt nghiệp
Mối quan hệ giữa rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện
với rủi ro kiểm toán được thể hiện qua mô hình rủi ro kiểm toán như sau:
DAR = IR x CR x DR (1)
Trong đó:
DAR: Rủi ro kiểm toán
IR: Rủi ro tiềm tàng
CR: Rủi ro kiểm soát
DR: Rủi ro phát hiện
Các loại rủi ro kiểm toán có thể được đánh giá cụ thể bằng các con số
theo tỷ lệ phần trăm hoặc được đánh giá một cách khái quát theo yếu tố định
tính như: thấp, trung bình, cao.
Hai mô hình trên có cùng bản chất và giá trị song mô hình (2) được ưa
chuộng hơn để xác định rủi ro phát hiện và số lượng bằng chứng thích hợp.
1.1.4 Vai trò của đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài
chính
Rủi ro kiểm toán chủ yếu được KTV xác định trong giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA – 400) “Đánh
giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” đã quy định: “Rủi ro kiểm toán được xác định
trước khi lập kế hoạch kiểm toán và trước khi thực hiện kiểm toán”.
Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, KTV cần đánh giá tổng thể rủi
ro kiểm toán căn cứ vào hiểu biết của KTV về đặc điểm kinh doanh của khách
hàng cũng như tìm hiểu về ngành nghề, quản lý môi trường kiểm soát và hoạt
động. Sự đánh giá như vậy cung cấp thông tin sơ bộ về chiến lược chung đối
với hợp đồng kiểm toán, nhân sự cần thiết cho nhóm kiểm toán, thời gian
kiểm toán và khuôn khổ đánh giá rủi ro kiểm toán ở từng giai đoạn, từng loại
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
Hay DR =
DAR
IRxCR
(2)
13
Luận văn tốt nghiệp
nghiệp vụ và từng số dư tài khoản và cuối cùng là thiết kế các thủ tục thích
hợp cho các khoản mục trên BCTC
Thực trạng hoạt động tài chính cũng như hiệu quả nghiệp vụ là vấn đề
rất rộng và trên thực tế không thể kiểm toán được tất cả các thông tin đã thu
được và chưa thu được của hoạt động tài chính và nghiệp vụ phải kiểm toán.
Mặt khác, người sử dụng thông tin cũng chỉ quan tâm đến bản chất của thực
trạng hoạt động tài chính và hiệu quả hoạt động. Điều đó dẫn tới tính tất yếu
phải lựa chọn nội dung, phương pháp, thủ tục kiểm toán tối ưu để vừa đánh
giá đúng bản chất đối tượng kiểm toán, vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu của
người quan tâm với giá phí kiểm toán thấp trên cơ sở thực hiện đủ những thủ
tục kiểm toán cần thiết.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 (VSA - 300) “Lập kế hoạch
kiểm toán” cho thấy vai trò của việc đánh giá rủi ro kiểm toán trong quá trình
lập kế hoạch: “Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm
đảm bảo phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn; và đảm bảo cuộc
kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn” và “khi xây dựng chương trình
kiểm toán, KTV phải xem xét các đánh giá về rủi ro tiềm tang, rủi ro kiểm
soát, cũng như mức độ đảm bảo phải đạt được thông qua thử nghiệm cơ bản”.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 530 (VSA – 530) “Lấy mẫu kiểm
toán và các thủ tục lựa chọn khác” quy định về cỡ mẫu như sau: “Kiểm toán
phải đảm bảo rủi ro kiểm toán do áp dụng phương pháp lấy mẫu giảm xuống
mức có thể chấp nhận được khi xác định cỡ mẫu. Cỡ mẫu chịu ảnh hưởng bởi
mức rủi ro kiểm toán. Rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được càng thấp, thì
cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn”. Như vậy rủi ro kiểm toán có ảnh hưởng một
cách trực tiếp đến cỡ mẫu đồng thời ảnh hưởng tới quá trình thu thập bằng
chứng, cũng như ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả cuộc kiểm toán. Trong quá
trình thu thập bằng chứng kiểm toán, KTV phải sử dụng khả năng xét đoán
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
14
là bất ngờ trong tương lai. Bên cạnh đó, các định nghĩa này cũng ám chỉ
những cấp độ hay mức độ rủi ro khác nhau. Ngoài ra các định nghĩa đều nói
đến hậu quả do một hay nhiều nguyên nhân gây ra. Điều này dường như có mối
quan hệ chặt chẽ với định nghĩa mà chúng ta đã sử dụng trước đó, theo định
nghĩa này rủi ro là không chắc chắn về hậu quả trong một tình huống cụ thể.
Tại Việt Nam, từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Sài Gòn xuất bản
năm 2005 giải thích: “Rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến”.
Và theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2003 thì: “Rủi ro là hậu
quả gây thiệt hại ít nhiều có thể dự kiến được của một hành vi mà việc thực
hiện không chỉ phụ thuộc vào ý chí của các bên đương sự. Người thực hiện
hành vi phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gây nên cho người kia”. Từ điển
Thuật ngữ Kiểm toán - Kế toán Nhà xuất bản Thống kê xuất bản năm 2002
cho rằng: “Rủi ro là khả năng bị thua lỗ hay bị tổn hại có thể đo lường được.
Rủi ro khác với bất trắc ở chỗ sự bất trắc không thể đo lường được.”
Trên thực tế, các hoạt động kinh tế thường gặp những rủi ro đặc trưng.
Mỗi ngành nghề có một rủi ro riêng, chẳng hạn: rủi ro hối đoái, rủi ro đầu tư,
rủi ro kinh doanh,… và kiểm toán cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Rủi ro hối đoái là rủi ro do biến động về tỷ giá gây ra. Rủi ro này
thường có đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Doanh nghiệp có thể gặp rủi ro khi không chắc chắn về một khoản thu nhập
hoặc chi trả do sự biến động về tỷ giá gây ra.
Rủi ro đầu tư là rủi ro khi tiến hành hoạt động đầu tư (như đầu tư vào
thị trường chứng khoán, đầu tư vào thị trường bất động sản,…). Rủi ro đầu tư
là cao khi các nhà đầu tư không lường trước được các khả năng có thể xảy ra
và các nhân tố tác động.
Rủi ro kinh doanh là các khả năng có thể xảy ra khi tiến hành hoạt động
kinh doanh. Bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào cũng có thể xảy ra rủi ro.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
5
Luận văn tốt nghiệp
Trong lĩnh vực kiểm toán, có khá nhiều loại rủi ro được đề cập đến
như: rủi ro kinh doanh, rủi ro kiểm toán, rủi ro chọn mẫu…
Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà KTV sẽ kết luận là các BCTC được trình
bày trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu, và do đó một ý kiến
chấp nhận toàn phần sẽ được công bố, trong khi, trên thực tế chúng bị sai sót
trọng yếu.
Rủi ro chọn mẫu và rủi ro không chọn mẫu là hai loại rủi ro có thể ảnh
hưởng đến các bộ phận của rủi ro kiểm toán.
Rủi ro kinh doanh (engagement risk) là rủi ro mà KTV và công ty
kiểm toán sẽ phải chịu thiệt hại vì mối quan hệ với khách hàng cho dù báo
cáo kiểm toán cung cấp cho khách hàng là đúng, là rủi ro liên quan đến trách
nhiệm của KTV bao gồm ba nhân tố:
- Những vấn đề liên quan đến khách hàng, ví dụ: tình hình tài
chính, khả năng thu lợi nhuận và danh tiếng của khách hàng
trong tương lai, đặc điểm và tính chính trực của ban quản lý và
của người chủ doanh nghiệp khách hàng trong tương lai.
- Những vấn đề liên quan đến kinh doanh, ví dụ: rủi ro chi phí
(liệu có bất kỳ lí do nào cho thất bại trong kiểm toán hay
không) như việc thực hiện chi trả các phí và liệu việc hợp tác
của ta với một khách hàng nào đó trong tương lai có gây tác hại
cho hình ảnh của công ty chúng ta xét về mặt chuyên môn hay
không.
- Những vấn đề liên quan đến kiểm toán, ví dụ: những khó khăn
dự kiến trong việc thu lượm bằng chứng kiểm toán
Qua đó ta thấy sự khác nhau cơ bản giữa rủi ro kiểm toán và rủi ro kinh
doanh. Sự kiểm soát chặt chẽ rủi ro kiểm toán là yếu tố chủ yếu của quá trình
kiểm soát rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán. Do đó, trong các loại rủi
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
6
Luận văn tốt nghiệp
ro trên thì rủi ro kiểm toán là rủi ro được đề cập đến nhiều nhất và quan trọng
nhất.
Theo Nguyên tắc Kiểm toán Quốc tế Số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm
toán”, trong Mục 9 Liên đoàn Kiểm toán Quốc tế soạn thảo định nghĩa rủi ro
kiểm toán như sau: “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà KTV có thể mắc
phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và
đó là các sai sót nghiêm trọng. Ví dụ KTV có thể đưa ra ý kiến chấp nhận
toàn bộ về một BCTC mà không biết rằng các báo cáo này có những sai phạm
nghiêm trọng”.
Ở Việt Nam, kiểm toán ra đời tương đối muộn. Tuy nhiên, những
chuẩn mực về kiểm toán được ban hành kịp thời phục vụ cho quá trình phát
triển của kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA – 400)
“Đánh giá rủi ro và kiểm toán nội bộ” đã giải thích rủi ro kiểm toán như sau:
“Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý
kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán vẫn
còn chứa đựng những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ
phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”
Trong thực tế, bất kì cuộc kiểm toán nào cũng chứa đựng và tồn tại rủi
ro. Rủi ro luôn có nguy cơ xảy ra cho dù các kiểm toán viên và công ty kiểm
toán đã chuẩn bị chu đáo cho cuộc kiểm toán. Trong mọi cuộc kiểm toán,
người ta không đảm bảo chắc chắn 100% các báo cáo tài chính đã kiểm toán
không còn chứa đựng các sai phạm trọng yếu. Vì vậy, trong các cuộc kiểm
toán, kiểm toán viên chỉ có thể kì vọng một mức rủi ro kiểm toán có thể chấp
nhận được và mở mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được kiểm toán viên sẽ
đảm bảo các sai sót trọng yếu không có cơ hội xảy ra. Do đó khái niệm rủi ro
kiểm toán mong muốn thường được các kiểm toán viên sử dụng.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
7
Luận văn tốt nghiệp
Ở tất cả các công ty kiểm toán và trong mọi cuộc kiểm toán, vấn đề xác
định rủi ro kiểm toán mong muốn là cần thiết và quan trọng. Có xác định
được rủi ro kiểm toán mong muốn kiểm toán viên mới có những cơ sở để xác
định được mức trọng yếu có thể chấp nhận. Rủi ro kiểm toán luôn được kiểm
toán viên và công ty kiểm toán xác định trước khi lập kế hoạch và thực hiện
kiểm toán. Xác định rủi ro kiểm toán trước khi lập kế hoạch và thực hiện
kiểm toán nhằm mục đích: Tìm hiểu đánh giá sơ bộ về khách hàng, xem xét
có thể cung cấp dịch vụ cho khách hàng và hỗ trợ cho việc lập kế hoạch kiểm
toán.
Trong thực tế, rủi ro kiểm toán thường xảy ra do giới hạn về mặt quản
lý, về kiểm toán, mà trực tiếp là chi phí kiểm toán (số lượng bằng chứng cần
thu thập). Thậm chí, ngay cả khi bằng chứng kiểm toán đã đủ thì rủi ro kiểm
toán vẫn có khả năng xảy ra. Chi phí kiểm toán (số lượng bằng chứng kiểm
toán) và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau. Số lượng bằng
chứng kiểm toán càng lớn thì rủi ro kiểm toán càng thấp và tiến dần về mức
rủi ro kiểm toán mong muốn.
1.1.2 Các loại rủi ro kiểm toán
Thứ nhất, Rủi ro tiềm tàng
Rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại những sai phạm trong bản thân của
các đối tượng kiểm toán mà chưa tính đến bất kì một sự tác động nào của hoạt
động kiểm toán kể cả hệ thống kiểm soát nội bộ.
Nguyên tắc Kiểm toán Quốc tế Số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm toán”
cho rằng: “Rủi ro tiềm tàng là những yếu điểm của số dư tài khoản hoặc của
một loại nghiệp vụ, đối với những sai sót này có thể đơn lẻ hoặc có thể kết
hợp với các sai sót ở những số dư, các nghiệp vụ khác (ở đây giả định là
không có các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan). Rủi ro tiềm tàng nằm
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
8
Luận văn tốt nghiệp
trong chức năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong môi trường
kinh doanh cũng như trong bản chất của số dư tài khoản hoặc các nghiệp vụ”.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) “Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ” cho rằng: “Rủi ro tiềm tàng là loại rủi ro tiềm ẩn, vốn có do
khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng
những sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không
có hệ thống kiểm soát nội bộ.”
Như vậy, về bản chất, rủi ro tiềm tàng là mức độ mà KTV ước tính là
có một sai số cao hơn mức có thể chấp nhận trong một bộ phận trước khi xét
đến tính hiệu quả của các quá trình kiểm soát nội bộ về kế toán. Mức độ rủi ro
tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh doanh của khách thể kiểm
toán, loại hình kinh doanh và năng lực nhân viên của khách thể kiểm toán.
Mức rủi ro này còn tuỳ thuộc vào đặc điểm từng loại tài sản, nghiệp vụ. KTV
không tạo ra, cũng không kiểm soát được rủi ro tiềm tàng mà họ chỉ có thể
đánh giá chúng. Rủi ro tiềm tàng có quan hệ tỉ lệ thuận với số lượng bằng
chứng kiểm toán cần thu thập. Có nghĩa là nếu rủi ro tiềm tàng càng cao thì số
lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập càng nhiều và ngược lại.
Thứ hai, Rủi ro kiểm soát
Rủi ro kiểm soát là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
không phát hiện, không ngăn chặn và không thể sửa chữa kịp thời các sai
phạm có tính chất trọng yếu. Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra các sai phạm
có tính chất trọng yếu. Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra các sai phạm trọng
yếu do hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động
hiệu quả do đó đã không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm này. Rủi ro
kiểm soát có liên quan mật thiết đến sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội
bộ của khách hàng. Cũng như rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên không thể tạo
ra và kiểm soát được rủi ro kiểm soát, KTV chỉ có thể thông qua tìm hiểu hệ
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
9
Luận văn tốt nghiệp
thống kiểm soát nội bộ của khách hàng qua đó đưa ra đánh giá mức độ rủi ro
kiểm soát.
Văn bản chỉ đạo Kiểm toán Quốc tế Số 25 Mục 14 cho rằng: “Rủi ro
kiểm soát là rủi ro xác định sai, nó có thể xảy ra đối với một số dư tài khoản
hoặc nghiệp vụ và cũng có thể là sai sót nghiêm trọng. Những sai sót này xảy
ra đơn lẻ hoặc được kết hợp với các sai sót của các số dư, hoặc các nghiệp vụ
khác mà hệ thống kiểm soát nội bộ đã không ngăn chặn hoặc không phát hiện
kịp thời. Rủi ro kiểm soát luôn xuất hiện và khó tránh khỏi những hạn chế có
tính bản chất của bất kì một hệ thống kiểm soát nội bộ nào”
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA – 400) “Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ” cho rằng “Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng
yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính
riêng rẽ hoặc gộp lại mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không
ngăn chặn hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời”
Như vậy rủi ro kiểm soát là mức độ mà KTV ước tính là có sai số cao
hơn mức có thể chấp nhận trong một bộ phận mà cơ cấu kiểm soát nội bộ của
khách hàng không ngăn chặn được. Rủi ro kiểm soát là loại rủi ro có liên quan
đến sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ. Cơ cấu kiểm soát nội bộ của
khách hàng càng hiệu quả thì rủi ro kiểm soát càng thấp và ngược lại.
Rủi ro kiểm soát có mối quan hệ tỉ lệ thuận với số lượng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập và quan hệ tỉ lệ nghịch với rủi ro phát hiện. Rủi ro
kiểm toán luôn luôn xuất hiện và khó tránh khỏi do những hạn chế cố hữu của
bất kì hệ thống kiểm soát nội bộ nào.
Thứ 3, Rủi ro phát hiện
Theo cách đơn giản, rủi ro phát hiện là loại rủi ro liên quan đến khả
năng các thủ tục kiểm toán do kiểm toán viên và các công ty kiểm toán đã tiến
hành nhưng không phát hiện được các sai phạm trọng yếu.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
10
Luận văn tốt nghiệp
Văn bản chỉ đạo Kiểm toán Quốc tế Số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm
toán” cho rằng: “Rủi ro phát hiện là những rủi ro mà kiểm toán viên không
phát hiện ra các sai sót hiện có trong các số dư tài khoản, các loại nghiệp vụ.
Các sai sót này là có thể là các sai sót nghiêm trọng xảy ra đơn lẻ hoặc có thể
kết hợp với các sai sót trong số dư các nghiệp vụ khác. Mức rủi ro phát hiện
có quan hệ trực tiếp với những phương pháp của kiểm toán viên.”
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA – 400) “Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ” cho rằng: “Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng
yếu trong từng nghiệp vụ và từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính
riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, KTV và công ty kiểm
toán không phát hiện được.”
Những yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro phát hiện như sau:
Thứ nhất: Các bước kiểm toán không thích hợp. Điều này xảy ra với
các kiểm toán viên thiếu kinh nghiệm hoặc quá trình lập kế hoạch kiểm toán
không được thực hiện một cách đúng đắn, khiến cho việc thực hiện các quy
trình kiểm toán đối với mỗi phần hành trở nên không hợp lí;
Thứ hai: Kiểm toán viên đã tìm được bằng chứng, nhưng do không tìm
được nguyên nhân gây sai sót dẫn đến kết luận sai về bản chất của khoản mục
hoặc nghiệp vụ đó;
Thứ ba: Các báo cáo tài chính bản thân cũng chứa đựng các sai sót,
nhưng sự sai sót đó là do bên trong doanh nghiệp đã có sự thông đồng để làm
sai các chính sách làm cho kiểm toán viên càng khó phát hiện hơn các sai
phạm.
Rủi ro phát hiện là mức độ mà KTV sẵn sàng chấp nhận là bằng chứng
kiểm toán phải thu thập cho một bộ phận sẽ không phát hiện ra các sai số cao
hơn có thể chấp nhận, nếu những sai sót đó tồn tại. Như vậy, rủi ro phát hiện
có nguyên nhân bắt nguồn trực tiếp từ nội dung, thời gian và phạm vi của các
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
11
Luận văn tốt nghiệp
thử nghiệm do KTV thực hiện. Mức rủi ro phát hiện sẽ giảm xuống nếu KTV
tăng các thử nghiệm chi tiết trên số dư hoặc nghiệp vụ, mở rộng phạm vi kiểm
tra hoặc tăng cường cỡ mẫu của các thử nghiệm. Do đó, ngược lại với rủi ro
tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV phải có trách nhiệm thực hiện các thủ tục
thu thập bằng chứng kiểm toán nhằm quản lý rủi ro phát hiện. Một số rủi ro
phát hiện sẽ thường vẫn xảy ra cho dù có kiểm tra 100% các số dư và các loại
nghiệp vụ vì KTV có thể lựa chọn và áp dụng các phương pháp kiểm toán
không phù hợp, áp dụng sai các phương pháp kiểm toán thích hợp, hoặc giải
thích sai hay nhận định sai các kết quả kiểm toán.
1.1.3 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro – Mô hình rủi ro kiểm toán
Rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện là những bộ phận
cấu thành rủi ro kiểm toán, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát là hai loại rủi ro tồn tại độc lập, khách quan,
kiểm toán viên không tạo ra và cũng không thể kiểm soát được chúng. Kiểm
toán viên chỉ có thể thông qua thu thập bằng chứng kiểm toán tại đơn vị
khách hàng và bằng kinh nghiệm của mình để đánh giá mức độ của chúng.
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mức độ lớn hay nhỏ phụ thuộc rất lớn
vào ngành nghề kinh doanh cũng như môi trường pháp lí mà khách hàng đang
hoạt động. Không những thế, hai loại rủi ro này còn phụ thuộc vào bản chất
của các số dư tài khoản và nghiệp vụ kinh tế đặc thù tương ứng với ngành
nghề kinh doanh của khách hàng. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mối
quan hệ tỷ lệ nghịch nên trong các cuộc kiểm toán, kiểm toán viên thường kết
hợp cùng một lúc đánh giá mức độ của hai loại rủi ro này. Ngược lại, KTV có
thể kiểm soát được rủi ro phát hiện thông qua việc điều chỉnh nội dung, thời
gian và phạm vi của các thử nghiệm. Do vậy, cần phải thiết kế các thủ tục
kiểm toán hợp lý để giảm thấp rủi ro kiểm toán như mức mong muốn với chi
phí hợp lý.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
12
Luận văn tốt nghiệp
Mối quan hệ giữa rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện
với rủi ro kiểm toán được thể hiện qua mô hình rủi ro kiểm toán như sau:
DAR = IR x CR x DR (1)
Trong đó:
DAR: Rủi ro kiểm toán
IR: Rủi ro tiềm tàng
CR: Rủi ro kiểm soát
DR: Rủi ro phát hiện
Các loại rủi ro kiểm toán có thể được đánh giá cụ thể bằng các con số
theo tỷ lệ phần trăm hoặc được đánh giá một cách khái quát theo yếu tố định
tính như: thấp, trung bình, cao.
Hai mô hình trên có cùng bản chất và giá trị song mô hình (2) được ưa
chuộng hơn để xác định rủi ro phát hiện và số lượng bằng chứng thích hợp.
1.1.4 Vai trò của đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài
chính
Rủi ro kiểm toán chủ yếu được KTV xác định trong giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA – 400) “Đánh
giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” đã quy định: “Rủi ro kiểm toán được xác định
trước khi lập kế hoạch kiểm toán và trước khi thực hiện kiểm toán”.
Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, KTV cần đánh giá tổng thể rủi
ro kiểm toán căn cứ vào hiểu biết của KTV về đặc điểm kinh doanh của khách
hàng cũng như tìm hiểu về ngành nghề, quản lý môi trường kiểm soát và hoạt
động. Sự đánh giá như vậy cung cấp thông tin sơ bộ về chiến lược chung đối
với hợp đồng kiểm toán, nhân sự cần thiết cho nhóm kiểm toán, thời gian
kiểm toán và khuôn khổ đánh giá rủi ro kiểm toán ở từng giai đoạn, từng loại
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
Hay DR =
DAR
IRxCR
(2)
13
Luận văn tốt nghiệp
nghiệp vụ và từng số dư tài khoản và cuối cùng là thiết kế các thủ tục thích
hợp cho các khoản mục trên BCTC
Thực trạng hoạt động tài chính cũng như hiệu quả nghiệp vụ là vấn đề
rất rộng và trên thực tế không thể kiểm toán được tất cả các thông tin đã thu
được và chưa thu được của hoạt động tài chính và nghiệp vụ phải kiểm toán.
Mặt khác, người sử dụng thông tin cũng chỉ quan tâm đến bản chất của thực
trạng hoạt động tài chính và hiệu quả hoạt động. Điều đó dẫn tới tính tất yếu
phải lựa chọn nội dung, phương pháp, thủ tục kiểm toán tối ưu để vừa đánh
giá đúng bản chất đối tượng kiểm toán, vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu của
người quan tâm với giá phí kiểm toán thấp trên cơ sở thực hiện đủ những thủ
tục kiểm toán cần thiết.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 (VSA - 300) “Lập kế hoạch
kiểm toán” cho thấy vai trò của việc đánh giá rủi ro kiểm toán trong quá trình
lập kế hoạch: “Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm
đảm bảo phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn; và đảm bảo cuộc
kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn” và “khi xây dựng chương trình
kiểm toán, KTV phải xem xét các đánh giá về rủi ro tiềm tang, rủi ro kiểm
soát, cũng như mức độ đảm bảo phải đạt được thông qua thử nghiệm cơ bản”.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 530 (VSA – 530) “Lấy mẫu kiểm
toán và các thủ tục lựa chọn khác” quy định về cỡ mẫu như sau: “Kiểm toán
phải đảm bảo rủi ro kiểm toán do áp dụng phương pháp lấy mẫu giảm xuống
mức có thể chấp nhận được khi xác định cỡ mẫu. Cỡ mẫu chịu ảnh hưởng bởi
mức rủi ro kiểm toán. Rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được càng thấp, thì
cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn”. Như vậy rủi ro kiểm toán có ảnh hưởng một
cách trực tiếp đến cỡ mẫu đồng thời ảnh hưởng tới quá trình thu thập bằng
chứng, cũng như ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả cuộc kiểm toán. Trong quá
trình thu thập bằng chứng kiểm toán, KTV phải sử dụng khả năng xét đoán
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
14
Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
Kinh phí công đoàn để phục vụ chi tiêu cho hoạt động của tổ chức, của giới
lao động nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi của ngời lao động.
1.3>Yêu cầu quản lý lao động và chi phí về lao động:
1.3.1. Yêu cầu quản lý lao động:
Thực chất yêu cầu quản lý lao động đặt ra chính là yêu cầu quản lý về số l-
ợng lao động. Quản lý số lợng lao động theo từng loại lao động, theo nghề nghiệp,
theo công việc, theo trình độ tay nghề. Quản lý lao động cần phải thực hiện theo
sổ sách lao động của doanh nghiệp.
1.3.2. Yêu cầu quản lý chi phí về lao động sống:
Ngời quản lý, ngời chủ doanh nghiệp có mối quan tâm lớn đối với khoản chi
phí về lao động sống. Khoản chi phí về lao động sống này làm tăng giá thành sản
phẩm hàng hoá, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, của chủ đầu t. cho nên chủ
doanh nghiệp càng giảm chi phí bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.Đối với ngời lao
động phần chi phí này là khoản bù đắp hao phí lao động mà họ bỏ ra. Về phía ngời
lao động, bù đắp này càng lớn càng tốt.
Đây chính là mâu thuẫn đối lập trong bản thân một khoảng chi phí đã làm
cho nó vận động đế sự thống nhất và không ngừng hoàn thiện nên vấn đề đặt ra là
phải quản lý khoản chi phí này phải nh thế nào để thống nhất hoà hợp sự mâu
thuẫn này. Một mặt doanh nghiệp cần tăng mức thu nhập cho ngời lao động để
khuyến khích sản xuất, mặt khác doanh nghiệp cần hạ thấp chi phí để giảm giá
thành. Việc tăng lơng cần phải phù hợp với định mức lao động không làm cho chi
phí tiền lơng tăng nhanh hay tránh tình trạng đội giá thành sản phẩm.
1.4> Nội dung tổ chức kế toán lao động tiền lơng và các
khoản liên quan:
1.4.1. Nguyên tắc hạch toán lao động và tiền lơng:
Tại các doanh nghiệp sản xuất, hạch toán chi phí về lao động là một bộ phận
công việc phức tạp trong việc hạch toán chi phí kinh doanh, bởi vì cách trả thù lao
lao động thờng không thống nhất giữa các bộ phận, các đơn vị, các thời kỳ Việc
hạch toán chính xác chi phí về lao động có vị trí quan trọng, là cơ sở để xác định
giá thành sản phẩm và giá bán sản phẩm. Đồng thời nó còn là căn cứ để xác định
các khoản nghĩa vụ phải nộp cho Ngân sách, cho các cơ quan phúc lợi xã hội. Vì
thế để đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời cho quản lý, đòi hỏi hạch toán lao
động và tiền lơng phải quán triệt những nguyên tắc sau:
1.4.1.1 Phải phân loại lao động hợp lý:
Do lao động trong doanh nghiệp có nhiều loại khác nhau nên để thuận lợi
cho việc quản lý và hạch toán, cần thiết phải tiến hành phân loại. Phân loại lao
động là việc sắp xếp lao động vào các nhóm khác nhau theo những đặc trng nhất
định. Về mặt quản lý và hạch toán, lao động thờng đợc phân theo các tiêu thức
sau:
Phân loại theo thời gian lao động:
-5-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
Theo thời gian lao động, toàn bộ lao động có thể chia thành lao động thờng
xuyên, trong danh sách( Gồm cả số hợp đồng ngắn hạn và dài hạn) và lao động
tạm thời mang tính thời vụ. Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp nắm đợc
tổng số lao động của mình, từ đó có kế hoạch sử dụng, bồi dỡng, tuyển dụng và
huy động khi cần thiết. Đồng thời xác định các khoản nghĩa vụ với ngời lao động
và với Nhà nớc một cách chính xác.
Phân theo quan hệ với quá trình Sx:
Dựa theo mối quan hệ của lao động với quá trình sản xuất, có thể phân loại
lao động trong doanh nghiệp thành 2 loại sau
- Lao động trực tiếp sản xuất: Lao động trực tiếp sản xuất chính là bộ phận
công nhân trực tiếp sản xuất hay trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản
phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ. Thuộc loại này bao gồm những ngời
điều khiển thiết bị, máy móc để sản xuất sản phẩm( kể cả cán bộ kỹ thuật
trực tiếp sử dụng, những ngời phục vụ quá trình sản xuất( vận chuyển, bốc dỡ
nguyên, vật liệu trong nội bộ; sơ chế nguyên, vật liệu trớc khi đa vào dây
chuyền ).
- Lao động gián tiếp sản xuất: Đây là một bộ phận lao động tham gia một
cách gián tiếp vào quá trình sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp. Thuộc
bộ phận này gồm các nhân viên kỹ thuật( trực tiếp làm công tác kỹ thuật
hoặc tổ chức, chỉ đạo, hớng dẫn kỹ thuật), nhân viên quản lý kinh tế( trực tiếp
lãnh đạo, tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh nh giám đốc, phó
giám đốc kinh doanh; cán bộ các phòng kế toán, thống kê, ), nhân viên
quản lý hành chính( những ngời làm công tác tổ chức, nhân sự, văn th, đánh
máy, quản trị ).
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp đánh giá đợc tính hợp lý của cơ
cấu lao động. Từ đó, có biện pháp tổ chức, bố trí lao động phù hợp với yêu cầu
công việc, tinh giản bộ máy gián tiếp.
Phân loại theo chức năng của lao động trong quá trình sản xuất kinh
doanh: Theo cách này, toàn bộ lao động trong doanh nghiệp có thể chia
thành 3 loại:
- Lao động thực hiện chức năng sản xuất, chế biến: Bao gồm những lao động
tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp và quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm hay
thực hiện các lao vụ, dịch vụ nh công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên phân
xởng
- Lao động thực hiện chức năng bán hàng: Là những lao động tham gia hoạt
động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ nh nhân viên bán hàng,
tiếp thị, nghiên cứu thị trờng
- Lao động thực hiện chức năng quản lý: Là những lao động tham gia hoạt
động quản trị kinh doanh và quản lý hành chính của doanh nghiệp nh các
nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính
Cách phân loại này giúp cho hoạt động tập hợp chi phí lao động đợc kịp thời,
chính xác, phân định đợc chi phí sản xuất và chi phí thời kỳ
-6-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
1.4.1.2 Phân loại tiền lơng một cách phù hợp:
Do tiền lơng có nhiều loại với tính chất khác nhau, chi trả cho các đối tợng
khác nhau nên cần phân loại tiền lơng theo tiêu thức phù hợp. Trên thực tế có rất
nhiều cách phân loại tiền lơng nh phân loại tiền lơng theo cách thức trả lơng( lơng
sản phẩm, lơng thời gian), phân theo đối tợng trả lơng( lơng trực tiếp, lơng gián
tiếp), phân loại theo chức năng tiền lơng ( lơng sản xuất, lơng bán hàng, lơng
quản lý) Mỗi một cách phân loại đều có những tác dụng nhất định trong quản
lý. Tuy nhiên, để thuận lợi cho công tác hạch toán nói riêng và quản lý nói chung,
về mặt hạch toán, tiền lơng chia làm 2 loại là lơng chính và lơng phụ.
Tiền lơng chính là bộ phận tiền lơng trả cho ngời lao động trong thời gian thực
tế có làm việc bao gồm cả tiền lơng cấp bậc, tiền thởng và các khoản phụ cấp có
tính chất tiền lơng. Ngợc lại, tiền lơng phụ là bộ phận tiền lơng trả cho ngời lao
động trong thời gian thực tế không làm việc nhng đợc chế độ quy định nh nghỉ
phép, hội họp, học tạp, lễ, tết, ngừng sản xuất cách phân loại này không những
giúp cho việc tính toán, phân bổ chi phí tiền lơng đợc chính xác mà còn cung cấp
thông tin cho việc phân tích chi phí tiền lơng.
1.4.2. Các chế độ tiền lơng ( hay hình thức trả lơng):
Việc tính và trả chi phí lao động có thể thực hiện theo nhiều hình thức khác
nhau, tuỳ theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc và trình độ
quản lý của doanh nghiệp. Mục đích của chế độ tiền lơng là nhằm quán triệt
nguyên tắc phân phối theo lao động. Trên thực tế, thờng áp dụng các hình
thức( chế độ) tiền lơng theo thời gian, tiền lơng theo sản phẩm và tiền lơng khoán.
1.4.2.1 Tiền lơng theo thời gian:
Thờng áp dụng cho lao động làm công tác văn phòng nh hành chính quản trị,
tổ chức lao động, thống kê tài vụ- kế toán trả l ơng theo thời gian là hình thức trả
lơng cho ngời lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế, hình thức trả lơng
theo thời gian cũng phản ánh một mức độ nào đó chất lợng lao động, điều kiện lao
động và trình độ lao động của ngời công nhân
Hình thức trả lơng theo thời gian đợc phân thành:
+/ Trả lơng theo thời gian lao động giản đơn:
Theo chế độ này tiền lơng nhận đựoc của mỗi lao động là do mức lơng cấp bậc
cao hay thấp và thời gian làm việc thực tế nhiều hay ít
Có 4 loại lơng theo thời gian lao động giản đơn là:
- Tiền lơng tháng: Tiền lơng tháng là tiền lơng trả cố định hàng tháng trên cơ
sở hợp đồng lao động.
Lơng tháng= Tiền lơng cấp bậc
- Lơng tuần: Là tiền lơng trả cho một tuần làm việc
Lơng tuần= (lơng tháng* 12 tháng)/ 52 tuần
- Lơng ngày: Là tiền lơng trả cho một ngày làm việc
-7-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
Lơng ngày= Lơng tháng/ 26 ngày làm việc theo chế độ
- Lơng giờ: Là tiền lơng phải trả cho một giờ làm việc
Lơng giờ= Lơng ngày/ 8 giờ làm việc
Hình thức này có u điểm nổi bật là dễ tính, dễ trả lơng cho ngời lao động, nh-
ng cách tính nh vậy mang tính bình quân cao khuyến khích ngời lao động tích cực
trong công việc và quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động.
+/ Trả lơng theo thời gian có thởng:
Với hình thức trả lơng theo thời gian có thởng cho ngời công nhân, ngoài số
tiền lơng trả theo hình thức giản đơn ngời công nhân còn nhận đợc một số tiền th-
ởng khi làm tốt một chỉ tiêu nhất định. Hình thức này có tác dụng kích thích ít
nhiều đối với ngời lao động, tuy nhiên hình thức này có một nhợc điểm là ở một
mức độ nhất định có thể làm nảy sinh các yếu tố bình quân chủ nghĩa vì những
công nhân có mức năng suất khác nhau trong điều kiện sản xuất nh nhau, lĩnh
khoản tiền lơng nh nhau sẽ không khuyến khích đợc công nhân nâng cao năng
suất lao động.
1.4.2.2 Trả lơng theo sản phẩm:
Tiền lơng theo sản phẩm là hình thức trả lơng cho ngời lao động căn cứ vào số
lợng, chất lợng sản phẩm họ làm ra. Việc trả lơng theo sản phẩm có thể tiến hành
theo nhiều hình thức khác nhau nh trả theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế, trả
theo sản phẩm gián tiếp, trả lơng theo sản phẩm có thởng, theo sản phẩm luỹ tiến.
Cách trả lơng này có u điểm là khuyến khích công nhân trong tổ, nhóm nâng cao
trách nhiệm trớc tập thể, quan tâm đến kết quả cuối cùng của tổ, song nó có nhợc
điểm là sản lợng của mỗi công nhân cha thể hiện đầy đủ, phân phối theo số lợng
và chất lợng lao động.
Hình thức trả lơng theo sản phẩm đơc phân thành các dạng sau :
- Trả lơng sản phẩm trực tiếp cá nhân:
Cách trả lơng này áp dụng rộng rãi với công nhân trực tiếp sản xuất trong điều
kiện qui trình lao động của ngời công nhân mang tính độc lập tơng đối có thể
định mức kiểm tra và nghiệm thu sản phẩm một cách riêng biệt.
Đơn giá tiền lơng của cách trả lơng này là cố định
DG = L/ Q
Tiền lơng công nhân sẽ là:
L= Q * Đg
Trong đó:
Đg : Đơn giá tiền lơng
L : Tiền lơng sản phẩm
Q : Mức sản lợng
-8-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
- Trả lơng theo sản phẩm gián tiếp :
Cách này áp dụng với những công nhân phụ mà công việc của họ ảnh hởng
đến kết quả lao động của công nhân chính hởng lơng theo sản phẩm. Trong công
việc mà ngời công nhân chính hoặc phụ gắn chặt với nhau nhng không trực tiếp
tính lơng của công nhân phụ. Tiền lơng của công nhân phụ phụ thuộc vào tiền l-
ơng của công nhân chính. Cách trả lơng này khuyến khích công nhân phục vụ tốt
hơn, tạo điều kiện cho công nhân chính tăng năng suất lao động nhng vì phụ thuộc
vào kết quả của công nhân phụ do đó việc trả lơng cha thật chính xác, cha đảm
bảo đúng hao phí lao động mà công nhân phụ bỏ ra.
1.4.2.3 Trả lơng khoán :
Hình thức này thờng đợc áp dụng trong xây dựng cơ bản. Trong cách trả lơng
này thì tuỳ theo công việc cụ thể mà đa ra đơn giá khoán thích hợp với yêu cầu là
phải tính toán đơn ghía một cách tỉ mỉ, chặt chẽ đến từng yếu tố sản xuất nh máy
móc nguyên vật liệu và thời gian sản xuất.
Trong cách trả lơng naỳ có những điểm khácvới hình thức trả lơng theo sản
phẩm:
- Sản phẩm khoán gọn có thể có mức hoàn thiện cao hơn
- Đảm bảo cho ngời lao động liên kết chặt chẽ với nhau và tự giác cao hơn
quan tâm đến kết quả cuối cùng nhiều hơn, không bỏ sót khối lợng, hoặc khối
lợng không bị tính trùng lặp, ở hình thức khoán gọn phải ký hợp đồng kinh tế
cụ thể trong đó phân định rõ trách nhiệm và tính toán cụ thể cho nhời lao
động biết đợc trớc nhiệm vụ phải làm và khoản tiền đợc hởng kích thích kinh
tế mạnh hơn .
Hình thức khoán gọn có thể áp dụng cho xây dựng gọn là một công trình một
hạng mục công trình cho một dây chuyền thi công hoặc là một công việc lẻ mà
khối lợng của nó khó có thể xác định đợc.
Đơn vị nhận khoán gọn có thể là một tổ một đơn vị sản xuất hay là cá nhân
ngời lao động, đây là một hình thức trả lơng tiến bộ mang lại hiệu quả kinh tế cao.
1.4.3. Hạch toán lao động về mặt số lợng, thời gian và kết quả lao động:
Để quản lý lao động về mặt số lợng, các doanh nghiệp sử dụng sổ sách lao
động. Sổ này là do phòng lao động tiền lơng lập( lập chung cho toàn doanh nghiệp
và lập riêng cho từng bộ phận) nhằm nắm chắc tình hình phân bổ, sử dụng lao
động hiện có trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn căn cứ vào sổ
lao động( mở riêng cho từng ngời lao động) để quản lý lao động về cả số lợng và
chất lợng lao động, về biến động và chấp hành chế độ đối với lao động.
Muốn quản lý và nâng cao hiệu quả về sử dụng lao động, cần phải tổ chức
hạch toán việc sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động. Chứng từ sử dụng
để hạch toán thời gian lao động là bảng chấm công.Bảng chấm công đợc dùng cho
từng bộ phận, tổ, đội lao động sản xuất, trong đó ghi rõ ngày làm việc, nghỉ việc
của mỗi ngời lao động. Bảng chấm công do trởng( hoặc trởng các phòng, ban) trực
tiếp ghi và để nơi công khai để công nhân viên chức giám sát thời gian lao động
-9-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
của từng ngời. Cuối tháng, bảng chấm công đợc dùng để tổng hợp thời gian lao
động và tính lơng cho từng bộ phận, tổ, đội sản xuất.
Để hạch toán kết quả lao động, kế toán sử dụng những loại chứng từ khác
nhau, tuỳ theo loại hình thức và đặc điểm sản xuất của từng doanh nghiệp. Mặc dù
sử dụng các loại chứng từ khác nhau nhng các chứng từ này đều bao gồm các nội
dung cần thiết nh tên công nhân, tên công việc hoặc sản phẩm, thời gian lao động,
số lợng sản phẩm hoàn thành nghiệm thu, kỳ hạn và chất lợng công việc hoàn
thành Đó chính là các báo cáo về kết quả nh Phiếu giao, nhận sản phẩm,
phiếu khoán, hợp đồng giao khoán, phiếu báo làm thêm giờ, phiếu xác
nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành, Bảng kê năng suất tổ, Bảng kê
khối lợng công việc hoàn thành, Bảng kê sản lợng từng ngời
Chứng từ hạch toán lao động phải do ngời lập (tổ trởng) ký, cán bộ kiểm tra
kỹ thuật xác nhận, đợc lãnh đạo duyệt (quản đốc phân xởng, trởng bộ phận). Sau
đó, các chứng từ này đợc chuyển cho nhân viên hạch toán phân xởng để tổng hợp
kết quả lao động toàn đơn vị, chuyển về phòng lao động tiền lơng xác nhận. Cuối
cùng chuyển về phòng kế toán doanh nghiệp để làm căn cứ tính lơng, tính thởng.
Để tổng kết kết quả lao động, tại mỗi phân xởng, bộ phận sản xuất, nhân viên hạch
toán công xởng phải mở sổ tổng hợp kết quả lao động. Trên cơ sở các chứng từ
hạch toán kết quả lao động lao động do các tổ gửi đến, hàng ngày ( hoặc định kỳ),
nhân viên hạch toán phân xởng ghi kết quả lao động cho từng ngời, từng bộ phận
vào sổ và cộng sổ, lập báo cáo kết quả lao động gửi cho các bộ phận quản lý có
liên quan. Phòng kế toán doanh nghiệp cũng phải mở sổ tổng hợp kết quả lao động
để tổng hợp kết quả chung toàn doanh nghiệp.
1.4.4. Quỹ tiền lơng, quỹ BHXH, BHYT và kinh phí công đoàn:
1.4.4.1 Quỹ tiền lơng:
Quỹ tiền lơng của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lơng mà doanh nghiệp trả
cho tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý. Tành phần quỹ tiền lơng bao gồm
nhiều khoản nh lơng thời gian (tháng, ngày, giờ), lơng sản phẩm, phụ cấp (cấp
bậc, khu vực, chức vụ ), tiền th ởng trong sản xuất. Quỹ tiền lơng (hay tiền công)
bao gồm nhiều loại; tuy nhiên, về mặt hạch toán có thể chia thành tiền lơng lao
động trực tiếp và tiền lơng lao động gián tiếp, trong đó chi tiết theo tiền lơng chính
và tiền lơng phụ.
1.4.4.2 Quỹ BHXH, BHYT và kinh phí công đoàn:
Ngoài tiền lơng, công nhân viên chức còn đợc hởng các khoản trợ cấp phúc
lợi xã hội, trong đó có trợ cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Quỹ bảo hiểm xã hội:
- Quỹ BHXH đợc hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số
quỹ tiền lơng cấp bậc và các khoản phụ cấp (chức vụ, khu vực, thâm niên)
của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng. Theo chế độ hiện
hành, tỷ lệ trích bảo hiểm xã hội là 20%, trong đó 15% là do đơn vị hoặc chủ
sử dụng lao động nộp, đợc tính vào chi phí kinh doanh; 5% còn lại do ngời
lao động đóng góp và đợc trừ vào lơng tháng. Quỹ bảo hiểm xã hội đợc chi
-10-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
tiêu trong các trờng hợp ngời lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, hu trí, tử tuất. Quỹ naỳ do cơ quan bảo hiểm xã hội quản
lý.
- Các chế độ BHXH:
+ Chế độ trợ cấp ốm đau: Ngời lao động nghỉ việc do ốm đau, tai nạn rủi ro
mà có xác nhận của các tổ chức y tế Nhà nớc đều đợc hởng trợ cấp của BHXH.
Thời gian tối đa mà ngời lao động đợc hởng trợ cấp tuỳ thuộc vào điều kiện làm
việc và thời gian đóng BHXH. Thời gian nghỉ hàng năm có các mức 30, 40 hoặc
50 ngày/năm.
Mức trợ cấp ốm đau đợc tính nh sau:
Mức trợ cấp Tiền lơng làm căn cứ đóng BHXH của tháng
1 ngày trớc khi ốm đau * 75%
26 ngày
Ngời lao động bị ốm phải điều trị dài ngày theo danh mục y tế quy định thì
thời gian hởng trợ cấp tối đa là 180 ngày trong 1 năm không phân biệt thời gian
đóng BHXH nhiều hay ít. Nếu quá 180 ngày mà vẫn còn phải nghỉ thì vẫn đợc h-
ởng trợ cấp nhng ở mức 70%.
+ Chế độ trợ cấp thai sản: Đối voái lao động nữ khi sinh con thời gian hởng
trợ cấp phụ thuộc vào điều kiện và tính chất công việc. Thời gian gồm 4 tháng với
ngời lao động làm công việc bình thờng, 5 tháng với những ngời làm việc nặng
nhọc. Trợ cấp thai sản trong thời gian nghỉ việc bằng 100% mức tiền lơng đóng
BHXH. Ngoài ra khi sinh con đợc hởng trợ cấp 1 lần bằng 1 tháng lơng đóng
BHXH.
+ Chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Ngời lao động bị tai
nạn trong và ngoài giờ làm việc, ngoài nơi làm việc khi thực hiện làm việc theo
yêu cầu của ngời sử dụng lao động, tai nạn trên tuyến đờng về nhà từ nơi làm việc.
Ngời sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm trả các khoản chi phí y tế và tiền l-
ơng từ khi sơ cú, cấp cứu đến khi điều trị ổn định thơng tật cho ngời lao động.
Sau khi điều chỉnh thơng tật, ngời sử dụng lao động có trách nhiệm sắp xếp
công việc phù hợp cho ngời bị tai nạn lao động và đợc tổ chức BHXH giới thiệu đi
giám định khả năng lao động.
Ngời bị tai nạn lao động đợc hởng trợ cấp tuỳ thuộc vào mức độ suy giảm
khả năng lao động và đợc tính theo mức lơng tối thiểu chung do chính phủ công
bố.
Ngời bị suy giảm từ 5%- 30% khả năng lao động đợc hởng trợ cấp một lần,
mức trợ cấp phụ thuộc vào khả năng suy giảm sức lao động, mức độ suy giảmcàng
nhiều thì mức trợ cấp càng lớn nhng không quá 12 tháng lơng tối thiểu.
-11-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
Ngời bị suy giảm từ 31%- 100% sức lao động thì hàng tháng đều đợc trợ cấp
0,4 tháng tiền lơng tối thiểu đến 1,6 tháng tiền lơng tối thiểu.
+ Chế độ hu trí: Ngời lao động khi đủ tuổi đời thì thời gian quy định đóng
BHXH chỉ cần 15 năm. Nếu ngời lao động về hu có mức lơng hu thấp nhất thì đợc
nâng bằng mức lơng tối thiểu.
+ Chế độ trợ cấp tử tuất: Ngời lao động đanglàm việc hoặc đang chờ giải
quyết chế độ hu trí mà Nếu bị chết thì ngời lo mai táng đợc nhận tiền mai táng 8
tháng tiền lơng tối thiểu.
Cuối tháng, doanh nghiệp trực tiếp thanh quyết toán các khoản chi trợ cấp
BHXH cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp với tổ chức công đoàn câps
trên theo đúng chế độ quản lý quỹ BHXH. Nếu số chi trợ cấp BHXH cho cán bộ
công nhân viên của công nhân lớn hơn số quỹ BHXH đợc Nhà nớc giao cho công
nhân quản lý thì số chênh lệch trên sẽ đợc cấp trên bù, ngợc lại, Nếu thấp hơn thì
doanh nghiệp phải nộp trả số chênh lệch đó.
Quỹ bảo hiểm y tế:
Quỹ bảo hiểm y tế đợc sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám, chữa
bệnh, viện phí, thuốc thang cho ng ời lao động trong thời gian ốm đau, sinh đẻ.
Quỹ này đợc hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lơng
của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng. Tỷ lệ bảo hiểm y tế hiện
hành là 3%, trong đó 2% tính vào chi phí kinh doanh và 1% trừ vào thu nhập của
ngời lao động.
Tổng quỹ tiền lơng để làm căn cứ trích nộp BHYT là tổng quỹ tiền lơng thực
trả cho cán bộ công nhân viên trong đơn vị, bao gồm
+ Tiền lơng trả theo sản phẩm, lơng khoán có định mức hoặc lơng thời gian
theo hệ thống thang bảng lơng cấp bậc do Nhà nớc quy định.
+ Tiền lơng trả trong thời gian tập sự thử việc.
+ Tiền lơng trả trong thời gian ngừng việc do khách quan.
Kinh phí công đoàn:
Ngoài BHXH và BHYT ra, để có nguồn chi phí cho hoạt động công đoàn,
hàng tháng, doanh nghiệp còn phải trích theo một tỷ lệ quy định với tổng số quỹ
tiền lơng, tiền công và phụ cấp (phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp
khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đặc biệt, phụ cấp độc hại, nguy
hiểm, phụ cấp lu động, phụ cấp thâm niên, phụ cấp phục vụ quốc phòng, an ninh)
thực tế phải trả cho ngời lao động- kể cả lao động hợp đồng tính vào chi phí kinh
doanh để hình thành kinh phí công đoàn. Tỷ lệ kinh phí công đoàn theo chế độ
hiện hành là 2%.
Cơ cấu quỹ tiền lơng doanh nghiệp căn cứ trích nộp KPCĐ ớ các doanh
nghiệp bao gồm:
+ Tiền lơng theo sản phẩm, lơng khoán, lơng thời gian.
+ Tiền lơng trả trong thời gian tập sự thử việc.
-12-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
+ Tiền lơng trả trong thời gian ngừng việc do khách quan.
Trong các doanh nghiệp tổ chức công đoàn là một tổ chức rộng rãi của công
nhân, phong trào công đoàn ngày càng phát triển thì đời sống của công nhân ngày
càng cao. Vì vậy, việc trích nộp KPCĐ tạo nguồn quỹ là trách nhiệm của giám đốc
doanh nghiệp.
1.4.5. Hạch toán tổng hợp tiền lơng và BHXH:
1.4.5.1 Hạch toán chi tiết tiền lơng, bảo hiểm xã hội:
Tiền lơng và các khoản liên quan đến lơng của ngời lao động không chỉ là
vấn đề quan tâm riêng của công nhân viên mà còn là vấn đề của doanh nghiệp, vì
vậy kế toán lao động và thù lao lao động có nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Phản ánh chính xác, đầy đủ tiền lơng và kết quả lao động của cán bộ công
nhân viên, quản lý chặt chẽ việc sử dụng, chi tiêu quỹ lơng.
+ Tính toán phân bổ hợp lý, chính xác chi phí về tiền lơng (tiền công) và các
khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ cho các đối tợng liên quan.
+ Định kỳ tiến hành phân tích tình hình lao động, tình hình quản lý và chi
tiêu quỹ lơng. Cung cấp các thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phạn liên quan.
1.4.5.2 Hạch toán kết quả lao động:
Tuỳ theo hình thức trả lơng mà hạc toán kết quả lao động gồm:
+ Hạch toán thời gian lao động.
+ Hạch toán sản lợng.
Để hạch toán chính xác thời gian lao động ta dùng bảng chấm công
Đơn vị: Mẫu số 01
Ban hành kèm theo quyết định số
589/TC- CĐKT ngày 8/12/1990 của
BXD
Bảng chấm công
-13-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
STT Họ và
tên
Chức vụ hoặc
bậc lơng
Ngày trong tháng
1 2 3 30 31 Cộng
hởng
lơng
Cộng
hởng
BHXH
Nghỉ
không
lơng
A B C 1 2 3
1
2
Ngày tháng năm
Ngời chấm công Phụ trách bộ phận
Các ký hiệu chấm công
+ Làm việc: x
+ ốm: Ô
+ Con ốm: Cô.
+ Nghỉ phép: F.
+ Nghỉ không lơng: P.
+ Nghỉ không lý do: O.
Chứng từ hạch toán kết quả lao động do ngời lập ký, cán bộ kiểm tra kỹ thuật
xác định, đợc lãnh đạo duyệt. Sau đó các chứng từ này đợc chuyển cho nhân viên
hạch toán phân xởng để tập hợp kết quả lao động toàn đơn vị rồi chuyển về phòng
lao động và tiền lơng xác nhận. Cuối cùng chuyển về phòng kế toán công ty để
làm căn cứ tính lơng, tính thởng. Để tổng hợp kết quả lao động, tại mỗi phân xởng,
bộ phận sản xuất, nhân viên hạch toán phân xởng phải mở sổ tổng hợp kết quả lao
động. Trên cơ sở các chứng từ hạch toán kết quả lao động do các tổ gửi đến, hàng
ngày hoặc định kỳ nhân viên hạch toán phân xởng ghi kết quả lao động của từng
ngời, từng bộ phận quản lý liên quan. Phòng kế toán công ty cũng phải mở sổ tổng
hợp kết quả lao động chung toàn công ty.
Để hạch toán tiền lơng (tiền công) các khoản phụ cấp, trợ cấp cho ngời lao
động, hàng tháng kế toán doanh nghiệp phải lập Bảng thanh toán lơng cho từng
đội, phân xởng sản xuất và các phòng ban căn cứ vào kết quả tính lơng cho từng
ngời. Trên bảng tính lơng cần ghi rõ các khoản tiền lơng (lơng sản phẩm, lơng thời
gian), các khoản phụ cấp, trợ cấp, các khoản khấu trừ và số tiền ngời lao động còn
đợc lĩnh. Khoản thanh toán về trợ cấp BHXH cũng đợc lập tơng tự sau khi kế toán
lơng kiểm tra, xác nhận và ký, giám đốc duyệt y bảng thanh toán lơng và BHXH
cho ngời lao động.
Thông thờng tại các doanh nghiệp, việc thanh toán và các phụ cấp khác cho
ngời lao động đợc chia làm 2 kỳ: Kỳ I tạm ứng, kỳ II sẽ nhận số còn lại sau khi đã
trừ các khoản khấu trừ vào thu nhập. Các khoản thanh toán lơng, thanh toán
BHXH, bảng kê danh sách những ngời cha lĩnh cùng với các chứng từ và báo cáo
thu, chi tiền mặt phải chuyển kịp thời cho phòng kế toán kiểm tra, ghi sổ.
-14-
Kinh phí công đoàn để phục vụ chi tiêu cho hoạt động của tổ chức, của giới
lao động nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi của ngời lao động.
1.3>Yêu cầu quản lý lao động và chi phí về lao động:
1.3.1. Yêu cầu quản lý lao động:
Thực chất yêu cầu quản lý lao động đặt ra chính là yêu cầu quản lý về số l-
ợng lao động. Quản lý số lợng lao động theo từng loại lao động, theo nghề nghiệp,
theo công việc, theo trình độ tay nghề. Quản lý lao động cần phải thực hiện theo
sổ sách lao động của doanh nghiệp.
1.3.2. Yêu cầu quản lý chi phí về lao động sống:
Ngời quản lý, ngời chủ doanh nghiệp có mối quan tâm lớn đối với khoản chi
phí về lao động sống. Khoản chi phí về lao động sống này làm tăng giá thành sản
phẩm hàng hoá, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, của chủ đầu t. cho nên chủ
doanh nghiệp càng giảm chi phí bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.Đối với ngời lao
động phần chi phí này là khoản bù đắp hao phí lao động mà họ bỏ ra. Về phía ngời
lao động, bù đắp này càng lớn càng tốt.
Đây chính là mâu thuẫn đối lập trong bản thân một khoảng chi phí đã làm
cho nó vận động đế sự thống nhất và không ngừng hoàn thiện nên vấn đề đặt ra là
phải quản lý khoản chi phí này phải nh thế nào để thống nhất hoà hợp sự mâu
thuẫn này. Một mặt doanh nghiệp cần tăng mức thu nhập cho ngời lao động để
khuyến khích sản xuất, mặt khác doanh nghiệp cần hạ thấp chi phí để giảm giá
thành. Việc tăng lơng cần phải phù hợp với định mức lao động không làm cho chi
phí tiền lơng tăng nhanh hay tránh tình trạng đội giá thành sản phẩm.
1.4> Nội dung tổ chức kế toán lao động tiền lơng và các
khoản liên quan:
1.4.1. Nguyên tắc hạch toán lao động và tiền lơng:
Tại các doanh nghiệp sản xuất, hạch toán chi phí về lao động là một bộ phận
công việc phức tạp trong việc hạch toán chi phí kinh doanh, bởi vì cách trả thù lao
lao động thờng không thống nhất giữa các bộ phận, các đơn vị, các thời kỳ Việc
hạch toán chính xác chi phí về lao động có vị trí quan trọng, là cơ sở để xác định
giá thành sản phẩm và giá bán sản phẩm. Đồng thời nó còn là căn cứ để xác định
các khoản nghĩa vụ phải nộp cho Ngân sách, cho các cơ quan phúc lợi xã hội. Vì
thế để đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời cho quản lý, đòi hỏi hạch toán lao
động và tiền lơng phải quán triệt những nguyên tắc sau:
1.4.1.1 Phải phân loại lao động hợp lý:
Do lao động trong doanh nghiệp có nhiều loại khác nhau nên để thuận lợi
cho việc quản lý và hạch toán, cần thiết phải tiến hành phân loại. Phân loại lao
động là việc sắp xếp lao động vào các nhóm khác nhau theo những đặc trng nhất
định. Về mặt quản lý và hạch toán, lao động thờng đợc phân theo các tiêu thức
sau:
Phân loại theo thời gian lao động:
-5-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
Theo thời gian lao động, toàn bộ lao động có thể chia thành lao động thờng
xuyên, trong danh sách( Gồm cả số hợp đồng ngắn hạn và dài hạn) và lao động
tạm thời mang tính thời vụ. Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp nắm đợc
tổng số lao động của mình, từ đó có kế hoạch sử dụng, bồi dỡng, tuyển dụng và
huy động khi cần thiết. Đồng thời xác định các khoản nghĩa vụ với ngời lao động
và với Nhà nớc một cách chính xác.
Phân theo quan hệ với quá trình Sx:
Dựa theo mối quan hệ của lao động với quá trình sản xuất, có thể phân loại
lao động trong doanh nghiệp thành 2 loại sau
- Lao động trực tiếp sản xuất: Lao động trực tiếp sản xuất chính là bộ phận
công nhân trực tiếp sản xuất hay trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản
phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ. Thuộc loại này bao gồm những ngời
điều khiển thiết bị, máy móc để sản xuất sản phẩm( kể cả cán bộ kỹ thuật
trực tiếp sử dụng, những ngời phục vụ quá trình sản xuất( vận chuyển, bốc dỡ
nguyên, vật liệu trong nội bộ; sơ chế nguyên, vật liệu trớc khi đa vào dây
chuyền ).
- Lao động gián tiếp sản xuất: Đây là một bộ phận lao động tham gia một
cách gián tiếp vào quá trình sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp. Thuộc
bộ phận này gồm các nhân viên kỹ thuật( trực tiếp làm công tác kỹ thuật
hoặc tổ chức, chỉ đạo, hớng dẫn kỹ thuật), nhân viên quản lý kinh tế( trực tiếp
lãnh đạo, tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh nh giám đốc, phó
giám đốc kinh doanh; cán bộ các phòng kế toán, thống kê, ), nhân viên
quản lý hành chính( những ngời làm công tác tổ chức, nhân sự, văn th, đánh
máy, quản trị ).
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp đánh giá đợc tính hợp lý của cơ
cấu lao động. Từ đó, có biện pháp tổ chức, bố trí lao động phù hợp với yêu cầu
công việc, tinh giản bộ máy gián tiếp.
Phân loại theo chức năng của lao động trong quá trình sản xuất kinh
doanh: Theo cách này, toàn bộ lao động trong doanh nghiệp có thể chia
thành 3 loại:
- Lao động thực hiện chức năng sản xuất, chế biến: Bao gồm những lao động
tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp và quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm hay
thực hiện các lao vụ, dịch vụ nh công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên phân
xởng
- Lao động thực hiện chức năng bán hàng: Là những lao động tham gia hoạt
động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ nh nhân viên bán hàng,
tiếp thị, nghiên cứu thị trờng
- Lao động thực hiện chức năng quản lý: Là những lao động tham gia hoạt
động quản trị kinh doanh và quản lý hành chính của doanh nghiệp nh các
nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính
Cách phân loại này giúp cho hoạt động tập hợp chi phí lao động đợc kịp thời,
chính xác, phân định đợc chi phí sản xuất và chi phí thời kỳ
-6-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
1.4.1.2 Phân loại tiền lơng một cách phù hợp:
Do tiền lơng có nhiều loại với tính chất khác nhau, chi trả cho các đối tợng
khác nhau nên cần phân loại tiền lơng theo tiêu thức phù hợp. Trên thực tế có rất
nhiều cách phân loại tiền lơng nh phân loại tiền lơng theo cách thức trả lơng( lơng
sản phẩm, lơng thời gian), phân theo đối tợng trả lơng( lơng trực tiếp, lơng gián
tiếp), phân loại theo chức năng tiền lơng ( lơng sản xuất, lơng bán hàng, lơng
quản lý) Mỗi một cách phân loại đều có những tác dụng nhất định trong quản
lý. Tuy nhiên, để thuận lợi cho công tác hạch toán nói riêng và quản lý nói chung,
về mặt hạch toán, tiền lơng chia làm 2 loại là lơng chính và lơng phụ.
Tiền lơng chính là bộ phận tiền lơng trả cho ngời lao động trong thời gian thực
tế có làm việc bao gồm cả tiền lơng cấp bậc, tiền thởng và các khoản phụ cấp có
tính chất tiền lơng. Ngợc lại, tiền lơng phụ là bộ phận tiền lơng trả cho ngời lao
động trong thời gian thực tế không làm việc nhng đợc chế độ quy định nh nghỉ
phép, hội họp, học tạp, lễ, tết, ngừng sản xuất cách phân loại này không những
giúp cho việc tính toán, phân bổ chi phí tiền lơng đợc chính xác mà còn cung cấp
thông tin cho việc phân tích chi phí tiền lơng.
1.4.2. Các chế độ tiền lơng ( hay hình thức trả lơng):
Việc tính và trả chi phí lao động có thể thực hiện theo nhiều hình thức khác
nhau, tuỳ theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc và trình độ
quản lý của doanh nghiệp. Mục đích của chế độ tiền lơng là nhằm quán triệt
nguyên tắc phân phối theo lao động. Trên thực tế, thờng áp dụng các hình
thức( chế độ) tiền lơng theo thời gian, tiền lơng theo sản phẩm và tiền lơng khoán.
1.4.2.1 Tiền lơng theo thời gian:
Thờng áp dụng cho lao động làm công tác văn phòng nh hành chính quản trị,
tổ chức lao động, thống kê tài vụ- kế toán trả l ơng theo thời gian là hình thức trả
lơng cho ngời lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế, hình thức trả lơng
theo thời gian cũng phản ánh một mức độ nào đó chất lợng lao động, điều kiện lao
động và trình độ lao động của ngời công nhân
Hình thức trả lơng theo thời gian đợc phân thành:
+/ Trả lơng theo thời gian lao động giản đơn:
Theo chế độ này tiền lơng nhận đựoc của mỗi lao động là do mức lơng cấp bậc
cao hay thấp và thời gian làm việc thực tế nhiều hay ít
Có 4 loại lơng theo thời gian lao động giản đơn là:
- Tiền lơng tháng: Tiền lơng tháng là tiền lơng trả cố định hàng tháng trên cơ
sở hợp đồng lao động.
Lơng tháng= Tiền lơng cấp bậc
- Lơng tuần: Là tiền lơng trả cho một tuần làm việc
Lơng tuần= (lơng tháng* 12 tháng)/ 52 tuần
- Lơng ngày: Là tiền lơng trả cho một ngày làm việc
-7-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
Lơng ngày= Lơng tháng/ 26 ngày làm việc theo chế độ
- Lơng giờ: Là tiền lơng phải trả cho một giờ làm việc
Lơng giờ= Lơng ngày/ 8 giờ làm việc
Hình thức này có u điểm nổi bật là dễ tính, dễ trả lơng cho ngời lao động, nh-
ng cách tính nh vậy mang tính bình quân cao khuyến khích ngời lao động tích cực
trong công việc và quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động.
+/ Trả lơng theo thời gian có thởng:
Với hình thức trả lơng theo thời gian có thởng cho ngời công nhân, ngoài số
tiền lơng trả theo hình thức giản đơn ngời công nhân còn nhận đợc một số tiền th-
ởng khi làm tốt một chỉ tiêu nhất định. Hình thức này có tác dụng kích thích ít
nhiều đối với ngời lao động, tuy nhiên hình thức này có một nhợc điểm là ở một
mức độ nhất định có thể làm nảy sinh các yếu tố bình quân chủ nghĩa vì những
công nhân có mức năng suất khác nhau trong điều kiện sản xuất nh nhau, lĩnh
khoản tiền lơng nh nhau sẽ không khuyến khích đợc công nhân nâng cao năng
suất lao động.
1.4.2.2 Trả lơng theo sản phẩm:
Tiền lơng theo sản phẩm là hình thức trả lơng cho ngời lao động căn cứ vào số
lợng, chất lợng sản phẩm họ làm ra. Việc trả lơng theo sản phẩm có thể tiến hành
theo nhiều hình thức khác nhau nh trả theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế, trả
theo sản phẩm gián tiếp, trả lơng theo sản phẩm có thởng, theo sản phẩm luỹ tiến.
Cách trả lơng này có u điểm là khuyến khích công nhân trong tổ, nhóm nâng cao
trách nhiệm trớc tập thể, quan tâm đến kết quả cuối cùng của tổ, song nó có nhợc
điểm là sản lợng của mỗi công nhân cha thể hiện đầy đủ, phân phối theo số lợng
và chất lợng lao động.
Hình thức trả lơng theo sản phẩm đơc phân thành các dạng sau :
- Trả lơng sản phẩm trực tiếp cá nhân:
Cách trả lơng này áp dụng rộng rãi với công nhân trực tiếp sản xuất trong điều
kiện qui trình lao động của ngời công nhân mang tính độc lập tơng đối có thể
định mức kiểm tra và nghiệm thu sản phẩm một cách riêng biệt.
Đơn giá tiền lơng của cách trả lơng này là cố định
DG = L/ Q
Tiền lơng công nhân sẽ là:
L= Q * Đg
Trong đó:
Đg : Đơn giá tiền lơng
L : Tiền lơng sản phẩm
Q : Mức sản lợng
-8-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
- Trả lơng theo sản phẩm gián tiếp :
Cách này áp dụng với những công nhân phụ mà công việc của họ ảnh hởng
đến kết quả lao động của công nhân chính hởng lơng theo sản phẩm. Trong công
việc mà ngời công nhân chính hoặc phụ gắn chặt với nhau nhng không trực tiếp
tính lơng của công nhân phụ. Tiền lơng của công nhân phụ phụ thuộc vào tiền l-
ơng của công nhân chính. Cách trả lơng này khuyến khích công nhân phục vụ tốt
hơn, tạo điều kiện cho công nhân chính tăng năng suất lao động nhng vì phụ thuộc
vào kết quả của công nhân phụ do đó việc trả lơng cha thật chính xác, cha đảm
bảo đúng hao phí lao động mà công nhân phụ bỏ ra.
1.4.2.3 Trả lơng khoán :
Hình thức này thờng đợc áp dụng trong xây dựng cơ bản. Trong cách trả lơng
này thì tuỳ theo công việc cụ thể mà đa ra đơn giá khoán thích hợp với yêu cầu là
phải tính toán đơn ghía một cách tỉ mỉ, chặt chẽ đến từng yếu tố sản xuất nh máy
móc nguyên vật liệu và thời gian sản xuất.
Trong cách trả lơng naỳ có những điểm khácvới hình thức trả lơng theo sản
phẩm:
- Sản phẩm khoán gọn có thể có mức hoàn thiện cao hơn
- Đảm bảo cho ngời lao động liên kết chặt chẽ với nhau và tự giác cao hơn
quan tâm đến kết quả cuối cùng nhiều hơn, không bỏ sót khối lợng, hoặc khối
lợng không bị tính trùng lặp, ở hình thức khoán gọn phải ký hợp đồng kinh tế
cụ thể trong đó phân định rõ trách nhiệm và tính toán cụ thể cho nhời lao
động biết đợc trớc nhiệm vụ phải làm và khoản tiền đợc hởng kích thích kinh
tế mạnh hơn .
Hình thức khoán gọn có thể áp dụng cho xây dựng gọn là một công trình một
hạng mục công trình cho một dây chuyền thi công hoặc là một công việc lẻ mà
khối lợng của nó khó có thể xác định đợc.
Đơn vị nhận khoán gọn có thể là một tổ một đơn vị sản xuất hay là cá nhân
ngời lao động, đây là một hình thức trả lơng tiến bộ mang lại hiệu quả kinh tế cao.
1.4.3. Hạch toán lao động về mặt số lợng, thời gian và kết quả lao động:
Để quản lý lao động về mặt số lợng, các doanh nghiệp sử dụng sổ sách lao
động. Sổ này là do phòng lao động tiền lơng lập( lập chung cho toàn doanh nghiệp
và lập riêng cho từng bộ phận) nhằm nắm chắc tình hình phân bổ, sử dụng lao
động hiện có trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn căn cứ vào sổ
lao động( mở riêng cho từng ngời lao động) để quản lý lao động về cả số lợng và
chất lợng lao động, về biến động và chấp hành chế độ đối với lao động.
Muốn quản lý và nâng cao hiệu quả về sử dụng lao động, cần phải tổ chức
hạch toán việc sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động. Chứng từ sử dụng
để hạch toán thời gian lao động là bảng chấm công.Bảng chấm công đợc dùng cho
từng bộ phận, tổ, đội lao động sản xuất, trong đó ghi rõ ngày làm việc, nghỉ việc
của mỗi ngời lao động. Bảng chấm công do trởng( hoặc trởng các phòng, ban) trực
tiếp ghi và để nơi công khai để công nhân viên chức giám sát thời gian lao động
-9-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
của từng ngời. Cuối tháng, bảng chấm công đợc dùng để tổng hợp thời gian lao
động và tính lơng cho từng bộ phận, tổ, đội sản xuất.
Để hạch toán kết quả lao động, kế toán sử dụng những loại chứng từ khác
nhau, tuỳ theo loại hình thức và đặc điểm sản xuất của từng doanh nghiệp. Mặc dù
sử dụng các loại chứng từ khác nhau nhng các chứng từ này đều bao gồm các nội
dung cần thiết nh tên công nhân, tên công việc hoặc sản phẩm, thời gian lao động,
số lợng sản phẩm hoàn thành nghiệm thu, kỳ hạn và chất lợng công việc hoàn
thành Đó chính là các báo cáo về kết quả nh Phiếu giao, nhận sản phẩm,
phiếu khoán, hợp đồng giao khoán, phiếu báo làm thêm giờ, phiếu xác
nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành, Bảng kê năng suất tổ, Bảng kê
khối lợng công việc hoàn thành, Bảng kê sản lợng từng ngời
Chứng từ hạch toán lao động phải do ngời lập (tổ trởng) ký, cán bộ kiểm tra
kỹ thuật xác nhận, đợc lãnh đạo duyệt (quản đốc phân xởng, trởng bộ phận). Sau
đó, các chứng từ này đợc chuyển cho nhân viên hạch toán phân xởng để tổng hợp
kết quả lao động toàn đơn vị, chuyển về phòng lao động tiền lơng xác nhận. Cuối
cùng chuyển về phòng kế toán doanh nghiệp để làm căn cứ tính lơng, tính thởng.
Để tổng kết kết quả lao động, tại mỗi phân xởng, bộ phận sản xuất, nhân viên hạch
toán công xởng phải mở sổ tổng hợp kết quả lao động. Trên cơ sở các chứng từ
hạch toán kết quả lao động lao động do các tổ gửi đến, hàng ngày ( hoặc định kỳ),
nhân viên hạch toán phân xởng ghi kết quả lao động cho từng ngời, từng bộ phận
vào sổ và cộng sổ, lập báo cáo kết quả lao động gửi cho các bộ phận quản lý có
liên quan. Phòng kế toán doanh nghiệp cũng phải mở sổ tổng hợp kết quả lao động
để tổng hợp kết quả chung toàn doanh nghiệp.
1.4.4. Quỹ tiền lơng, quỹ BHXH, BHYT và kinh phí công đoàn:
1.4.4.1 Quỹ tiền lơng:
Quỹ tiền lơng của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lơng mà doanh nghiệp trả
cho tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý. Tành phần quỹ tiền lơng bao gồm
nhiều khoản nh lơng thời gian (tháng, ngày, giờ), lơng sản phẩm, phụ cấp (cấp
bậc, khu vực, chức vụ ), tiền th ởng trong sản xuất. Quỹ tiền lơng (hay tiền công)
bao gồm nhiều loại; tuy nhiên, về mặt hạch toán có thể chia thành tiền lơng lao
động trực tiếp và tiền lơng lao động gián tiếp, trong đó chi tiết theo tiền lơng chính
và tiền lơng phụ.
1.4.4.2 Quỹ BHXH, BHYT và kinh phí công đoàn:
Ngoài tiền lơng, công nhân viên chức còn đợc hởng các khoản trợ cấp phúc
lợi xã hội, trong đó có trợ cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Quỹ bảo hiểm xã hội:
- Quỹ BHXH đợc hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số
quỹ tiền lơng cấp bậc và các khoản phụ cấp (chức vụ, khu vực, thâm niên)
của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng. Theo chế độ hiện
hành, tỷ lệ trích bảo hiểm xã hội là 20%, trong đó 15% là do đơn vị hoặc chủ
sử dụng lao động nộp, đợc tính vào chi phí kinh doanh; 5% còn lại do ngời
lao động đóng góp và đợc trừ vào lơng tháng. Quỹ bảo hiểm xã hội đợc chi
-10-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
tiêu trong các trờng hợp ngời lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, hu trí, tử tuất. Quỹ naỳ do cơ quan bảo hiểm xã hội quản
lý.
- Các chế độ BHXH:
+ Chế độ trợ cấp ốm đau: Ngời lao động nghỉ việc do ốm đau, tai nạn rủi ro
mà có xác nhận của các tổ chức y tế Nhà nớc đều đợc hởng trợ cấp của BHXH.
Thời gian tối đa mà ngời lao động đợc hởng trợ cấp tuỳ thuộc vào điều kiện làm
việc và thời gian đóng BHXH. Thời gian nghỉ hàng năm có các mức 30, 40 hoặc
50 ngày/năm.
Mức trợ cấp ốm đau đợc tính nh sau:
Mức trợ cấp Tiền lơng làm căn cứ đóng BHXH của tháng
1 ngày trớc khi ốm đau * 75%
26 ngày
Ngời lao động bị ốm phải điều trị dài ngày theo danh mục y tế quy định thì
thời gian hởng trợ cấp tối đa là 180 ngày trong 1 năm không phân biệt thời gian
đóng BHXH nhiều hay ít. Nếu quá 180 ngày mà vẫn còn phải nghỉ thì vẫn đợc h-
ởng trợ cấp nhng ở mức 70%.
+ Chế độ trợ cấp thai sản: Đối voái lao động nữ khi sinh con thời gian hởng
trợ cấp phụ thuộc vào điều kiện và tính chất công việc. Thời gian gồm 4 tháng với
ngời lao động làm công việc bình thờng, 5 tháng với những ngời làm việc nặng
nhọc. Trợ cấp thai sản trong thời gian nghỉ việc bằng 100% mức tiền lơng đóng
BHXH. Ngoài ra khi sinh con đợc hởng trợ cấp 1 lần bằng 1 tháng lơng đóng
BHXH.
+ Chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Ngời lao động bị tai
nạn trong và ngoài giờ làm việc, ngoài nơi làm việc khi thực hiện làm việc theo
yêu cầu của ngời sử dụng lao động, tai nạn trên tuyến đờng về nhà từ nơi làm việc.
Ngời sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm trả các khoản chi phí y tế và tiền l-
ơng từ khi sơ cú, cấp cứu đến khi điều trị ổn định thơng tật cho ngời lao động.
Sau khi điều chỉnh thơng tật, ngời sử dụng lao động có trách nhiệm sắp xếp
công việc phù hợp cho ngời bị tai nạn lao động và đợc tổ chức BHXH giới thiệu đi
giám định khả năng lao động.
Ngời bị tai nạn lao động đợc hởng trợ cấp tuỳ thuộc vào mức độ suy giảm
khả năng lao động và đợc tính theo mức lơng tối thiểu chung do chính phủ công
bố.
Ngời bị suy giảm từ 5%- 30% khả năng lao động đợc hởng trợ cấp một lần,
mức trợ cấp phụ thuộc vào khả năng suy giảm sức lao động, mức độ suy giảmcàng
nhiều thì mức trợ cấp càng lớn nhng không quá 12 tháng lơng tối thiểu.
-11-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
Ngời bị suy giảm từ 31%- 100% sức lao động thì hàng tháng đều đợc trợ cấp
0,4 tháng tiền lơng tối thiểu đến 1,6 tháng tiền lơng tối thiểu.
+ Chế độ hu trí: Ngời lao động khi đủ tuổi đời thì thời gian quy định đóng
BHXH chỉ cần 15 năm. Nếu ngời lao động về hu có mức lơng hu thấp nhất thì đợc
nâng bằng mức lơng tối thiểu.
+ Chế độ trợ cấp tử tuất: Ngời lao động đanglàm việc hoặc đang chờ giải
quyết chế độ hu trí mà Nếu bị chết thì ngời lo mai táng đợc nhận tiền mai táng 8
tháng tiền lơng tối thiểu.
Cuối tháng, doanh nghiệp trực tiếp thanh quyết toán các khoản chi trợ cấp
BHXH cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp với tổ chức công đoàn câps
trên theo đúng chế độ quản lý quỹ BHXH. Nếu số chi trợ cấp BHXH cho cán bộ
công nhân viên của công nhân lớn hơn số quỹ BHXH đợc Nhà nớc giao cho công
nhân quản lý thì số chênh lệch trên sẽ đợc cấp trên bù, ngợc lại, Nếu thấp hơn thì
doanh nghiệp phải nộp trả số chênh lệch đó.
Quỹ bảo hiểm y tế:
Quỹ bảo hiểm y tế đợc sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám, chữa
bệnh, viện phí, thuốc thang cho ng ời lao động trong thời gian ốm đau, sinh đẻ.
Quỹ này đợc hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lơng
của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng. Tỷ lệ bảo hiểm y tế hiện
hành là 3%, trong đó 2% tính vào chi phí kinh doanh và 1% trừ vào thu nhập của
ngời lao động.
Tổng quỹ tiền lơng để làm căn cứ trích nộp BHYT là tổng quỹ tiền lơng thực
trả cho cán bộ công nhân viên trong đơn vị, bao gồm
+ Tiền lơng trả theo sản phẩm, lơng khoán có định mức hoặc lơng thời gian
theo hệ thống thang bảng lơng cấp bậc do Nhà nớc quy định.
+ Tiền lơng trả trong thời gian tập sự thử việc.
+ Tiền lơng trả trong thời gian ngừng việc do khách quan.
Kinh phí công đoàn:
Ngoài BHXH và BHYT ra, để có nguồn chi phí cho hoạt động công đoàn,
hàng tháng, doanh nghiệp còn phải trích theo một tỷ lệ quy định với tổng số quỹ
tiền lơng, tiền công và phụ cấp (phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp
khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đặc biệt, phụ cấp độc hại, nguy
hiểm, phụ cấp lu động, phụ cấp thâm niên, phụ cấp phục vụ quốc phòng, an ninh)
thực tế phải trả cho ngời lao động- kể cả lao động hợp đồng tính vào chi phí kinh
doanh để hình thành kinh phí công đoàn. Tỷ lệ kinh phí công đoàn theo chế độ
hiện hành là 2%.
Cơ cấu quỹ tiền lơng doanh nghiệp căn cứ trích nộp KPCĐ ớ các doanh
nghiệp bao gồm:
+ Tiền lơng theo sản phẩm, lơng khoán, lơng thời gian.
+ Tiền lơng trả trong thời gian tập sự thử việc.
-12-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
+ Tiền lơng trả trong thời gian ngừng việc do khách quan.
Trong các doanh nghiệp tổ chức công đoàn là một tổ chức rộng rãi của công
nhân, phong trào công đoàn ngày càng phát triển thì đời sống của công nhân ngày
càng cao. Vì vậy, việc trích nộp KPCĐ tạo nguồn quỹ là trách nhiệm của giám đốc
doanh nghiệp.
1.4.5. Hạch toán tổng hợp tiền lơng và BHXH:
1.4.5.1 Hạch toán chi tiết tiền lơng, bảo hiểm xã hội:
Tiền lơng và các khoản liên quan đến lơng của ngời lao động không chỉ là
vấn đề quan tâm riêng của công nhân viên mà còn là vấn đề của doanh nghiệp, vì
vậy kế toán lao động và thù lao lao động có nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Phản ánh chính xác, đầy đủ tiền lơng và kết quả lao động của cán bộ công
nhân viên, quản lý chặt chẽ việc sử dụng, chi tiêu quỹ lơng.
+ Tính toán phân bổ hợp lý, chính xác chi phí về tiền lơng (tiền công) và các
khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ cho các đối tợng liên quan.
+ Định kỳ tiến hành phân tích tình hình lao động, tình hình quản lý và chi
tiêu quỹ lơng. Cung cấp các thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phạn liên quan.
1.4.5.2 Hạch toán kết quả lao động:
Tuỳ theo hình thức trả lơng mà hạc toán kết quả lao động gồm:
+ Hạch toán thời gian lao động.
+ Hạch toán sản lợng.
Để hạch toán chính xác thời gian lao động ta dùng bảng chấm công
Đơn vị: Mẫu số 01
Ban hành kèm theo quyết định số
589/TC- CĐKT ngày 8/12/1990 của
BXD
Bảng chấm công
-13-
Chuyên đề thực tập. Đặng Anh Tuấn
STT Họ và
tên
Chức vụ hoặc
bậc lơng
Ngày trong tháng
1 2 3 30 31 Cộng
hởng
lơng
Cộng
hởng
BHXH
Nghỉ
không
lơng
A B C 1 2 3
1
2
Ngày tháng năm
Ngời chấm công Phụ trách bộ phận
Các ký hiệu chấm công
+ Làm việc: x
+ ốm: Ô
+ Con ốm: Cô.
+ Nghỉ phép: F.
+ Nghỉ không lơng: P.
+ Nghỉ không lý do: O.
Chứng từ hạch toán kết quả lao động do ngời lập ký, cán bộ kiểm tra kỹ thuật
xác định, đợc lãnh đạo duyệt. Sau đó các chứng từ này đợc chuyển cho nhân viên
hạch toán phân xởng để tập hợp kết quả lao động toàn đơn vị rồi chuyển về phòng
lao động và tiền lơng xác nhận. Cuối cùng chuyển về phòng kế toán công ty để
làm căn cứ tính lơng, tính thởng. Để tổng hợp kết quả lao động, tại mỗi phân xởng,
bộ phận sản xuất, nhân viên hạch toán phân xởng phải mở sổ tổng hợp kết quả lao
động. Trên cơ sở các chứng từ hạch toán kết quả lao động do các tổ gửi đến, hàng
ngày hoặc định kỳ nhân viên hạch toán phân xởng ghi kết quả lao động của từng
ngời, từng bộ phận quản lý liên quan. Phòng kế toán công ty cũng phải mở sổ tổng
hợp kết quả lao động chung toàn công ty.
Để hạch toán tiền lơng (tiền công) các khoản phụ cấp, trợ cấp cho ngời lao
động, hàng tháng kế toán doanh nghiệp phải lập Bảng thanh toán lơng cho từng
đội, phân xởng sản xuất và các phòng ban căn cứ vào kết quả tính lơng cho từng
ngời. Trên bảng tính lơng cần ghi rõ các khoản tiền lơng (lơng sản phẩm, lơng thời
gian), các khoản phụ cấp, trợ cấp, các khoản khấu trừ và số tiền ngời lao động còn
đợc lĩnh. Khoản thanh toán về trợ cấp BHXH cũng đợc lập tơng tự sau khi kế toán
lơng kiểm tra, xác nhận và ký, giám đốc duyệt y bảng thanh toán lơng và BHXH
cho ngời lao động.
Thông thờng tại các doanh nghiệp, việc thanh toán và các phụ cấp khác cho
ngời lao động đợc chia làm 2 kỳ: Kỳ I tạm ứng, kỳ II sẽ nhận số còn lại sau khi đã
trừ các khoản khấu trừ vào thu nhập. Các khoản thanh toán lơng, thanh toán
BHXH, bảng kê danh sách những ngời cha lĩnh cùng với các chứng từ và báo cáo
thu, chi tiền mặt phải chuyển kịp thời cho phòng kế toán kiểm tra, ghi sổ.
-14-
Biện pháp giảm tải bài học về tác gia ở trung học phổ thông (bài Nguyễn Trãi).pdf
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.1.3.Yêu cầu giảm tải………………………………………………… 31
2.2. Quá tải bài học về tác gia văn học……………………………… 32
2.2.1. Thực trạng quá tải trong dạy học bài học về tác gia văn học
(Tác gia Nguyễn Trãi)…………………………………………… 32
2.2.2. Nguyên nhân của tình trạng quá tải trong dạy học bài học về tác gia 35
2.2.3. Yêu cầu giảm tải bài học về tác gia Nguyễn Trãi………………. 38
2.3. Những biện pháp giảm tải bài học về tác gia Nguyễn Trãi… 40
2.3.1. Đổi mới tư duy dạy học (quan niệm hiệu quả giờ học không
phải ở kiến thức mà là cách nắm kiến thức)………………………… 40
2.3.2. Giáo viên phải biết lựa chọn kiến thức then chốt………………. 44
2.3.3. Phát huy khả năng tự tìm kiếm kiến thức của học sinh………… 50
2.3.4. Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học bài học về tác gia
văn học ở nhà trường phổ thông………………………………… 62
Chương 3: Thiết kế thực nghiệm……………………………………. 70
3.1. Mục đích thực nghiệm……………………………………………. 70
3.2. Đối tượng thực nghiệm…………………………………………… 70
3.3. Cách thức tiến hành thực nghiệm………………………………… 70
3.3.1. Lược thuật tóm tắt cách dạy phổ biến hiện nay………………… 70
3.3.2. Thiết kế bài học về tác gia Nguyễn Trãi trong chương trình
Ngữ văn lớp 10…….…………………………………………… 70
3.3.3. Tổ chức giảng dạy thực nghiệm………………………………… 83
3.3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm………………………………… 83
Phần ba: Kết luận……………………………………………………. 86
Bảng chú giải………………………………………………………… 88
Tài liệu tham khảo…………………………………………………… 89
Phụ lục………………………………………………………………… 92
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Quá tải là một vấn đề bức xúc trong thực tiễn dạy- học ở nhà trường
phổ thông hiện nay. Điều đó được thể hiện: các nhà quản lý giáo dục lo lắng
về sự quá tải, luôn kêu gọi phải giảm tải, giảm sức ép đối với người học; các
công văn, chỉ thị của các nhà quản lý giáo dục như: Chủ trương của Bộ GD-
ĐT giảm tải đối với chương trình của Giáo dục phổ thông (Quy định giảm tải
của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 16/05/2000).
Tình trạng quá tải ở nhà trường phổ thông là sức nặng và trở thành vấn
đề nhức nhối đối với giáo viên và học sinh. Giáo viên- người trực tiếp thực thi
chương trình kêu ca rất nhiều về sự quá tải; thời lượng dành cho một tiết học
là 45 phút, trừ ổn định tổ chức lớp, kiểm tra bài cũ thì bài học còn chưa đầy
40 phút! Đó là một thực tế mà bất cứ giáo viên đứng lớp nào cũng nhận thấy.
Có những bài học chỉ trong một tiết vừa tìm hiểu về tác giả, lại vừa khai thác
nội dung của tác phẩm, như: Bài học về Truyện thơ, Chinh phụ ngâm, Hương
Sơn phong cảnh ca… Đó là căn nguyên của sự quá tải.
Sự bức xúc ấy không chỉ có vậy, Học sinh là người trực tiếp chịu sức
ép của vấn đề quá tải. Do thời gian ít, phải học nhiều môn, chưa kể đến một
số thầy cô đòi hỏi cao. Chuyện học sinh không làm hết bài trước khi đến lớp,
làm bài, soạn bài đối phó là rất phổ biến.
Quá tải học đường không còn là chuyện của những người trong cuộc
nữa mà đã trở thành nỗi lo lắng chung của toàn xã hội, phụ huynh học sinh lo
lắng nhiều về sức ép học tập của con em mình, Báo chí lên tiếng nhiều về tình
trạng quá tải học đường. Đây không phải là một vấn đề mới, ngược lại tình
trạng quá tải đã được các nhà giáo, nhà nghiên cứu giáo dục cảnh báo từ lâu
như: bài viết " Chuyện quá tải học đường" của Giáo sư Phan Trọng Luận vẫn
còn nhiều ý nghĩa cho người viết SGK cải cách hay phân ban hiện nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
2. Bài học về tác gia là kiểu bài tiềm ẩn nhiều yếu tố, tiền đề cho việc
quá tải. Kiểu bài học về tác gia thường bao gồm các phần như: Cuộc đời và
con người của nhà văn, ở phần này có các kiến thức về cuộc đời, gia đình, về
thời đại của nhà văn; Phần thứ hai là sự nghiệp văn chương, phần này là kiến
thức về các thể loại, quan điểm, tư tưởng, thành tựu, nội dung và phong cách
sáng tác của nhà văn. Như vậy, bài học về tác gia chứa đựng một dung lượng
lớn kiến thức, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau (Bao gồm cả kiến thức khái
quát và kiến thức cụ thể). Mặt khác, còn nhiều kiến thức trùng lặp, giờ học lại
thiên về cung cấp kiến thức nên hiệu quả giờ học không cao.
3. Tác gia Nguyễn Trãi là một trong những tác gia tiêu biểu trong nhà
trường phổ thông. Ông là một nhà văn lớn, nhà văn hoá lớn, một nhà quân sự
kiệt xuất, cuộc đời đầy bi kịch. Nguyễn Trãi có một sự nghiệp sáng tác to lớn,
với nhiều thể loại, nhiều lĩnh vực và trong lĩnh vực nào ông cũng thành công.
Nguyễn Trãi là một nhà quân sự kiệt xuất bởi trong cuộc kháng chiến
chống giặc Minh xâm lược, Ông là một đại tướng quân của nghĩa quân Lam
Sơn, luôn sát cánh cùng Lê Lợi đánh tan quân Minh xâm lược giành lại nền
độc lập cho đất nước. Không chỉ vậy, Nguyễn Trãi còn là một nhà văn hoá
lớn. Năm 1980, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc
(UNESCO) đã công nhận Nguyễn Trãi là danh nhân văn hoá thế giới.
4. Phương pháp giảng dạy của giáo viên đối với kiểu bài tác gia hiện
nay còn gặp lúng túng, chưa tìm ra phương pháp giảng dạy hợp lí và hiệu quả.
Thực tế cho thấy, các bài học về tác gia đều được giáo viên giảng dạy
bằng phương pháp thuyết trình, giảng giải từ đầu đến cuối, học sinh chỉ nghe
và ghi. Như vậy, giờ học không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của
học sinh. Điều này đi ngược lại với phương pháp dạy học hiện đại; Phương
pháp dạy học hiện đại lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm, thầy chỉ là
người hướng dẫn, trò là chủ thể hoạt động. Tuy nhiên, với một khối lượng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
kiến thức lớn, phức tạp, quỹ thời gian có hạn, giáo viên lại chưa tìm được
phương pháp giảng dạy hợp lí, đó cũng là nguyên nhân dễ dẫn đến quá tải.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
"Biện pháp giảm tải bài học về tác gia ở trung học phổ thông(Bài Nguyễn
Trãi)" với mong muốn góp phần đề xuất giảm tải bài học về tác gia văn học ở
nhà trường phổ thông trong xu thế phát triển chung của giáo dục nước nhà.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Hiện tượng quá tải kiến thức trong nhà trường phổ thông không còn là
chuyện riêng của những người làm giáo dục nữa mà nó trở thành vấn đề bức
xúc của toàn xã hội, nó đã và đang là mối quan tâm lo lắng của toàn ngành
giáo dục khi tốc độ phát triển của khoa học kĩ thuật ngày càng mạnh mẽ.
Đứng trước tình trạng đó, các nhà quản lí, nghiên cứu giáo dục đã bỏ ra không
ít công sức để tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng quá tải và đề xuất biện
pháp giảm tải cho chương trình giảng dạy, học tập ở nhà trường phổ thông.
Trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 342- Chuyên đề quý II/2000 tác
giả Phạm Minh Chí có bài viết: "Về vấn đề giảm tải nội dung chương trình,
Sách giáo khoa trung học". Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra cách khắc phục
hữu hiệu tình trạng quá tải, đó là điều chỉnh nội dung Sách giáo khoa, cần
mạnh dạn cắt bỏ phần trùng lặp ở môn học mà chương trình xây dựng kiểu
đồng tâm và những phần trùng lặp giữa các môn trong nhóm. Đưa ra khỏi
chương trình phổ thông (hoặc giảm thời lượng) những tri thức đơn giản mà
học sinh có thể tiếp nhận qua những kênh thông tin khác, bỏ những tri thức
không phù hợp với lứa tuổi.
Cũng trên tạp chí này có bài viết "Nguyên tắc giảm tải nội dung,
chương trình và Sách giáo khoa bậc trung học" của hai tác giả: Nguyễn Thị
Minh Phương và Nguyễn Hữu Chí (Viện khoa học giáo dục). Hai tác giả cho
rằng: muốn giảm tải phải rà soát lại chương trình Sách giáo khoa, cắt giảm, hạ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
mức độ đối với những kiến thức khó, phức tạp, không phù hợp với đa số học
sinh; một số phần lý thuyết không thiết thực với học sinh hiện nay cũng nên gạt
bỏ. Các nhà soạn sách cũng nên mạnh dạn cắt bỏ những nội dung trùng lặp
hoặc gần giống nhau giữa các môn học, giữa các lớp trong cùng một môn học.
Ngày 16/05/2000, Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành quy định giảm tải
chương trình giáo dục ở tất cả các cấp học. Báo Giáo dục và Thời đại- số
48/2003, tác giả Nguyễn An Cư có bài: "Sau ba năm thực hiện quy định giảm
tải". Theo tác giả, sau ba năm thực hiện quy định trên thì còn rất nhiều vấn đề
nẩy sinh. Đơn cử ở bậc trung học cơ sở Sách giáo khoa mới tái bản nhưng nội
dung chỉnh sửa vẫn không được in sửa lại. Điều này tạo ra sự nhầm lẫn cho
học sinh và phụ huynh học sinh, thậm chí cả giáo viên đứng lớp. Do vậy, học
sinh không những không được giảm tải mà còn phải học một chương trình
nặng hơn!
Cùng bàn về vấn đề quá tải, Giáo sư Phan Trọng Luận có bài: "Một cơ
hội tốt để đổi mới đồng bộ chương trình, Sách giáo khoa và phương pháp dạy
học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông" đăng trên Tạp chí Giáo dục số
64(08/2003). Giáo sư đưa ra ý kiến: "Chương trình và Sách giáo khoa Ngữ
văn lần này cần được xây dựng như một chỉnh thể văn hoá mở trong nhiều
mối quan hệ: đặc trưng của văn chương với nhiệm vụ chính trị, từng giai đoạn
cách mạng; nội dung chương trình với đặc điểm lứa tuổi học sinh trong từng
thời kì lịch sử nhất định; nội dung chương trình tiến bộ gắn liền với phương
pháp hiện đại, tri thức nhân văn gắn liền với hệ thống kĩ năng cần hình thành;
mối quan hệ giữa các bộ phận Văn- Tiếng việt và Làm văn; mối quan hệ giữa
Ngữ văn với các bộ môn khác trong chương trình; mối quan hệ giữa chương
trình THPT với chương trrình THCS trong một hệ thống hoàn chỉnh; những
thành tựu của các khoa học kế cận cùng hiểu biết về một nền giáo dục hiện
đại nhất là mô hình nhà trường hiện đại". Từ quan điểm này, chương trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Ngữ văn sẽ được giảm tải bởi ba phân môn Văn học, Tiếng việt và Làm văn
được tích hợp một cách khoa học, tránh được những vướng mắc trong những
thập kỉ qua (Điều này được thể hiện rất rõ trong bộ Sách giáo khoa mới được
thực hiện từ năm học:2006- 2007).
Trong những bài viết, công trình nghiên cứu chúng tôi đặc biệt chú ý
tới Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục: "Một số biện pháp giảm tải trong giờ
học văn học sử ở THPT qua bài: Khái quát về văn học Việt nam từ đầu thế kỉ
XX đến Cách mạng tháng Tám 1945"(2005) của tác giả Nguyễn Thu Hoà. Sau
khi khảo sát, đánh giá thực trạng dạy và học bài học Văn học sử trong nhà
trường phổ thông, tác giả đã chỉ ra nguyên nhân của tình trạng quá tải, đồng
thời đưa ra một số biện pháp giảm tải. Theo tác giả Nguyễn Thu Hoà, nguyên
nhân của tình trạng quá tải trong dạy học Văn học sử là do "tính lịch sử" của
Văn học sử. "Lịch sử Văn học là lịch sử phát triển của ngôn ngữ nghệ thuật,
chứa đựng nội dung, tư tưởng, tình cảm của con người qua các thời đại"
(1)
.
Lịch sử văn học Việt nam phát triển đúng với quy luật phát triển của văn học
dân tộc, sự phát triển của Cách mạng dân tộc. Mặt khác, văn học giữa các dân
tộc khác nhau lại có sự khác nhau(tư tưởng, tình cảm thẩm mĩ khác nhau). Do
những đặc điểm trên, nên khi giảng dạy bài học Văn học sử phải đảm bảo tính
lịch sử và tính văn học. Tính lịch sử là lịch sử văn học chứ không phải thông
sử, là lịch sử phát triển nội dung, hình thức văn học. Do vậy, nội dung bài học
thường rất lớn. Bao gồm cả kiến thức lý luận và kiến thức văn học; vừa có
kiến thức khái quát, vừa có kiến thức cụ thể, cho nên bài học rất dễ dẫn đến
tình trạng quá tải. Tác giả Nguyễn Thu Hoà cho rằng: tình trạng quá tải trong
dạy học Văn học sử hiện nay là do mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức cần
truyền đạt với thời gian và tính vừa sức đã tạo nên sự quá tải bấy lâu nay
trong dạy học Văn học sử. Tác giả lấy ví dụ: trong sách giáo khoa hiện hành ở
lớp 11 bài: "Khái quát Văn học Việt nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
tháng Tám 1945". Bài viết trong Sách giáo khoa gồm 16 trang, theo phân phối
chương trình được dạy trong 3 tiết(135 phút), giáo viên phải truyền đạt: 19
đơn vị kiến thức khái quát về lịch sử, văn hoá, xã hội, chính trị; 144 đơn vị
kiến thức khái quát về văn học và 181 đơn vị kiến thức cụ thể về văn học. Đó
là một khối lượng kiến thức lớn dễ dẫn đến quá tải.
Thông qua khảo sát, nghiên cứu, tác giả Nguyễn Thu Hoà đã đưa ra
một số biện pháp giảm tải cho bài học văn học sử. Theo tác giả, dạy học bài
học Văn học sử phải lựa chọn và tinh giản kiến thức khái quát, sắp xếp kiến
thức theo hệ thống luận điểm rõ ràng; phát huy khả năng tự tìm tòi kiến thức
của học sinh bằng cách khơi dậy khả năng hoạt động sáng tạo của học sinh,
xây dựng hệ thống câu hỏi phát huy khả năng tự tìm kiếm của học sinh,
hướng dẫn học sinh làm việc với sách giáo khoa, tăng cường kiến thức kĩ
năng và phương pháp cho học sinh; vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy
học văn học sử. Cuối cùng tác giả công trình kết luận: Then chốt của vấn đề
giảm tải là thay đổi quan điểm dạy học. Dạy học không phải chỉ là dạy cái gì
mà còn dạy học sinh bằng cách nào chiếm lĩnh được tri thức. Dạy học có hiệu
quả không nằm ở dung lượng kiến thức mà là khả năng nắm bắt và vận dụng
kiến thức của học sinh sau bài học.
Qua tìm hiểu một số công trình nghiên cứu về vấn đề quá tải, chúng tôi
nhận thấy các nhà nghiên cứu đã đề cập đến thực trạng quá tải ở nhà trường
phổ thông hiện nay và đưa ra các biện pháp khắc phục, song mới chỉ dừng lại
ở những nghiên cứu mang tính tổng quát. Các nghiên cứu mới đề cập ở bình
diện quan niệm, nhận thức chưa có giải pháp cho kiểu bài cụ thể về tác gia.
Đặt vấn đề quá tải vào những bài học cụ thể lại có những tồn tại riêng và cần
có cách giải quyết riêng mới đạt được hiệu quả tích cực.
Trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu của các nhà giáo dục khi
nghiên cứu về vấn đề quá tải và thực tế giảng dạy bài học về tác gia văn học,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp giảm tải giờ học về tác gia văn
học ở trung học phổ thông (THPT) với mong muốn tìm ra phương pháp tối ưu
nhất trong dạy học văn nói chung và dạy học bài học về tác gia nói riêng.
III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1. Mục đích:
- Thống kê để nhận diện một cách có căn cứ thực trạng quá tải trong
giờ dạy về tác gia ở THPT.
- Xác lập quan điểm đúng đắn về vấn đề giảm tải, đặc biệt trong bài học
về tác gia ở THPT.
2. Nhiệm vụ:
- Chỉ ra nguyên nhân của sự quá tải kiến thức ở nhà trường phổ thông,
cụ thể trong bài học về tác gia Nguyễn Trãi.
- Đưa ra một số giải pháp giảm tải trong bài học về tác gia ở THPT.
IV. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Phạm vi nghiên cứu:
Do yêu cầu của đề tài: Biện pháp giảm tải bài học về tác gia ở trung
học phổ thông(Bài Nguyễn Trãi) nên chúng tôi chỉ tập trung vào khảo sát,
nghiên cứu bài học về tác gia Nguyễn Trãi trong chương trình ở nhà trường
phổ thông(lớp 10) và đưa ra biện pháp giảm tải.
2. Đối tƣợng nghiên cứu:
- Bài "Tác gia Nguyễn Trãi"- Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 2- NXB
Giáo dục do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành (2006).
- Giáo án và giờ dạy bài học về tác gia Nguyễn Trãi của giáo viên.
- Thực tế học bài học về tác gia của học sinh phổ thông.
V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được đề tài này chúng tôi sử dụng những phương pháp
nghiên cứu khác nhau, nhưng chủ yếu là các phương pháp sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
1. Phương pháp phân tích: phân tích kiến thức khái quát, cụ thể trong
bài: "Tác gia Nguyễn Trãi", phân tích giáo án của giáo viên và dự giờ giảng
bài "Tác gia Nguyễn Trãi" để đánh giá về mức độ quá tải và chỉ ra nguyên
nhân của sự quá tải.
2. Phương pháp khảo sát, điều tra: nhằm đánh giá chất lượng tiếp thu
bài của học sinh, giờ dạy và giáo án của giáo viên.
3. Phương pháp so sánh tổng hợp: Nhằm đưa ra những kết luận khoa
học và kết luận sư phạm cụ thể. Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp giảm
tải trong bài học về tác gia văn học.
4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: nhằm xem xét, xác nhận tính
đúng đắn, hợp lý và khả thi của biện pháp giảm tải bài học về tác gia Nguyễn
Trãi ở nhà trường phổ thông.
VI. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu thực hiện tốt giảm tải trong dạy học về tác gia thì:
- Giáo viên đã thể hiện rõ những thay đổi trong nhận thức, quan niệm
về mối quan hệ giữa kiến thức và phương pháp.
- Dung lượng giờ học bài học về tác gia được giảm nhẹ, đồng thời kiến
thức bản thể được đào sâu, chất lượng và hiệu quả bài học về tác gia được
nâng lên.
VII. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Khảo sát thực trạng dạy học bài học về tác gia Nguyễn Trãi
ở THPT- lớp 10.
Chương 2: Nguyên tắc và biện pháp giảm tải bài học về tác gia(Nguyễn
Trãi) ở THPT.
Chương 3: Thiết kế thực nghiệm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
PHẦN NỘI DUNG
chƣơng 1
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY- HỌC BÀI HỌC VỀ TÁC GIA
NGUYỄN TRÃI Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Mục đích khảo sát
1.1.1. Tìm hiểu thực trạng quá tải trong bài học về tác gia Nguyễn Trãi
Nhiệm vụ của luận văn là đề xuất những biện pháp hiệu quả trong việc
giảm tải bài học về tác gia ở THPT. Để làm được điều này cần khảo sát thực
tế việc giảng dạy bài học về tác gia qua một bài cụ thể. Bài "Tác gia Nguyễn
Trãi" được giảng dạy ở lớp 10 nhà trường phổ thông là một bài quan trọng, nó
đánh dấu bước phát triển mới của văn học Việt nam thời trung đại. Những
sáng tác rất thành công của nhà thơ(cả về thể tài lẫn thể loại) đã làm nên một
giai đoạn mới của nền văn học dân tộc. Đồng thời nó là cơ sở để đọc, hiểu và
phân tích những tác phẩm cụ thể của nhà thơ.
Mục đích khảo sát của chúng tôi là tìm hiểu những đơn vị kiến thức
được trình bày trong sách giáo khoa và được đưa vào trong bài giảng của giáo
viên, phương pháp học tập của học sinh. Trên cơ sở đó, luận văn đánh giá mối
tương quan giữa những đơn vị kiến thức này với trình độ tiếp nhận của học
sinh và thời lượng mà phân phối chương trình cho phép. Từ đó đưa ra những
kết luận cụ thể về vấn đề quá tải trong dạy học về tác gia văn học(tác gia
Nguyến Trãi) ở trung học phổ thông(THPT).
1.1.2. Đánh giá ảnh hưởng của vấn đề quá tải đối với hiệu quả chung trong
dạy học về tác gia Nguyễn Trãi
Bài học về tác gia văn học là một phần quan trọng của môn Ngữ văn
trong nhà trường phổ thông, nhưng nó chưa có được vị trí xứng đáng như nó
cần phải có. Một trong những nguyên nhân phải chăng là sự quá tải cả về số
lượng kiến thức lẫn mức độ khó của kiến thức đối với giáo viên và học sinh.
2.1.3.Yêu cầu giảm tải………………………………………………… 31
2.2. Quá tải bài học về tác gia văn học……………………………… 32
2.2.1. Thực trạng quá tải trong dạy học bài học về tác gia văn học
(Tác gia Nguyễn Trãi)…………………………………………… 32
2.2.2. Nguyên nhân của tình trạng quá tải trong dạy học bài học về tác gia 35
2.2.3. Yêu cầu giảm tải bài học về tác gia Nguyễn Trãi………………. 38
2.3. Những biện pháp giảm tải bài học về tác gia Nguyễn Trãi… 40
2.3.1. Đổi mới tư duy dạy học (quan niệm hiệu quả giờ học không
phải ở kiến thức mà là cách nắm kiến thức)………………………… 40
2.3.2. Giáo viên phải biết lựa chọn kiến thức then chốt………………. 44
2.3.3. Phát huy khả năng tự tìm kiếm kiến thức của học sinh………… 50
2.3.4. Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học bài học về tác gia
văn học ở nhà trường phổ thông………………………………… 62
Chương 3: Thiết kế thực nghiệm……………………………………. 70
3.1. Mục đích thực nghiệm……………………………………………. 70
3.2. Đối tượng thực nghiệm…………………………………………… 70
3.3. Cách thức tiến hành thực nghiệm………………………………… 70
3.3.1. Lược thuật tóm tắt cách dạy phổ biến hiện nay………………… 70
3.3.2. Thiết kế bài học về tác gia Nguyễn Trãi trong chương trình
Ngữ văn lớp 10…….…………………………………………… 70
3.3.3. Tổ chức giảng dạy thực nghiệm………………………………… 83
3.3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm………………………………… 83
Phần ba: Kết luận……………………………………………………. 86
Bảng chú giải………………………………………………………… 88
Tài liệu tham khảo…………………………………………………… 89
Phụ lục………………………………………………………………… 92
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Quá tải là một vấn đề bức xúc trong thực tiễn dạy- học ở nhà trường
phổ thông hiện nay. Điều đó được thể hiện: các nhà quản lý giáo dục lo lắng
về sự quá tải, luôn kêu gọi phải giảm tải, giảm sức ép đối với người học; các
công văn, chỉ thị của các nhà quản lý giáo dục như: Chủ trương của Bộ GD-
ĐT giảm tải đối với chương trình của Giáo dục phổ thông (Quy định giảm tải
của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 16/05/2000).
Tình trạng quá tải ở nhà trường phổ thông là sức nặng và trở thành vấn
đề nhức nhối đối với giáo viên và học sinh. Giáo viên- người trực tiếp thực thi
chương trình kêu ca rất nhiều về sự quá tải; thời lượng dành cho một tiết học
là 45 phút, trừ ổn định tổ chức lớp, kiểm tra bài cũ thì bài học còn chưa đầy
40 phút! Đó là một thực tế mà bất cứ giáo viên đứng lớp nào cũng nhận thấy.
Có những bài học chỉ trong một tiết vừa tìm hiểu về tác giả, lại vừa khai thác
nội dung của tác phẩm, như: Bài học về Truyện thơ, Chinh phụ ngâm, Hương
Sơn phong cảnh ca… Đó là căn nguyên của sự quá tải.
Sự bức xúc ấy không chỉ có vậy, Học sinh là người trực tiếp chịu sức
ép của vấn đề quá tải. Do thời gian ít, phải học nhiều môn, chưa kể đến một
số thầy cô đòi hỏi cao. Chuyện học sinh không làm hết bài trước khi đến lớp,
làm bài, soạn bài đối phó là rất phổ biến.
Quá tải học đường không còn là chuyện của những người trong cuộc
nữa mà đã trở thành nỗi lo lắng chung của toàn xã hội, phụ huynh học sinh lo
lắng nhiều về sức ép học tập của con em mình, Báo chí lên tiếng nhiều về tình
trạng quá tải học đường. Đây không phải là một vấn đề mới, ngược lại tình
trạng quá tải đã được các nhà giáo, nhà nghiên cứu giáo dục cảnh báo từ lâu
như: bài viết " Chuyện quá tải học đường" của Giáo sư Phan Trọng Luận vẫn
còn nhiều ý nghĩa cho người viết SGK cải cách hay phân ban hiện nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
2. Bài học về tác gia là kiểu bài tiềm ẩn nhiều yếu tố, tiền đề cho việc
quá tải. Kiểu bài học về tác gia thường bao gồm các phần như: Cuộc đời và
con người của nhà văn, ở phần này có các kiến thức về cuộc đời, gia đình, về
thời đại của nhà văn; Phần thứ hai là sự nghiệp văn chương, phần này là kiến
thức về các thể loại, quan điểm, tư tưởng, thành tựu, nội dung và phong cách
sáng tác của nhà văn. Như vậy, bài học về tác gia chứa đựng một dung lượng
lớn kiến thức, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau (Bao gồm cả kiến thức khái
quát và kiến thức cụ thể). Mặt khác, còn nhiều kiến thức trùng lặp, giờ học lại
thiên về cung cấp kiến thức nên hiệu quả giờ học không cao.
3. Tác gia Nguyễn Trãi là một trong những tác gia tiêu biểu trong nhà
trường phổ thông. Ông là một nhà văn lớn, nhà văn hoá lớn, một nhà quân sự
kiệt xuất, cuộc đời đầy bi kịch. Nguyễn Trãi có một sự nghiệp sáng tác to lớn,
với nhiều thể loại, nhiều lĩnh vực và trong lĩnh vực nào ông cũng thành công.
Nguyễn Trãi là một nhà quân sự kiệt xuất bởi trong cuộc kháng chiến
chống giặc Minh xâm lược, Ông là một đại tướng quân của nghĩa quân Lam
Sơn, luôn sát cánh cùng Lê Lợi đánh tan quân Minh xâm lược giành lại nền
độc lập cho đất nước. Không chỉ vậy, Nguyễn Trãi còn là một nhà văn hoá
lớn. Năm 1980, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc
(UNESCO) đã công nhận Nguyễn Trãi là danh nhân văn hoá thế giới.
4. Phương pháp giảng dạy của giáo viên đối với kiểu bài tác gia hiện
nay còn gặp lúng túng, chưa tìm ra phương pháp giảng dạy hợp lí và hiệu quả.
Thực tế cho thấy, các bài học về tác gia đều được giáo viên giảng dạy
bằng phương pháp thuyết trình, giảng giải từ đầu đến cuối, học sinh chỉ nghe
và ghi. Như vậy, giờ học không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của
học sinh. Điều này đi ngược lại với phương pháp dạy học hiện đại; Phương
pháp dạy học hiện đại lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm, thầy chỉ là
người hướng dẫn, trò là chủ thể hoạt động. Tuy nhiên, với một khối lượng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
kiến thức lớn, phức tạp, quỹ thời gian có hạn, giáo viên lại chưa tìm được
phương pháp giảng dạy hợp lí, đó cũng là nguyên nhân dễ dẫn đến quá tải.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
"Biện pháp giảm tải bài học về tác gia ở trung học phổ thông(Bài Nguyễn
Trãi)" với mong muốn góp phần đề xuất giảm tải bài học về tác gia văn học ở
nhà trường phổ thông trong xu thế phát triển chung của giáo dục nước nhà.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Hiện tượng quá tải kiến thức trong nhà trường phổ thông không còn là
chuyện riêng của những người làm giáo dục nữa mà nó trở thành vấn đề bức
xúc của toàn xã hội, nó đã và đang là mối quan tâm lo lắng của toàn ngành
giáo dục khi tốc độ phát triển của khoa học kĩ thuật ngày càng mạnh mẽ.
Đứng trước tình trạng đó, các nhà quản lí, nghiên cứu giáo dục đã bỏ ra không
ít công sức để tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng quá tải và đề xuất biện
pháp giảm tải cho chương trình giảng dạy, học tập ở nhà trường phổ thông.
Trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 342- Chuyên đề quý II/2000 tác
giả Phạm Minh Chí có bài viết: "Về vấn đề giảm tải nội dung chương trình,
Sách giáo khoa trung học". Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra cách khắc phục
hữu hiệu tình trạng quá tải, đó là điều chỉnh nội dung Sách giáo khoa, cần
mạnh dạn cắt bỏ phần trùng lặp ở môn học mà chương trình xây dựng kiểu
đồng tâm và những phần trùng lặp giữa các môn trong nhóm. Đưa ra khỏi
chương trình phổ thông (hoặc giảm thời lượng) những tri thức đơn giản mà
học sinh có thể tiếp nhận qua những kênh thông tin khác, bỏ những tri thức
không phù hợp với lứa tuổi.
Cũng trên tạp chí này có bài viết "Nguyên tắc giảm tải nội dung,
chương trình và Sách giáo khoa bậc trung học" của hai tác giả: Nguyễn Thị
Minh Phương và Nguyễn Hữu Chí (Viện khoa học giáo dục). Hai tác giả cho
rằng: muốn giảm tải phải rà soát lại chương trình Sách giáo khoa, cắt giảm, hạ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
mức độ đối với những kiến thức khó, phức tạp, không phù hợp với đa số học
sinh; một số phần lý thuyết không thiết thực với học sinh hiện nay cũng nên gạt
bỏ. Các nhà soạn sách cũng nên mạnh dạn cắt bỏ những nội dung trùng lặp
hoặc gần giống nhau giữa các môn học, giữa các lớp trong cùng một môn học.
Ngày 16/05/2000, Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành quy định giảm tải
chương trình giáo dục ở tất cả các cấp học. Báo Giáo dục và Thời đại- số
48/2003, tác giả Nguyễn An Cư có bài: "Sau ba năm thực hiện quy định giảm
tải". Theo tác giả, sau ba năm thực hiện quy định trên thì còn rất nhiều vấn đề
nẩy sinh. Đơn cử ở bậc trung học cơ sở Sách giáo khoa mới tái bản nhưng nội
dung chỉnh sửa vẫn không được in sửa lại. Điều này tạo ra sự nhầm lẫn cho
học sinh và phụ huynh học sinh, thậm chí cả giáo viên đứng lớp. Do vậy, học
sinh không những không được giảm tải mà còn phải học một chương trình
nặng hơn!
Cùng bàn về vấn đề quá tải, Giáo sư Phan Trọng Luận có bài: "Một cơ
hội tốt để đổi mới đồng bộ chương trình, Sách giáo khoa và phương pháp dạy
học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông" đăng trên Tạp chí Giáo dục số
64(08/2003). Giáo sư đưa ra ý kiến: "Chương trình và Sách giáo khoa Ngữ
văn lần này cần được xây dựng như một chỉnh thể văn hoá mở trong nhiều
mối quan hệ: đặc trưng của văn chương với nhiệm vụ chính trị, từng giai đoạn
cách mạng; nội dung chương trình với đặc điểm lứa tuổi học sinh trong từng
thời kì lịch sử nhất định; nội dung chương trình tiến bộ gắn liền với phương
pháp hiện đại, tri thức nhân văn gắn liền với hệ thống kĩ năng cần hình thành;
mối quan hệ giữa các bộ phận Văn- Tiếng việt và Làm văn; mối quan hệ giữa
Ngữ văn với các bộ môn khác trong chương trình; mối quan hệ giữa chương
trình THPT với chương trrình THCS trong một hệ thống hoàn chỉnh; những
thành tựu của các khoa học kế cận cùng hiểu biết về một nền giáo dục hiện
đại nhất là mô hình nhà trường hiện đại". Từ quan điểm này, chương trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Ngữ văn sẽ được giảm tải bởi ba phân môn Văn học, Tiếng việt và Làm văn
được tích hợp một cách khoa học, tránh được những vướng mắc trong những
thập kỉ qua (Điều này được thể hiện rất rõ trong bộ Sách giáo khoa mới được
thực hiện từ năm học:2006- 2007).
Trong những bài viết, công trình nghiên cứu chúng tôi đặc biệt chú ý
tới Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục: "Một số biện pháp giảm tải trong giờ
học văn học sử ở THPT qua bài: Khái quát về văn học Việt nam từ đầu thế kỉ
XX đến Cách mạng tháng Tám 1945"(2005) của tác giả Nguyễn Thu Hoà. Sau
khi khảo sát, đánh giá thực trạng dạy và học bài học Văn học sử trong nhà
trường phổ thông, tác giả đã chỉ ra nguyên nhân của tình trạng quá tải, đồng
thời đưa ra một số biện pháp giảm tải. Theo tác giả Nguyễn Thu Hoà, nguyên
nhân của tình trạng quá tải trong dạy học Văn học sử là do "tính lịch sử" của
Văn học sử. "Lịch sử Văn học là lịch sử phát triển của ngôn ngữ nghệ thuật,
chứa đựng nội dung, tư tưởng, tình cảm của con người qua các thời đại"
(1)
.
Lịch sử văn học Việt nam phát triển đúng với quy luật phát triển của văn học
dân tộc, sự phát triển của Cách mạng dân tộc. Mặt khác, văn học giữa các dân
tộc khác nhau lại có sự khác nhau(tư tưởng, tình cảm thẩm mĩ khác nhau). Do
những đặc điểm trên, nên khi giảng dạy bài học Văn học sử phải đảm bảo tính
lịch sử và tính văn học. Tính lịch sử là lịch sử văn học chứ không phải thông
sử, là lịch sử phát triển nội dung, hình thức văn học. Do vậy, nội dung bài học
thường rất lớn. Bao gồm cả kiến thức lý luận và kiến thức văn học; vừa có
kiến thức khái quát, vừa có kiến thức cụ thể, cho nên bài học rất dễ dẫn đến
tình trạng quá tải. Tác giả Nguyễn Thu Hoà cho rằng: tình trạng quá tải trong
dạy học Văn học sử hiện nay là do mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức cần
truyền đạt với thời gian và tính vừa sức đã tạo nên sự quá tải bấy lâu nay
trong dạy học Văn học sử. Tác giả lấy ví dụ: trong sách giáo khoa hiện hành ở
lớp 11 bài: "Khái quát Văn học Việt nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
tháng Tám 1945". Bài viết trong Sách giáo khoa gồm 16 trang, theo phân phối
chương trình được dạy trong 3 tiết(135 phút), giáo viên phải truyền đạt: 19
đơn vị kiến thức khái quát về lịch sử, văn hoá, xã hội, chính trị; 144 đơn vị
kiến thức khái quát về văn học và 181 đơn vị kiến thức cụ thể về văn học. Đó
là một khối lượng kiến thức lớn dễ dẫn đến quá tải.
Thông qua khảo sát, nghiên cứu, tác giả Nguyễn Thu Hoà đã đưa ra
một số biện pháp giảm tải cho bài học văn học sử. Theo tác giả, dạy học bài
học Văn học sử phải lựa chọn và tinh giản kiến thức khái quát, sắp xếp kiến
thức theo hệ thống luận điểm rõ ràng; phát huy khả năng tự tìm tòi kiến thức
của học sinh bằng cách khơi dậy khả năng hoạt động sáng tạo của học sinh,
xây dựng hệ thống câu hỏi phát huy khả năng tự tìm kiếm của học sinh,
hướng dẫn học sinh làm việc với sách giáo khoa, tăng cường kiến thức kĩ
năng và phương pháp cho học sinh; vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy
học văn học sử. Cuối cùng tác giả công trình kết luận: Then chốt của vấn đề
giảm tải là thay đổi quan điểm dạy học. Dạy học không phải chỉ là dạy cái gì
mà còn dạy học sinh bằng cách nào chiếm lĩnh được tri thức. Dạy học có hiệu
quả không nằm ở dung lượng kiến thức mà là khả năng nắm bắt và vận dụng
kiến thức của học sinh sau bài học.
Qua tìm hiểu một số công trình nghiên cứu về vấn đề quá tải, chúng tôi
nhận thấy các nhà nghiên cứu đã đề cập đến thực trạng quá tải ở nhà trường
phổ thông hiện nay và đưa ra các biện pháp khắc phục, song mới chỉ dừng lại
ở những nghiên cứu mang tính tổng quát. Các nghiên cứu mới đề cập ở bình
diện quan niệm, nhận thức chưa có giải pháp cho kiểu bài cụ thể về tác gia.
Đặt vấn đề quá tải vào những bài học cụ thể lại có những tồn tại riêng và cần
có cách giải quyết riêng mới đạt được hiệu quả tích cực.
Trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu của các nhà giáo dục khi
nghiên cứu về vấn đề quá tải và thực tế giảng dạy bài học về tác gia văn học,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp giảm tải giờ học về tác gia văn
học ở trung học phổ thông (THPT) với mong muốn tìm ra phương pháp tối ưu
nhất trong dạy học văn nói chung và dạy học bài học về tác gia nói riêng.
III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1. Mục đích:
- Thống kê để nhận diện một cách có căn cứ thực trạng quá tải trong
giờ dạy về tác gia ở THPT.
- Xác lập quan điểm đúng đắn về vấn đề giảm tải, đặc biệt trong bài học
về tác gia ở THPT.
2. Nhiệm vụ:
- Chỉ ra nguyên nhân của sự quá tải kiến thức ở nhà trường phổ thông,
cụ thể trong bài học về tác gia Nguyễn Trãi.
- Đưa ra một số giải pháp giảm tải trong bài học về tác gia ở THPT.
IV. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Phạm vi nghiên cứu:
Do yêu cầu của đề tài: Biện pháp giảm tải bài học về tác gia ở trung
học phổ thông(Bài Nguyễn Trãi) nên chúng tôi chỉ tập trung vào khảo sát,
nghiên cứu bài học về tác gia Nguyễn Trãi trong chương trình ở nhà trường
phổ thông(lớp 10) và đưa ra biện pháp giảm tải.
2. Đối tƣợng nghiên cứu:
- Bài "Tác gia Nguyễn Trãi"- Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 2- NXB
Giáo dục do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành (2006).
- Giáo án và giờ dạy bài học về tác gia Nguyễn Trãi của giáo viên.
- Thực tế học bài học về tác gia của học sinh phổ thông.
V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được đề tài này chúng tôi sử dụng những phương pháp
nghiên cứu khác nhau, nhưng chủ yếu là các phương pháp sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
1. Phương pháp phân tích: phân tích kiến thức khái quát, cụ thể trong
bài: "Tác gia Nguyễn Trãi", phân tích giáo án của giáo viên và dự giờ giảng
bài "Tác gia Nguyễn Trãi" để đánh giá về mức độ quá tải và chỉ ra nguyên
nhân của sự quá tải.
2. Phương pháp khảo sát, điều tra: nhằm đánh giá chất lượng tiếp thu
bài của học sinh, giờ dạy và giáo án của giáo viên.
3. Phương pháp so sánh tổng hợp: Nhằm đưa ra những kết luận khoa
học và kết luận sư phạm cụ thể. Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp giảm
tải trong bài học về tác gia văn học.
4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: nhằm xem xét, xác nhận tính
đúng đắn, hợp lý và khả thi của biện pháp giảm tải bài học về tác gia Nguyễn
Trãi ở nhà trường phổ thông.
VI. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu thực hiện tốt giảm tải trong dạy học về tác gia thì:
- Giáo viên đã thể hiện rõ những thay đổi trong nhận thức, quan niệm
về mối quan hệ giữa kiến thức và phương pháp.
- Dung lượng giờ học bài học về tác gia được giảm nhẹ, đồng thời kiến
thức bản thể được đào sâu, chất lượng và hiệu quả bài học về tác gia được
nâng lên.
VII. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Khảo sát thực trạng dạy học bài học về tác gia Nguyễn Trãi
ở THPT- lớp 10.
Chương 2: Nguyên tắc và biện pháp giảm tải bài học về tác gia(Nguyễn
Trãi) ở THPT.
Chương 3: Thiết kế thực nghiệm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
PHẦN NỘI DUNG
chƣơng 1
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY- HỌC BÀI HỌC VỀ TÁC GIA
NGUYỄN TRÃI Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Mục đích khảo sát
1.1.1. Tìm hiểu thực trạng quá tải trong bài học về tác gia Nguyễn Trãi
Nhiệm vụ của luận văn là đề xuất những biện pháp hiệu quả trong việc
giảm tải bài học về tác gia ở THPT. Để làm được điều này cần khảo sát thực
tế việc giảng dạy bài học về tác gia qua một bài cụ thể. Bài "Tác gia Nguyễn
Trãi" được giảng dạy ở lớp 10 nhà trường phổ thông là một bài quan trọng, nó
đánh dấu bước phát triển mới của văn học Việt nam thời trung đại. Những
sáng tác rất thành công của nhà thơ(cả về thể tài lẫn thể loại) đã làm nên một
giai đoạn mới của nền văn học dân tộc. Đồng thời nó là cơ sở để đọc, hiểu và
phân tích những tác phẩm cụ thể của nhà thơ.
Mục đích khảo sát của chúng tôi là tìm hiểu những đơn vị kiến thức
được trình bày trong sách giáo khoa và được đưa vào trong bài giảng của giáo
viên, phương pháp học tập của học sinh. Trên cơ sở đó, luận văn đánh giá mối
tương quan giữa những đơn vị kiến thức này với trình độ tiếp nhận của học
sinh và thời lượng mà phân phối chương trình cho phép. Từ đó đưa ra những
kết luận cụ thể về vấn đề quá tải trong dạy học về tác gia văn học(tác gia
Nguyến Trãi) ở trung học phổ thông(THPT).
1.1.2. Đánh giá ảnh hưởng của vấn đề quá tải đối với hiệu quả chung trong
dạy học về tác gia Nguyễn Trãi
Bài học về tác gia văn học là một phần quan trọng của môn Ngữ văn
trong nhà trường phổ thông, nhưng nó chưa có được vị trí xứng đáng như nó
cần phải có. Một trong những nguyên nhân phải chăng là sự quá tải cả về số
lượng kiến thức lẫn mức độ khó của kiến thức đối với giáo viên và học sinh.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)