Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Góp phần nghiên cứu tính đa hình của nhông cát Leiolepis belliana guttata Cuvier ở Thừa Thiên Huế

quần đảo Đông Nam Á và đảo Sumatra thuộc Indonesia, còn ở Trung Quốc đã
tìm gặp ở Quảng Châu, Quảng Đông và đảo Hải Nam.
Căn cứ vào mẫu vật thu được ở một số vùng thuộc các tỉnh Loei,
Kanchanaburi, Rat Buri và Sisaket (Thái Lan), E.H. Taylor và R. Elbel đã giới
thiệu một số dẫn liệu hình thái của L. belliana belliana trong một công trình
về Ếch nhái – Bò sát ở Thái Lan.
Sau đó, trong bài “Các loài thằn lằn của Thái Lan” đăng trên tạp chí
“The University of Kansas Science Bulletin”, E.H. Taylor đã mô tả đặc trưng
của loài này như sau: “Thân dẹp theo hướng lưng bụng; không có mào lưng;
vẩy bình thường, nhỏ, xếp sát nhau, hình nón hay hình tháp, ít nhiều hóa sừng;
túi họng không thấy rõ, nhưng có một hoặc hai nếp hầu nằm ngang; cả cá thể
đực và cái đều có lỗ đùi; đuôi dài, đôi khi dày lên ở gốc, vảy gần như đồng
hình; vảy bụng xếp đè lên nhau, tạo thành những vảy gần như ô vuông”. Theo
E.H. Taylor thì có hai phân loài được ghi nhận ở Thái Lan là L. belliana
belliana (Gray) và L .belliana rubritaeniata Mertens thuộc các vùng phía Tây
và Trung Bắc; còn L.belliana guttata Cuvier có thể gặp ở các vùng xa về phía
Đông Thái Lan.
Năm 1976, trong luận án của mình, D.C. Leroy có nói đến
L.belliana. Theo ông, đặc trưng của chúng là không có mào lưng và sống ở
dưới đất. Người ta thường gặp loài này ở vùng Nam Á và Indonesia.
Nhìn chung các công trình nói trên chỉ tập trung mô tả các đặc điểm
hình thái dùng trong phân loại và sự phân bố địa lí của Leiolepis belliana ở
các vùng nghiên cứu và trên thế giới. Ngoài ra có các cồng trình nghiên cứu
đối tượng này trên các lĩnh vặc khác như:
Về tập tính hoạt động và nơi ở của nhông cát có các dẫn liệu của
C.H.Pope và D.C.Leroy. Theo các tác giả trên khi nghiên cứu ở Tây Pakistan
và Bắc Ấn Độ thì nhông cát ở trong các hang tự đào vùng đất cát dài từ 2,44 –
2,74 m (8 – 9 feet) và sâu 1,22 – 1,52 m (4 – 5 feet). Những lúc trời rét và ban
đêm chúng chui vào hang và lấp kín cửa hang.
5
Đặc điểm cấu tạo giải phẩu đã được A.G.Edmund, R.Hoffstetter và
J.P.Gase trình bày trong “Biology of the Reptilia”. Khi nghiên cứu về răng
của các loài trong họ Agamidae, A.G.Edmund cho rằng L. belliana có 3 – 4
răng trước hàm, 12 răng hàm và 12 răng ở phần trước xương răng. Các răng ở
phần trước xương răng thường lớn và theo kiểu răng nanh. Đặc điểm của cột
sống và xương sườn của Leiolepis cũng giống như các loài trong họ Teiidae
và Agamidae nhưng có phần thân đốt và phần gian thân đốt không phân biệt
rõ.
Đặc điểm của các loài trong họ Agamidae cũng như Iguanidae có cấu
tạo giống Sphenodon. Còn cấu tạo của xương khẩu cái, xương hàm, xương lá
mía và ống đổ của cơ quan Jacobson theo kiểu “lỗ khoan cổ” như nhiều loài
thằn lằn khác.
Về cấu trúc nhân có công trình nghiên cứu của A.KynpurHoBa, khi
nghiên cứu kiểu nhân của ba loài thằn lằn họ Agamidae là Stellio chernovi,
Stellio himalayanus và Leiolepis belliana belliana. Kết quả nghiên cứu này
cho thấy các loài trên có bộ nhiễm sắc thể 2n = 36.
Về số lượng loài của giống Leiolepis Cuvier, theo công trình của nhiều
tác giả mà B.E.CokovoB làm chủ biên cho thấy có năm loài là L.belliana
(Gray), L. guttata Cuvier, L. peugensis Peters, L.reevessi (Gray) và
L.triploida Peters, tất cả đều sống ở châu Á.
Năm 1993, Darevsky và Kupriyanova đã nghiên cứu phát hiện và mô tả
loài nhông Leiolepis guentherpetersi (Theo Cuvier, 1829) là Leiolepis
belliana guttata Cuvier). Các phân tích về hình thái, kiểu nhân và địa lý sinh
vật học cho thấy rằng đây là loài tam bội có nguồn gốc từ sự lai tạo tự nhiên.
Tuy nhiên chưa có nghiên cứu đánh giá ở mức phân tử đối với loài này [4].
2. Ở Việt Nam
Tài liệu đầu tiên nói đến nhông cát L.belliana (Gray) của R. Bourret.
Trong đó tác giả mô tả đặc điểm của loài và hai phân loài của L.belliana là
L.belliana belliana và L.belliana guttata khác nhau về số lượng lỗ đùi ở mỗi
6
bên, Theo tác giả thì L.belliana phân bố ở Nam Miến Điện, Thái Lan, Đông
Dương, đảo Hải Nam, Nam Trung Quốc, Malaysia và Sumatra. Ở Việt Nam
đã gặp ở Cù Lao Chàm, Nha Trang và Quảng Trị.
Căn cứ vào các mẫu vật đã thu được và các công trình đã công bố,
Đào Văn Tiến đã công bố danh sách 77 loài thằn lằn hiện có ở Việt Nam cùng
với đặc điểm hình thái dùng trong phân loại cũng như khoá định loại các loài
thằn lằn đó. Trong số 17 loài thằn lằn thuộc họ Agamidae của danh sách này
có hai phân loài của L.belliana là nhông thường L.belliana belliana và nhông
gutta L.bellana guttata Cuvier.
Năm 1981, trong “Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt
Nam” của Uỷ ban Khoa học và kĩ thuật Nhà nước do tác giả Trần Kiên,
Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc thực hiện đã thu mẫu và xác định
L.belliana phân bố ở Hà Tĩnh và Vĩnh Linh (Quảng Trị).
Gần đây, theo kết quả điều tra về khi hệ động vật các đảo có nguồn gốc
lục địa của Viện Địa lý (Viện HLKH Viễn Đông – Liên Xô) cho thấy có
L.belliana ở Cù Lao Chàm trong số các đảo đã khảo sát từ vịnh Bắc Bộ đến
vịnh Thái Lan [4].
Năm 1991, Trong luận án phó tiến sĩ của mình, Ngô Đắc Chứng đã
nghiên cứu về các đặc điểm về hình thái và sinh thái của hai phân loài
L.belliana belliana và L.belliana guttata Cuvier ở Thừa Thiên Huế. Về đặc
điểm hình thái của phân loài L.belliana belliana, tác giả đã mô tả như sau:
“Thân dẹp theo hướng lưng bụng, không có mào lưng, không có gai trên đầu.
Vảy nhỏ, phần lớn hoá sừng. Có một hoặc hai nếp họng nhỏ nằm ngang. Lỗ
đùi làm thành hai dãy ở vùng mu hai bên lỗ huyệt. Đuôi dày lên ở gốc. Mỗi
bàn chân có 5 ngón, các ngón chân dài và có móng nhọn. Bề rộng và bề dài
của mõm gần bằng nhau. Bờ mõm được giới hạn bởi hai vảy môi và sáu tấm
vảy sau mõm. Lỗ mũi mở trực tiếp ra ngoài, trán và vùng gian ổ mắt đôi khi
to; các vảy trên ổ mắt là các vảy chấm rất nhỏ. Màng nhĩ rộng và nông, đường
kính của nó gần bằng chiều dài lỗ mắt. Hai bên cổ có những nếp da nằm
ngang kéo ngang qua phần gáy.
7
Vẩy lưng nhỏ, hoá sừng; vẩy mặt bụng lớn hơn ở mặt lưng”.
Đặc điểm hình thái của con cái tương tự như con đực, chỉ khác ở một
số điểm sau: Con cái da ở hai bên sườn không thể bạnh ra khi ở tư thế dọa nạt;
ở con đực mặt lưng từ đầu đến đuôi màu phân ngựa với những vùng sẫm ở hai
bên, riêng mặt lưng phần thân có những chấm màu vàng viền đen hình mạng
lưới, mặt bụng từ đầu đến đuôi màu trắng đục, đặc biệt hai bên thân có hai dải
chấm màu da cam thể hiện khá rõ khi nhông bạnh nếp da hai bên sườn, còn
con cái các chấm vàng viền đen ở mặt lưng sắp thành bốn dãy dài chạy dọc
lưng từ sau gáy tới gốc đuôi, ngoài ra ở hai bên sườn không có các dãy chấm
màu da cam.
Về tính trạng khối lượng cơ thể, chiều dài thân thì cá thể đực thường
lớn hơn cá thể cái (cá thể đực có khối lượng trung bình là 41,17 g và chiều dài
thân trung bình là 114,0 mm; trong khi con cái là 30,52 g và 107,4 mm). Số
lượng lỗ đùi trung bình của cá thể đực ít hơn cá thể cái (con đực là 17 và con
cái là 18).
Đặc điểm hình thái của phân loài L.belliana guttata Cuvier cũng tương
tự như ở phân loài L.belliana belliana, chỉ khác ở một số tính trạng sau: Mặt
lưng của L.belliana guttata Cuvier không có các chấm vàng viền đen mà có
các chấm màu phân ngựa hình lục giác, có bốn sọc dài màu vàng nhạt rộng
trung bình 3 mm: hai sọc chạy từ sau tai đến gốc đuôi, hai sọc chạy từ gốc
chân trước đến gốc chân sau. Mặt bụng màu trắng đục, không có các chấm
màu da cam hai bên thân và không có khả năng bạnh da hai bên sườn.
L.belliana guttata Cuvier có khối lượng cơ thể trung bình là 56,0g và
chiều dài thân trung bình là 120,83 mm. Số lượng lỗ đùi là 20 – 23
Ở Thừa Thiên Huế, nhông cát sinh sống ở hai vùng sinh cảnh khác
nhau là vùng cát ven biển và vùng nương rẫy ở đồng bằng các xã Thuỷ Phù,
Thuận An và Lộc Hải.
Quan sát và theo dõi hoạt động của nhông cát ngoài tự nhiên, tác giả
thấy rằng nhông hoa hoạt động ban ngày những hôm trời nắng với nhiệt độ
8
không khí từ 30 – 38
o
C, nhiệt độ mặt đất từ 33 – 40
o
C và độ ẩm từ 30 – 78 %.
Nhông sọc hoạt động ở nhiệt độ không khí từ 27 – 38
o
C, nhiệt độ mặt đất từ
27 – 59
o
C và độ ẩm 30 – 64 %. Chúng hoàn toàn không hoạt động vào những
ngày mưa, trời âm u hoặc trước lúc bắt đầu mưa và về mùa đông (từ tháng XI
– tháng III) khi nhiệt độ không khí nhỏ hơn 25
o
C và độ ẩm trên 90 %. Vào
những ngày nắng nóng (nhiệt độ tren 38
o
C) chúng vẫn hoạt động với điều kiện
là độ ẩm thấp.
Ngoài ra vào những ngày nắng nóng nhiệt độ mặt đất tăng lên quá cao
có thể trên 50
o
C, nhông cát vẫn hoạt động. Lúc đó chúng kiếm ăn trong các
bóng râm hoặc chạy rất nhanh trên cát hoặc các cây cỏ khác.
Từ tháng XI đến tháng III nhông cát trú đông trong hang. Vào thời kì
này nhiệt độ trung bình trong hang xuống thấp từ 18,5 – 24,4
o
C, độ ẩm trung
bình từ 83 – 92
o
C
Về vấn đề sinh sản của nhông cát, tác giả lưu ý một số vấn đề sau: “Đối
với loài nhông hoa, kích thước và khối lượng của tinh hoàn và của buồng
trứng vào các tháng IV và VI lớn hơn các tháng còn lại. Trong khi đó khối
lượng thể mỡ lại bé vào các tháng IV, V và VI và lớn hơn vào các tháng khác.
Đối với nhông sọc, khối lượng của buồng trứng vào các tháng IV, VI
và VII, trong khi khối lượng thể mỡ lại bé vào các tháng này và lớn hơn vào
các tháng khác.
Trứng có kích thước lớn hơn 4 mm chỉ thấy xuất hiện vào tháng IV và
VI ở phân loài nhông hoa và vào tháng IV, VI và VII ở phân loài nhông sọc.
Như vậy mùa sinh sản của nhông hoa là từ tháng IV đến tháng VI, của
nhông sọc là từ tháng IV đến tháng VII hàng năm. Đặc biệt, trong tất cả
những mẫu vật thu được ở Thuỷ Phù và Lộc Hải không có cá thể nào là đực
nên đưa đến khả năng nhông sọc là loài thằn lằn trinh sinh, tức là trứng phát
triển không có sự thụ tinh [4]. Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnh đây có phải
là loài trinh sinh hay không vẫn còn là vấn đề nghi vấn và cần tiếp tục theo
dõi.
9
II. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở MỨC ĐỘ PHÂN TỬ
1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước.
Trong những thập kỷ qua, nhờ sự phát triển của các kỹ thuật phân tử,
phân loại học phân tử đã có những bước tiến bộ đáng kể. Đã có nhiều công
trình nghiên cứu về lĩnh vực này trên các đối tượng động vật, thực vật và vi
sinh vật. Những thành tựu này đặc biệt có ý nghĩa đối với những loài mới
được phát hiện hay với những loài đã bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên.
Việc nghiên cứu tính đa hình các cá thể trong một quần đàn, các quần
đàn trong một giống, các giống với nhau, các họ với nhau hoặc các bộ với
nhau nhằm mục đích cải biến di truyền, chọn giống, hoàn thiện cây tiến hóa,
tìm hiểu lịch sử di cư liên quan tới địa lý, nghiên cứu sự liên quan giữa tính đa
hình và khả năng chống chịu bệnh tật hoặc dễ nhiễm bệnh và pháp y hình sự.
Để nghiên cứu tính đa hình và phân loài người ta thường sử dụng các
phương pháp sinh hóa cổ điển như isoenzyme đa hình, hay các phương pháp
chỉ thị phân tử hiện đại như ADN đa hình khuếch đại ngẫu nhiên (RADP),
ADN đa hình chiều dài các phân đoạn được cắt giới hạn (RELP), ADN đa
hình độ dài các phân đoạn được khuếch đại (AFLP), vi vệ tinh, đa hình
nucleotide đơn (SNP) hay đọc trình tự rồi trực tiếp so sánh các trình tự ADN
với nhau. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định,
không giống nhau nhưng có thể bổ sung cho nhau đêr hoàn thiện kết quả
nghiên cứu. Đặc biệt khi các phương pháp phân loại hình thái đã bão hòa
không thể đi sâu được nữa, thì các phương pháp sinh học phân tử sẽ trợ giúp
một cách có hiệu quả.
Năm 1993, Darevsky và Kupriyanova đã nghiên cứu phát hiện và mô tả
một loài nhông mới thuộc giống Leiolepis CUVIER, 1829 có nguồn gốc từ
Việt Nam là Leiolepis guentherpetersi. Đây là một trong hai loài nhông có
mặt ở Thừa Thiên Huế. Các phân tích về hình thái, kiểu nhân và địa lý sinh
vật học cho thấy rằng đây là loài tam bội có nguồn gốc từ sự lai tạo tự nhiên.
Tuy nhiên chưa có nghiên cứu đánh giá ở mức độ phân tử đối với loài này.
10
Turbeville et a. (1991) dựa trên sự phân tích 18S rRNA để nghiên cứu
sự phát sinh chủng loại của chân khớp. Cũng bằng phương pháp này, Passhley
et al. (1993) đã phân loại Bộ côn trùng biến thái hoàn toàn.
Miya và Nishida (1998) đã nghiên cứu sự phát sinh chủng loại và tiến
hóa ở mức độ phân tử của các loài cá sống ở vùng biển sâu thuộc giống
Sternoptyx dựa trên phân tích gen mã hóa 12S – rRNA và 16S – rRNA ở ty
thể.
Boyce et al. (1999) nghiên cứu cấp phân loại phụ của quần thể cừu
sừng lớn (Ovis canadensis) dựa trên phân tích 515 bp đầu tiên của vùng khởi
động ADN ty thể.
Nhiều nghiên cứu theo hướng đa dạng di truyền và nhận dạng các loài
ở mức phân tử cũng đã được tiến hành (Carvalho et al. 2001; Garrjardo et al.
2002)
2.Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về hai loài
nhông cát ở Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên các công trình này chỉ nghiên cứu về
hình thái, đặc điểm sinh học, đặc điểm quần thể, sinh thái học cũng như hoạt
động ngày đêm của chúng (Ngô Đắc Chứng 1986, 1992, 1993, 1994). Ở Việt
Nam nói chúng phân loại phân tử vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ. Gần đây
một số công trình nghiên cứu theo hướng sử dụng các phương pháp sinh học
phân tử để phân tích đa hình di truyền, xác định quan hệ họ hàng của một số
loài đã được công bố.
Quyền Đình Thi và cộng sự (2003) đã sử dụng các kỹ thuật
microsatellite, mtRFLP, RAPD để phân tích đa hình của các quần thể đàn tôm
sú, cá tra nuôi ở Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đã tìm được nhiều chỉ thị phân
tử đặc trưng như RAPD để phân biệt các quần đàn cá tra nuôi trong các trại cá
khác nhau. Những chỉ thị này có thể được nghiên cứu tiếp phục vụ công tác
chọn giống [13].
11
Nguyễn Thị Thanh Bình và cộng sự (2005) đã nghiên cứu đa dạng
phân tử của các giống tằm sử dụng trong sản xuất bằng PCR – RAPD. Cũng
bằng kĩ thuật này, Đinh Thị Phương Anh (2005) đã nghiên cứu tính đa dạng
của thạch sùng vùng núi Bà Nà, Đà Nẵng [1,3].
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA HÌNH
Có nhiều phương pháp để nghiên cứu tính đa hình, mỗi phương pháp
đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định, không giống nhau nhưng có
thể bổ sung cho nhau để hoàn thiện kết quả nghiên cứu.
1. Phương pháp isoenzyme cổ điển
Enzyme là những protein có khả năng xúc tác đặc biệt phản ứng hóa
học và là chất xúc tác sinh học. Isoenzym là những dạng khác nhau của một
enzyme có cùng hoạt tính cơ chất đặc hiệu nhưng lại khác nhau về phương
diện di truyền tức là khác nhau về cấu trúc bậc một và do các locus gene khác
nhau xác định. Còn allozyme lại là các dạng khác nhau của một isoenzym do
chỉ một locus gene xác định (Prakash, 1969) [7,10].
Hiện tượng các phân tử enzym có nhiều biến dạng tồn tại trong quần
đàn tự nhiên là kết quả của các đột biến gây ra sự thay thế các acid amin trong
cấu trúc bậc một của chuỗi polypeptid. Chính vì vậy khi điện di trên gel
agarose, tinh bột thuỷ phân, polyacrylamide cùng với việc phối hợp nhuộm tế
bào cho phép ta phát hiện các biến dạng khác nhau của phân tử enzyme, phát
hiện các isoenzyme và các allozyme.
Các hệ thống isozyne đa hình là các mô hình rất thuận lợi cho việc
nghiên cứu, do bản chất di truyền tương đối đơn giản và hầu hết được biểu
hiện di truyền đồng trội. Do đó khi sử dụng các dữ kiện về đa hình isozyme
không những biết kiểu gen của cá thể mà còn biết mức độ dị hợp của quần
đàn. Mặt khác, mỗi biến dạng phân tử enzyme là một “chỉ thị” của gene,
12
nghiên cứu quan hệ họ hàng, nguồn gốc của vật nuôi, gia súc. Dựa trên tần số
allele, người ta xác định được khoảng cách di truyền giữa các quần đàn.
Nhiều nghiên cứu trên động vật, côn trùng, sử dụng các phương pháp
đánh giá trên cho thấy số đo khoảng cách di truyền có tương quan rõ rệt với
các thứ hạng phân loại của nhóm sinh vật nghiên cứu (Manwell và Barker,
1970; Namikawa, 1972) [7,10].
Những chỉ thị isozyme chỉ thể hiện ở những giai đoạn khác nhau trong
quá trình phát triển cá thể tuỳ thuộc vào cơ chế phức tạp của sự đóng mở
gene. Mặt khác do có số lượng không nhiều mà sự biểu hiện lại phụ thuộc vào
giai đoạn phát triển cá thể, không phản ánh chính xác bản chất di truyền của
một tính trạng nên chỉ thị isozyme được sử dụng tương đối hạn chế.
2. Các phương pháp sử dụng chỉ thị phân tử ADN
Chỉ thị ADN là những chỉ thị dựa trên bản chất đa hình của ADN. Nó
có thể là những dòng gene có sẵn hay dưới dạng những thông tin di truyền
được lưu giữ và chuyển tải trong các file dữ liệu máy tính (ví dụ như trình tự
các mồi SSR, RAPD, AFLP). Người ta chia chỉ thị ADN thành 3 loại chính:
- Chỉ thị dựa trên các trình tự nhận biết enzyme hạn chế (RFLP và
AFLP).
- Chỉ thị dựa trên các trình tự nucleotide ngẫu nhiên (RAPD).
- Chỉ thị dựa trên các trình tự ngắn lặp lại nhiều lần (tiểu vệ tinh)
2.1. Phương pháp RAPD
RAPD (Ramdon Amplified Polymorphism DNA) là các phân đoạn
DNA đa hình được khuếch đại ngẫu nhiên. Phương pháp này do William
(1990). Welsh và cộng sự (1991) phát triển từ phương pháp PCR chuẩn nhưng
với một mồi duy nhất có kích trước từ 5 đến 12 nucleotide. Do kích thước bộ
gen của một cá thể là rất lớn từ vài trăm triệu với vài tỉ base, là những chuỗi
13
được hình thành từ bốn base duy nhất là adenine, guanine, cytosine, và
thymine cho nên sẽ tồn tại nhiều trình tự 5 đến 12 base bắt cặp với trình tự
mồi ngẫu nhiên. Sản phẩm PCR với một mồi có trình tự ngẫu nhiên như vậy,
ở những điều kiện PCR nhất định sẽ cho một (hoặc vài) phân đoạn DNA
(khác nhau) trên điện di đồ.
Các cá thể sinh vật cùng loài, giống, họ có bộ gene giống nhau hoàn
toàn giống nhau. Kết quả điện di trên điện di đồ sẽ gồm những band vạch
DNA có kích thước như nhau. Khi bộ gen của chúng có nhiều trình tự khác
nhau, với một mồi ngẫu nhiên nào đó, các sản phẩm PCR của chúng sẽ cho
một số band vạch DNA có kích thước khác nhau trên điện di đồ.
Phương pháp RAPD cho phép phát hiện tính đa hình giữa các cá thể
trong một quần đàn, giữa các quần đàn trong cùng một loài hoặc giữa các loài
trong một giống, mà không cần biết trình tự sắp xếp các nucleotide ra sao.
Mặt khác mồi RAPD sẽ chỉ ra một đa hình thường xuất hiện nhất [12].
Mồi ngẫu nhiên được thiết kế là những oligonucleotide có kích thước
từ 5 đến 12 nucleotide, và được tổng hợp hóa học. Tuỳ theo hãng sản xuất,
các mồi có kí hiệu, tên gọi cũng như trình tự rất khác nhau. Yêu cầu cơ bản là
mồi phải bắt cặp và bám vào hai đầu của đoạn khuôn, để phân đoạn DNA nằm
giữa có kích thước khoảng 50 đến 5000 nucleotide được nhân lên. Mồi càng
ngắn thì khả năng bắt cặp càng cao, và do đó số sản phẩm PCR càng nhiều.
Ngược lại mồi càng dài thì thì độ bắt cặp chính xác càng lớn, số phân đoạn
PCR càng ít đi.
Ưu điểm của phương pháp RAPD là thời gian thực hiện nhanh, dễ làm
và ít tốn kém, giúp cho xác định tính đa dạng sinh học, nguồn gốc các giống
động vật, thực vật và vi sinh vật, còn gọi là phân loại phân tử [12].
2.2. Phương pháp RFLP
RFLP (Restrition Fragment Length Polymorphism DNA) là DNA đa
hình chiều dài các phân đoạn DNA được cắt giới hạn. Chỉ thị này lần đầu tiên
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét