và quần đảo Hoàng Sa nằm trọn giữa hai kinh tuyến 110 - 113 Đông, trong vùng
vĩ độ 15 45" - 17 07" Bắc.
Về danh giới hành chính, phía Bắc và Tây-Bắc Đà Nẵng - Quảng Nam giáp
với tỉnh Thừa Thiên -Huế; phía Tây giáp nớc bạn CHDCND Lào với 140 km đờng
biên giới; phía Tây-Nam giáp tỉnh Kom Tum; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía
Đông giáp biển Đông với hơn 150 km bờ biển.
Đà nẵng - Quảng Nam có tổng diện tích tự nhiên là 12.291,4 km2 (chiếm
khoảng 3,71% tổng diện tích tự nhiên của cả nớc), bao gồm 21 đơn vị hành chính,
trong đó:
- Thành phố Đà Nẵng với 5 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành
Sơn, Liên Chiểu và 2 huyện: Hoà Vang, huyện đảo Hoàng Sa.
- Tỉnh Quảng Nam với Thị xã Tam kỳ (tỉnh lỵ), thị xã Hội An, các huyện:
Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Thăng Bình, Quế Sơn, Tiên Phớc, Phớc Sơn,
Núi Thành, Hiên, Giằng, Trà Mi.
* Tầm quan trọng của vị trí địa lý Đà nẵng - Quảng Nam đối với Miền Trung
và cả nớc:
Đà nẵng - Quảng Nam là đầu mối của các trục giao thông Đông - Tây với hệ
thống đờng sắt, đờng bộ, đờng thuỷ, hàng không đồng bộ. Sân bay Đà Nẵng là sân
bay quốc tế đợc trang bị hiện đại, cảng Tiên Sa là một cảng du lịch kết hợp với
cảng Liên Chiểu, cảng Chu lai sẽ đặt Đà nẵng - Quảng Nam nằm trên tuyến đờng
hàng hải thuận lợi nối liền ấn Độ dơng và Thái Bình Dơng. Bên cạnh đó với triển
vọng của đờng bộ xuyên á nối Lào với đông Bắc Thái Lan, Đà Nẵng đã đợc coi là
"cánh cổng thứ 3 vào Đông Dơng".
Đà Nẵng - Quảng Nam là hành lang phát triển kinh tế, thơng mại và chuỗi đô
thị hạt nhân từ Liên Chiểu đến Dung Quất; là trung tâm giáo dục đào tạo, khoa học
công nghệ của miền Trung.
Đà Nẵng - Quảng Nam giữ vị trí chiến lợc trong an ninh, quốc phòng. Trong
chiến tranh, Đà Nẵng đã là nơi nổ súng và đổ bộ đầu tiên của Thực dân Pháp (năm
1858) và đến năm 1965, một lần nữa đế quốc Mỹ lại chọn Đà Nẵng để xây dựng
căn cứ hỗn hợp quân sự lớn nhất ở miền Trung, từ đó làm bàn đạp để đánh vào
Miền Nam Việt Nam.
Từ những lợi thế về vị trí địa lý, kinh tế, xã hội cùng với sự phong phú của tài
nguyên du lịch, đặc biệt là hai di sản văn hoá thế giới Đô thị cổ Hội An, Thánh địa
Mỹ Sơn lại liền kề với trung tâm du lịch Huế đã đem lại cho Đà Nẵng - Quảng Nam
vị trí đầu mối, trung tâm quan trọng về hoạt động du lịch. Đà Nẵng - Quảng Nam
trở thành nơi trung chuyển khách, nơi hội tụ du khách các nơi về dự hội thảo, hội
nghị, nghiên cứu và là trục giao lu chính trong các tuyến du lịch miền Trung.
1.2. Tài nguyên du lịch
1.2.1. Tài Nguyên du lịch tự nhiên
1.2.1.1. Địa hình.
* Đặc điểm chung địa hình Đà Nẵng - Quảng Nam.
Địa hình Đà Nẵng - Quảng Nam khá đa dạng, bao gồm: đồng bằng, đồi núi,
bờ bãi biển và hải đảo góp phần tạo nên sự phong phú về loại hình du lịch.
Nằm trong khu vực có sự chuyển tiếp giữa đồng bằng ven biển và miền núi
khá đột ngột, dãy Trờng Sơn chạy song song rất gần với biển, nên địa hình của Đà
Nẵng - Quảng Nam có sự kết hợp độc đáo giữa các dạng địa hình. Núi, biển, đồng
bằng không những làm cho cảnh quan thiên nhiên thêm phần hùng tráng mà Sự kết
hợp độc đáo này còn là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức liên kết theo không
gian các loại hình du lịch.
Nhìn chung, có thể chia lãnh thổ Đà Nẵng - Quảng Nam thành 2 khu vực nh
sau:
+ Đồng bằng ven biển _ chiếm 25% diện tích tự nhiên.
+ Đồi, núi (phía Tây, Tây Bắc và phía Nam) _ chiếm 75%.
Phía Bắc thành phố Đà Nẵng là dãy núi Hải Vân làm thành danh giới khí hậu, nh
bức tờng thành thiên nhiên quan trọng ngăn những đợt gió mạnh từ phơng Bắc tràn
về. Vì vậy, từ Đà Nẵng - Quảng Nam trở vào thời tiết hầu nh ấm áp quanh năm.
* Các dạng địa hình có giá trị đối với du lịch.
Điạ hình đồng bằng
Vùng đồng bằng ven biển và triền sông của Đà Nẵng - Quảng Nam là dạng địa
hình tơng đối bằng phẳng, địa hình ít biến đổi tập trung ở phía đông của 2 tỉnh,
thành phố. Do đặc điểm đồi núi ăn sát biển nên đồng bằng bị chia cắt và nhỏ hẹp.
Đây là vùng nông nghiệp, làng nghề thích hợp cho các loại hình du lịch làng quê,
Địa hình đồi núi
Vùng núi Đà Nẵng - Quảng Nam đợc nâng lên mạnh vào tân kiến tạo, chạy
theo hớng Tây Đông. Cấu trúc tơng đối phức tạp (phần lớn là đá Granit, đá biến
chất, và một số đơn thể đá hoa cơng ở Ngũ Hành Sơn _ Đà Nẵng). Địa hình đồi núi
đã đem lại cho Đà Nẵng - Quảng Nam nhiều thắng cảnh đẹp, rất có giá trị. Đèo Hải
Vân cao 500m nằm trải dài theo sờn núi Hải Vân (dài khoảng 20km) đợc tạo thành
do các nhánh núi đâm ngang có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ đã đợc mệnh danh:"
Thiên hạ đệ nhất hùng quan". Bà Nà là một vùng núi non trùng điệp ở phía Tây
thành phố Đà Nẵng dựa lng vào dãy Trờng Sơn, trên đỉnh có địa hình bằng phẳng
nh một vùng cao nguyên nhỏ. Đứng trên đỉnh Bà Nà, du khách có thể ngắm đợc
cảnh núi sông nh đang bồng bềnh giữa đám mây trôi, bởi mây chỉ ở lng chừng núi
mà trên đỉnh cao trời luôn quang rạng. Ngũ Hành Sơn lại nằm ngay trong lòng đồng
bằng Quảng Nam Đà Nẵng với 5 ngọn núi đá hoa cơng mang tên Kim, Thuỷ, Thổ,
Hoả, Mộc có truyền thuyết rất thú vị về sự hình thành. Núi Sơn Trà có cảnh trí đẹp
nhô ra biển, cùng với Ngũ Hành Sơn tạo nên sự tơng phản sâu sắc với đồng bằng.
K Khu vực đồi núi cao của Đà Nẵng - Quảng Nam nhìn chung còn hoang
dã, nhng với cảnh quan thiên nhiên miền núi nh vậy Đà Nẵng - Quảng Nam rất có
triển vọng phát triển loại hình du lịch núi với các hoạt động tham quan, nghỉ dỡng,
du lịch sinh thái, du lịch thể thao leo núi, du lịch mạo hiểm. Tuy nhiên cũng cần
phải quy hoạch hợp lí để đảm bảo tính bền vững.
Địa hình bờ bãi biển:
Khu vực bờ bãi biển của Đà Nẵng - Quảng Nam dài hơn 150km (trong đó ở
địa phận của tỉnh Quảng Nam là 125km). Dới tác động của nội lực, quá trình san
bằng đã làm cho các bãi cát nối liền lại với nhau tạo cho vùng nhiều bãi tắm đẹp
liên tục kéo dài: Nam Ô - Xuân Thiều, Mỹ Khê, Mỹ An, Non Nớc, Cửa Đại. Ngoài
ra Quảng Nam còn có các bãi biển nh Tam Thanh, Bãi Rạng, Kỳ Hà rất có giá trị.
Phần lớn các bãi biển đều thoải, bằng phẳng có độ dốc trung bình 2 ữ 3 , cát
trắng, khá mịn, có đờng kính 0,119 mm ữ 0,281 mm, tỉ lệ nhiễm bẩn xạ nhỏ:1- 4%.
Địa hình đáy ven bờ ít phức tạp, độ dốc nhỏ (1%), đáy nhiều cát trắng và xám, nhất
là từ Sơn Trà đến Cửa Đại. Bờ bãi biển Đà Nẵng - Quảng Nam cùng với bờ bãi biển
của Thừa Thiên Huế đã đợc đánh giá là 1 trong 5 khu vực có tiềm năng du lịch biển
lớn của nớc ta.
Địa hình bờ bãi biển với nhiều bãi tắm đẹp, tạo thuận lợi cho Đà Nẵng -
Quảng Nam trong phát triển các loại hình du lịch biển, nghỉ ngơi, an dỡng, lặn
biển
* Cù Lao Chàm nằm cách Cửa Đại gần 18 km về phía Đông- Đông bắc gồm 1
nhóm đảo nhỏ nối sát nhau. Trung tâm nhóm đảo là hòn đảo lớn nhất gọi là Cù Lao
Chàm, trên đảo có núi cao tới 518 m gồm 3 ngọn: Ngọc Long, Tiên Bút và Bất Lao.
Đứng trên cù lao Chàm nhìn lên phía bắc cách 4km là hòn La, nhìn sang phía Tây
bắc 6 km là một nhóm đảo gồm Hòn Khô Lớn, Hòn Khô Nhỏ, Hòn Dài, Hòn Mận.
Còn ngay phía Tây chỉ cách 1 km là Hòn Lôi; và phía nam cách không đầy 3 km là
Hòn én với 1 đặc sản quý tổ yến. Cù lao chàm với phong cảnh đẹp, động thực vật
đặc trng có thể làm hài lòng Du khách tới thăm.
Tại đây có thể phát triển các loại hình du lịch nh tham quan, nghỉ ngơi, giải trí,
tắm biển, lặn biển, du thuyền
1.2.1.2. Khí hậu
Khí hậu Đà Nẵng - Quảng Nam mang tính chất nhiệt đới gió mùa và là nơi
đánh dấu sự chuyển tiếp giữa hai vùng khí hậu khác biệt: miền Bắc và miền Nam
Việt Nam.
Khí hậu phân hoá theo không gian và thời gian tạo nên 2 dạng khí hậu rõ rệt,
khí hậu nhiệt đới ven biển (ở các vùng đồng bằng ven biển) và một ít khí hậu ôn đới
vùng cao (khu vực Bà Nà_ Đà Nẵng và vùng núi phía Tây Quảng Nam). Mùa hạ
của Đà Nẵng - Quảng Nam kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 với đặc trng thời tiết hầu
nh khô ráo, nóng, cuối mùa thờng có bão. Mùa đông kéo dài từ tháng 10 đến tháng
4 năm sau. Trong mùa đông có thể phân thành thời kỳ chính đông, thời kỳ chuyển
tiếp từ hạ sang đông và thời kỳ chuyển tiếp từ đông sang hạ.
Chế độ nhiệt
Chế độ nhiệt của Đà Nẵng - Quảng Nam là sản phẩm quan trọng của loại hình
nhiệt đới gió mùa của một lãnh thổ nằm khá sâu trong khu vực nội chí tuyến trên bờ
biển Đông. Đó là một nền nhiệt độ cao bắt nguồn từ sự tiếp nhận một lợng bức xạ
mặt trời phong phú, khá đồng đều quanh năm. Tổng nhiệt trung bình quanh năm
>9300 C, v ợt xa tiêu chuẩn nhiệt đới (7500-9500 C). Tổng l ợng bức xạ trung bình
đạt 234 Kcal/cm
2
/năm, cán cân bức xạ trong các tháng đều có trị số dơng, hằng
năm tổng số giờ nắng đo đợc tại Đà Nẵng là 2161 và 2381 tại Quảng Nam. Thời kỳ
nhiều nắng nhất thờng từ tháng 5 -7, trung bình khoảng 244h (Đà Nẵng) và khoảng
252h (Quảng Nam); tháng ít nắng nhất là tháng 12, khoảng >100h. Trong đó lợng
mây tổng quan (theo 10 phần bầu trời) cũng khá lớn (Đà Nẵng: 5,4/năm, Tam Kỳ:
6,5/năm).
Với tổng lợng bức xạ, cán cân bức xạ và số giờ nắng nh trên nên đã tạo ra một
nền nhiệt độ cao dần từ bắc xuống Nam. Tại Đà Nẵng - Quảng Nam nhiệt độ trung
bình năm đạt từ 25ữ26 C, tháng lạnh nhất (tháng 1): 21 ữ22 C, tháng nóng nhất
(Tháng 6-7): 28 ữ30 C. Biên độ dao động nhiệt cũng khá cao, có thể đạt tới 7 ữ
9 C trong mùa hè và khoảng 4 ữ 6 C vào mùa đông.
Bảng: Nhiệt độ không khí trung bình tháng và Năm (C)
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB năm
Đà Nẵng 21 22 24 26 28 29 29 29 27 26 24 21 23,5
Tam Kỳ 21 23 25 27 28 29 29 29 27 26 24 21 25,6
Nguồn: Trạm dự báo và phục vụ KTTV ĐN, QN.
Chế độ ẩm
Bảng: Độ ẩm tơng đối (%) trung bình tháng và năm.
Địa
điểm
Tháng
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Năm
Đà Nẵng 86 86 86 84 82 77 76 78 84 85 86 86 83
Tam Kỳ 86 86 83 81 77 79 75 76 82 86 88 87 82
Nguồn: Trạm dự báo và phục vụ KTTV ĐN, QN.
Độ ẩm không khí tại Đà Nẵng - Quảng Nam khá cao. Trung bình trong năm
trên toàn lãnh thổ hai tỉnh, thành phố độ ẩm đạt từ 82 % - 83 %. Ngay cả trong
mùa hè độ ẩm trung bình tháng cũng đạt không dới 76 %. Thời kỳ có độ ẩm thấp
kéo dài từ tháng 6- tháng 8 với trị số trung bình là 76-78. Từ tháng 9 đến tháng 12,
thời kỳ ma nhiều, là thời kỳ ẩm ớt nhất trong năm, độ ẩm tăng từ 84-88.
L ợng m a.
Điều kiện địa lý, địa hình và cơ chế hoàn lu đã chi phối toàn bộ cơ chế hình
thành và phân bố lợng ma của Đà Nẵng - Quảng Nam. Tổng lợng ma trung bình
hằng năm > 2000 mm ở những vùng đồng bằng và có thể lên tới > 4000 mm ở
những vùng núi. Tổng lợng ma tăng dần về phía Bắc Đà Nẵng, phía Tây Nam và
tăng theo độ cao. Vùng Bà Nà (Đà Nẵng) và Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) là một
trung tâm ma lớn của khu vực và của cả nớc (Trung bình năm trên 5000 mm).
Bảng: Lợng ma trung bình tháng và năm (mm)
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
TB năm
Đà Nẵng
92 33 23 27 61 87 85 103 350 613 366 199 2044,5
Tam Kỳ 73 25 8 40 95 182 68 114 264 693 659 312 2531,5
Nguồn: Trạm dự báo và phục vụ KTTV ĐN, QN.
Đà Nẵng - Quảng Nam không những có lợng ma lớn mà cờng độ ma cũng rất
lớn. Số ngày ma trung bình năm là 149 ngày. Thờng những tháng có lợng ma nhiều
là những tháng có số ngày ma nhiều. Cờng độ ma tập chung vào những tháng đầu
mùa ma nh tháng 9, tháng 10. Những ngày ma lớn, tổng lợng ma lên tới 500-600
mm, dễ gây ra lũ lụt.
Chế độ gió
Gió là một yếu tố thời tiết không những bị cơ chế hoàn lu chi phối, mà còn
chịu tác động mạnh của điều kiện địa hình. Hớng gió tại Đà Nẵng - Quảng Nam t-
ơng đối phân tán, tần suất các hớng thay đổi theo thời gian.
Gió mùa là một trong những đặc trng cơ bản của khí hậu Đà Nẵng - Quảng
Nam. Tuy có gió mùa tây nam thổi vào mùa hạ nhng rất ít. ở những nơi có độ cao
trên 500 m hầu nh không chịu ảnh hởng của gió mùa Tây nam. Gió mùa đông bắc
thổi nhiều vào mùa đông, sức gió trung bình hằng tháng từ 1,5-2,3m/s. Vào thòi kỳ
chuyển tiếp giữa hai mùa thờng có gió Đông và Đông Nam đem lại thời tiết ấm,
khô ráo cho mùa đông và mát mẻ cho mùa hè.
Mùa ma ở miền Trung nói chung và Đà Nẵng - Quảng Nam nói riêng thờng
hay có bão và gió lớn (thờng tập chung vào khoảng thời gian từ tháng 10-12, vận
tốc gió có thể lên tới 50 m/s. Trong đó tháng 10 hằng năm hầu nh đều có gió lớn với
vận tốc > 10 m/s và tháng 5 là có ít gió mạnh.
Khí hậu đối với việc hình thành các mùa du lịch với các loại hình du lịch
Với đặc điểm khí hậu nh trên, Đà Nẵng - Quảng Nam có khả năng phát triển tốt
các loại hình du lịch biển do nền nhiệt độ cao, số giờ nắng trong ngày nhiều, tập
trung vào các tháng mùa hạ. Tổ chức đợc loại du lịch núi vì có khí hậu ôn đới ở khu
vực núi cao. Tuy nhiên vào những thời điểm xảy ra các hiện tợng thời tiết bất thờng
nh lũ lụt, ma to, bão có thể gây ách tắc giao thông, hạn chế các hoạt động tham
quan ngoài trời và gây khó chịu cho du khách.
Diễn biến về điều kiện khí hậu có thể cho thấy ngoài các tháng có lợng ma và
gió lớn (tháng 9,10,11) thì khoảng thời gian còn lại đều đợc xem là mùa thích hợp
cho các loại du lịch hiện có. Đối với loại du lịch nghỉ biển thì mùa du lịch chính vẫn
là từ tháng 4 đến tháng 7 (thòi gian này độ sâu của biển, gió, nhiệt độ của nớc đều
thích hợp).
Thực tế diễn biến số lợng khách du lịch đến Đà Nẵng - Quảng Nam qua các
tháng trong năm cho thấy phần nào phù hợp với phân tích trên đây. Tuy nhiên, cờng
độ thấp nhất vẫn là khoảng tháng 1,2,9,10; cao nhất vào tháng3,4,7,8. Tháng 5
thuộc mùa du lịch chính nhng nhu cầu du lịch lại giảm. Nh vậy khí hậu chỉ là một
trong những nhân tố ảnh hởng đến thời vụ du lịch. Nhất là đối với vùng có điều kiện
khí hậu hầu nh phù hợp với các thể loại du lịch phát triển quanh năm thì các mùa du
lịch chính chủ yếu vẫn do sự tập chung nhu cầu của khách quyết định.
Bảng: Tổng hợp mức độ thuận lợi của khí hậu trong năm đối với hoạt động du lịch
Đà Nẵng - Quảng Nam.
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Mức độ
thuận lợi
Thuận lợi ít thuận lợi
1.2.1.3. Nguồn nớc.
* N ớc mặt
Mạng lới sông ngòi
Mạng lới sông ngòi của Đà Nẵng - Quảng Nam đều bắt nguồn từ phía Tây và
Tây Bắc, Tây Nam của tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Sông ngòi đều
mang đặc điểm chung của sông ngòi Việt Nam đó là đặc điểm của sông ngòi một
miền núi dốc, phản ánh cấu trúc của địa hình; lu lợng nớc lớn, nhiều phù sa; thuỷ
chế theo sát nhịp điệu mùa khô và ma của khí hậu. Trên địa bàn Đà Nẵng - Quảng
Nam có các hệ thống sông chính nh sau:
Sông Hàn là hạ lu của sông Vu Gia. Sông Vu Gia gồm nhiều sông nhánh hợp
thành, trong đó có 3 nhánh chính là sông Cái, sông Bung và sông Con (đều nằm
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam). Chiều dài của sông tính từ thợng nguồn sông cái đến
Đà Nẵng là 204 km. Tổng diện tích lu vực tính đến Giao Thuỷ (Quảng Nam) là
5180 km
2
. Sông Vu Gia chảy đến ái Nghĩa phân làm 2 nhánh, một nhánh đa nớc
sông Vu GIa qua sông Quảng Huế đổ về sông Thu Bồn, nhánh thứ 2 chảy về đồng
bằng và tiếp tục chia thành nhiều nhánh nhỏ rồi tiếp tục đổ về sông Hàn, chảy ra
vịnh Đà Nẵng.
Sông Cu Đê (dài 38 km, tổng diện tích lu vực là 426 km2) nằm phía Bắc thành
phố Đà Nẵng, là hợp lu của 2 sông Bắc (dài 23 km) và sông Nam (dài 47 km). Hạ lu
sông Cu Đê thờng xuyên bị nhiễm mặn, trong mùa khô gần 1/ 2 chiều dài sông bị
nhiễm mặn.
Hệ thống sông Thu Bồn (diện tích lu vực10350 km2) và chiều dài dòng chảy
là 205 km). Hệ thống sông có tới 80 phụ lu thuộc 4 cấp, trong đó có những sông lớn
nh sông Cái, sông Bung. Sông Thu bồn là sông đẹp nhất của Đà Nẵng - Quảng
Nam, chứa đựng nhiều thắng cảnh. Bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Lĩnh cao 2598m, chảy
qua các vùng ghềnh đá cheo leo trên vùng núi phía Tây nam, hoà cùng sông Tiên,
sông Tranh tại vùng Quế Tân, tăng thêm lu lợng rồi chảy qua lớp sơn thạch ở Hòn
Kẽm Đá Dừng, đa phù sa bồi đắp cho các vùng Quế Sơn, Đại Lộc, Duy Xuyên, đặc
biệt là vùng Điện Bàn. Tại đây phân thành 2 hớng: Nhánh chính ở hớng Bắc với tên
Thu Bồn, nhánh nhỏ hơn ở hớng Nam là sông Bà Rén. Gần đến biển, 2 nhánh sông
này lại gặp nhau để hoà với dòng Trờng Giang, Qua phố cổ Hội An, đổ ra Cửa Đại.
Từ sông Hàn (Đà Nẵng) có thể đến sông Thu Bồn bằng cách ngợc dòng Cẩm lệ để
qua sông đào Vĩnh Điện.
Ngoài ra còn có các hệ thống sông Tam kỳ, sông Trờng Giang
Bảng: Độ dài sông ngòi Đà Nẵng - Quảng Nam có thể phục vụ du lịch (đv: km)
Tên sông Độ dài dòng chính Độ dài có thể khai thác
- Sông Hàn
- Thu Bồn
- Vu Gia
- Trờng Giang
- Vĩnh Điện
- Cẩm lệ
- Bà Rén
- Tam kỳ
- Trờng Định
- Các sông
còn lại
32
97
85
66
32
30
32
17
30
122
32
41
23
66
32
20
32
7
20
11
Tổng số 543 284
Nguồn Sở Du lịch Đà Nẵng- Sở TM-DL Quảng Nam
Có thể thấy mạng lới sông ngòi của Đà Nẵng - Quảng Nam phân bố khá đều,
chủ yếu chảy theo hớng Tây, Tây nam đến Bắc, Đông Bắc. Bắt nguồn từ các dãy núi
phía Tây, phần trung và hạ nguồn của các sông thờng chảy quanh co qua các vùng
có cảnh quan đẹp, các làng quê, thành phố, thị xã trớc khi đổ ra biển. Đây là điều
kiện thuận lợi để tổ chức các tuyến du lịch trên sông.
Hiện nay nguồn nớc mặt đang có xu hớng ô nhiễm. Kết quả phân tích mẫu nớc
tại cửa sông Hàn cho thấy các chỉ tiêu lý hoá đều vợt mức tiêu chuẩn cho phép
nhiều lần.
Nguồn nớc mặt của Đà Nẵng và Quảng Nam không chỉ có trong các sông mà
còn có các hồ chứa nớc nh: Hồ Đồng Nghệ (Hoà Vang), Hồ Thuỷ điện Duy Sơn
rộng 200 ha (Duy Xuyên), Hồ Giang Thơm (Núi Thành), Hồ Phú Ninh (Tam Kỳ_
hồ chứa nớc lớn nhất có diện tích 2300 ha, với dung tích chứa nớc là 273 triệu m
3
),
Hồ thuỷ lợi Tân Khe (Đại Lộc) rộng 340 ha, dung lợng nớc bình quân 54 triệu m
3
;
Hồ thuỷ lợi Việt An (Hiệp Đức)
Các hồ này ngoài giá trị phục vụ cho sinh hoạt của nhân dân địa phơng thì còn
có giá trị phục vụ du lịch bởi cảnh quan núi đồi rất đẹp, khí hậu mát mẻ cùng với hệ
động thực vật phong phú, thích hợp cho loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dỡng, đặc
biệt là Hồ Phú Ninh.
Ngoài ra, Đà Nẵng và Quảng Nam còn có hệ thống suối, thác nớc đẹp cũng rất
có giá trị đối với hoạt động du lịch nh Suối Tiên, Đèo Le-Suối Nớc Mát (Quế Sơn),
suối Mơ, Khe Lim (Đại Lộc),Thác Grăng (Giằng), Khe Cái (Hiệp Đức), Suối Nớc
Lan (Phớc Sơn)
* N ớc ngầm
Theo kết quả thăm dò của Liên đoàn địa chất thuỷ văn 708 và Đoàn địa chất
thuỷ văn miền Nam 500N, nguồn nớc ngầm có điều kiện khai thác thuận lợi của Đà
Nẵng và Quảng Nam đợc phân bố nh sau:
Khu vực ven biển từ Đà Nẵng đến Hội An có tầng nớc chứa Holoxen khá
phong phú, cách mặt đất từ 10-34m. Đây là loại nớc ngầm nhạt có hàm lợng Clor
nhỏ (23,05ữ35,46g/l) nhng độ khoáng hoá cao (0,72ữ0,9g/l).
Khu vực từ Ngũ Hành Sơn đến Hoà Khơng có tầng chứa nớc khe nứt và nớc
Karst. ở Văn Xá và Ngũ Hành Sơn nguồn nớc này có hàm lợng Clor và độ khoáng
hoá thấp, nớc nhạt, trong suốt, không mùi, có độ dày chứa nớc lớn. Với nguồn nớc
ngầm nh trên có khả năng bổ xung cho nguồn nớc mặt ngày càng có xu hớng bị ô
nhiễm.
Khu vực phía Tây Bắc và Đà Nẵng và Tây Nam Tam kỳ một số mạch nớc
khoáng nóng có giá trị nh: nguồn nớc khoáng Phớc Nhơn (Hoà Vang - Đà Nẵng)
gần hồ Đồng Nghệ có nhiệt độ 43 C; nguồn n ớc khoáng Phú Ninh (Tam Kỳ -
Quảng Nam) nhiệt độ đo đợc tại cửa suối là 90 C, hàm l ợng khoáng chất cao, lu l-
ợng 0,5m
3
/s; nguồn nớc nóng Tây Viên (Quế Sơn - Quảng Nam) nhiệt độ khoảng
87 C chứa nhiều khoáng chất chữa bệnh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét