Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty cho thuê tài chính II–Cần Thơ
hoàn trả lại cho bên thuê sau khi nhận tài sản thuê theo thỏa thuận ghi trong hợp
đồng.
- Ký cược: là việc bên thuê giao một khoản tiền cho bên cho thuê để đảm bảo
việc thực hiện nghĩa vụ của mình trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng. Tiền ký
cược có thể được dùng để thu nợ kỳ cuối cùng hoặc hoàn trả cho bên thuê khi đã
hoàn thành các nghĩa vụ của mình. Trong trường hợp bên thuê không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên cho thuê có quyền dùng tiền
ký cược để thu nợ hoặc bù đắp các chi phí phát sinh.
- Thời hạn cho thuê: là khoản thời gian được tính từ khi bên thuê nhận tài sản
thuê cho đến thời điểm trả hết tiền thuê được thỏa thuận trong hợp đồng.
- Điều chỉnh kỳ hạn trả tiền thuê: là việc bên cho thuê và bên thuê thay đổi
số kỳ hạn và số tiền thuê phải trả mỗi kỳ nhưng không làm thay đổi thời hạn cho
thuê đã thỏa thuận trước đó trong hợp đồng.
- Gia hạn thanh toán tiền thuê: là việc bên cho thuê chấp thuận kéo dài thêm
một khoản thời gian ngoài thời hạn cho thuê đã thỏa thuận trước đó trong hợp
đồng.
- Hợp vốn cho thuê: là việc công ty cho thuê tài chính cùng một hay nhiều
công ty cho thuê tài chính khác cùng cho thuê một dự án thỏa thuận của hợp đồng
hợp vốn cho thuê.
2.1.2 Một số rủi ro thường gặp trong hoạt động cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là một hoạt động kinh tế - tài chính, chịu tác động của
nhiều mối quan hệ trong nền kinh tế. Vì vậy hoạt động cho thuê tài chính cũng có
nhiều rủi ro khác nhau, gây ra tổn thất cho các bên tham gia vào hoạt động cho
thuê tài chính.
2.1.1.1 Rủi ro trong quá trình thẩm định dự án
Là rủi ro xuất hiện trong quá trình thẩm định dự án, phương án đề nghị thuê
tài chính của bên thuê. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thẩm định:
- Trình độ của cán bộ thẩm định yếu kém, không thu thập được đầy đủ thông tin,
tài liệu liên quan đến dự án, không phân tích đúng tính khả thi của dự án.
- Cán bộ thẩm định cố ý làm sai do thiếu trách nhiệm hoặc do phẩm chất đạo
đức yếu kém. Thông đồng với khách hàng để làm sai lệch thông tin, tài liệu có
lợi cho việc chấp thuận dự án.
GVHD: Nguyễn Hữu Đặng - SVTH: Đinh Trọng Lịch-5
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty cho thuê tài chính II–Cần Thơ
- Khách hàng cố tình cung cấp tài liệu không đúng sự thực, cố tình gian lận để
được nhận tài trợ thuê.
2.1.1.2 Rủi ro trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng cho thuê tài
chính
Hợp đồng cho thuê tài chính là tài liệu quan trọng nhất thể hiện mối quan hệ
ràng buộc về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia, đồng thời
nó cũng quy định cụ thêt các chế tài khi một trong các bên vi phạm các điều khoản
đã quy định
Người ký hợp đồng không phải là người đại diện pháp nhân của doanh
nghiệp hoặc không có giấy uỷ quyền theo quy định của pháp luật.
Trường hợp khi có tranh chấp và phát hiện những sai sót này thì hợp đồng sẽ
bị vô hiệu, khôi phục lại tình trạng ban đầu. Bên thuê trả lại tài sản thuê và nhận
lại số tiền đã thanh toán trong thời gian chưa có tranh chấp. Trong trường hợp này,
bên cho thuê thu về tài sản đã cũ, công nghệ lạc hậu, hao mòn hữu hình… tất cả
những vấn đề này tạo nên sự thiệt hại rất lớn cho bên cho thuê.
Rủi ro xảy ra do những sai sót hoặc thay đổi về các yếu tố pháp lý liên quan
đến hợp đồng cho thuê tài chính.
2.1.1.3 Rủi ro do sự lừa đảo có chủ ý
Nhà cung cấp thông đồng với người được thuê để chiếm dụng vốn của người
cho thuê. Nâng giá ban tài sản để lấy phần chênh lệch thực hiện các việc khác như
đặt cọc, ký cược, chi phí khác …
Tài sản do nhà cung ứng giao không đúng theo hợp đồng về thời gian, chủng
loại, chất lượng: bên thuê không nhận tài sản nhưng căn cứ vào hợp đồng mua tài
sản thì bên cho thuê đã thanh toán một phần tiền mua tài sản.
2.1.1.4 Nguồn gốc của thiết bị cho thuê không minh bạch
Là những tài sản có nguồn gốc không hợp pháp, hay có liên quan tới vụ tranh
chấp các vụ án… mà khi mua tài sản cả người thuê và người cho thuê đều không
biết, hoặc thậm chí ngay cả người cung cấp cũng không biết được. Chỉ khi có sự
kiện pháp lý phát sinh các bên có liên quan mới hiểu rõ.
GVHD: Nguyễn Hữu Đặng - SVTH: Đinh Trọng Lịch-6
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty cho thuê tài chính II–Cần Thơ
2.1.1.5 Rủi ro xảy ra khi nhập khẩu tài sản cho thuê
Rủi ro trong quá trình vận chuyển tài sản như: phương tiện chuyên chở gặp
tai nạn, thiết bị bị hư hỏng. Hay do việc bốc dỡ thiết bị, sắp xếp thiết bị trên
phương tiện vận chuyển không đúng quy cách…
Rủi ro về các phương thức thanh toán tiền cho nhà cung ứng. VD: thanh toán
tiền trước cho nhà xuất khẩu, tiền đã thanh toán nhưng không đảm bảo sẽ nhận
được máy móc thiết bị do không có điều khoản ràng buộc đối với nhà cung ứng.
Hoặc việc nhà cung ứng lập chứng từ khống để lừa gạt nhà nhập khẩu. Hoặc hàng
hoá gửi không đúng quy cách so với bộ chứng từ mà người nhập khẩu đã chấp
nhận thanh toán.
Rủi ro về khoa học kỹ thuật, nguyên nhân là do trình độ của người nhập khẩu
không theo kịp tiến bộ khoa học kỹ thuật khiến sản phẩm sản xuất ra bằng thiết bị
đó không đủ khả năng cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu hay sản phẩm của
doanh nghiệp khác. Hoặc mắc phải tình trạng chi phí mua phụ tùng rất lớn so với
chi phí mua thiết bị. Hoặc thiết bị không hoạt động được do thiếu một vài thiết bị
trợ giúp mà thiết bị này hoàn toàn không có trong thoả thuận mua bán với nhà xuất
khẩu…
2.1.1.6 Rủi ro trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm
tài sản cho thuê
- Rủi ro xảy ra không thuộc đối tượng bảo hiểm.
- Các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm không rõ ràng dẫn đến bên bảo
hiểm từ chối bồi thường hoặc chỉ bồi thường một phần thiệt hại.
- Không làm đúng các thủ tục dẫn đến bên bảo hiểm từ chối bồi thường
như: nộp phí bảo hiểm chậm, thủ tục khai báo không đúng, giám định thiệt hại
không phù hợp.
2.1.1.7 Rủi ro xảy ra khi thu hồi tài sản thuê
Tài sản bên cho thuê thu hồi trong các trường hợp vi phạm hợp đồng mua tài
sản, hợp đồng cho thuê do lỗi của bên tham gia ký kết hợp đồng.Tài sản cho thuê
được thu hồi không thể cho thuê tiếp, hoặc bán lại với giá thấp hơn dư nợ cho thuê
còn lại hoặc không bán được.
Các nguyên nhân:
- Tài sản tồn tại nhưng khuyết tật tiềm ẩn
GVHD: Nguyễn Hữu Đặng - SVTH: Đinh Trọng Lịch-7
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty cho thuê tài chính II–Cần Thơ
- Tài sản do lỗi thời không thể tái chế, nâng cấp
- Tài sản hư hỏng, mất phẩm chất
- Người cho thuê không đủ khả năng tìm đựơc người thuê hay mua tài sản.
- Do các đặc tính kỹ thuật của tài sản chỉ có thể phục vụ trong những ngành
kinh tế nhất định, hay ở những đơn vị kinh tế có những điều kiện nhất định.
2.1.1.8 Rủi ro bất khả kháng
- Bên thuê bỏ trốn, chết, mất tích…
- Bên thuê bị tuyên bố phá sản, giải thể…
- Rủi ro do thiên tai, hoả hoạn, bão lụt…
2.1.1.9 Rủi ro tài chính
Là những rủi ro mà khi nó xuất hiện sẽ gây ra những tổn thất về mặt tài chính
làm giảm lợi nhuận thực tế so với dự kiến của công ty cho thuê tài chính.
Rủi ro do người thuê không còn khả năng thanh toán tiền thuê sau khi đã bán
tài sản thuê nhưng vẫn chưa thu hết nợ.
Rủi ro về lãi suất: là những rủi ro gắn liền với sự thay đổi của lãi suất vay và
cho vay trên thị trương hay các lãi suất chiết khấu hoặc tái chiết khấu.
Rủi ro về tỷ giá: là những rủi ro do sự biến động về tỷ giá trong nền kinh tế.
2.1.2 Các hình thức cho thuê tài chính cơ bản
2.1.2.1 Cho thuê tài chính thuần (Net Finance Lease)
Cho thuê tài chính thuần là hình thức cho thuê trong đó có ba bên tham gia
giao dịch cho thuê: bên cho thuê, nhà cung cấp và bên thuê. Đây là hình thức cho
thuê phổ biến nhất hiện nay ở Việt Nam.
GVHD: Nguyễn Hữu Đặng - SVTH: Đinh Trọng Lịch-8
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty cho thuê tài chính II–Cần Thơ
Hình 1: SƠ ĐỒ MỐI QUAN HỆ BA BÊN TRONG
CHO THUÊ TÀI CHÍNH THUẦN
Trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên tham gia trên hợp đồng. Trình tự cho thuê
tài sản được tiến hành qua các bước sau:
(1) Khi bên thuê có nhu cầu thuê tài sản, họ phải tìm cho mình một nhà cung
ứng có thể đáp ứng đúng nhu cầu của họ và liên hệ với bên cho thuê để được đáp
ứng nhu cầu thuê tài sản này được thỏa thuận cụ thể qua hợp đồng cho thuê tài
sản.
(2) Bên cho thuê đến nhà cung ứng và thực hiện giao dịch mua tài sản theo
yêu cầu của bên thuê được thể hiện qua hợp đồng mua tài sản.
GVHD: Nguyễn Hữu Đặng - SVTH: Đinh Trọng Lịch-9
5
1
7
Bên cho thuê
(Lessor)
Quyền sử dụng tài sản
Tiền thuê tài sản
Hợp
đồng
mua
tài
sản
Hợp đồng cho thuê tài sản
Bên thuê
(Lessee)
Trả
tiền
bảo trì
và phụ
tùng
Bảo trì
thuê và
phụ
tùng thay
thế
Quyền
sở hữu
pháp lý
đối với
tài sản
Trả
tiền
mua
tài
sản
Giao
tài
sản
Nhà cung cấp
(Manufactuer or Supplier)
3
4 66
8 9
5
2
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty cho thuê tài chính II–Cần Thơ
(3) Sau khi thỏa thuận và ký hợp đồng mua bán tài sản, bên cho thuê cũng
như bên mua tiến hành thanh toán tiền mua tài sản theo thỏa thuận trên hợp đồng
mua tài sản.
(4) Đồng thời việc trả tiền mua tài sản, phía nhà cung ứng sẽ cung cấp các
giấy tờ liên quan để chứng nhận quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản mang tên
bên cho thuê.
(5) Khi hợp đồng cho thuê tài sản được ký kết thì bên cho thuê tiến hành
chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho bên thuê.
(6) Theo thỏa thuận với bên thuê, nhà cung cấp tiến hành giao tài sản cho bên
thuê.
(7) Định kỳ sau khi thuê một thời gian nhất định, bên thuê sẽ tiến hành nộp
tiền thuê tài sản gồm một phần vốn gốc và lãi cho bên cho thuê.
(8) Sau một thời gian sử dụng tài sản phát sinh hư hỏng ở một số bộ phận thì
có thể yêu cầu trực tiếp với nhà cung ứng thực hiện bảo trì và cung cấp một số phụ
tùng thay thế.
(9) Khi có yêu cầu về việc bảo trì và đã được nhà cung ứng đáp ứng thì bên
thuê có trách nhiệm thanh toán tiền bảo trì và phụ tùng thay thế cho nhà cung ứng
tuỳ thuộc vào thỏa thuận giữa hai bên.
2.1.2.2 Cho thuê trực tiếp (Direct Lease)
Đây là loại hình cho thuê có sự tham gia của hai bên là bên cho thuê và bên
thuê. Trong đó người cho thuê sử dụng tài sản của họ có sẵn trực tiếp cho người
thuê thuê tài sản. Người cho thuê thường là nhà sản xuất hoặc các định chế tài
chính sử dụng tài sản của họ để tài trợ cho người thuê.
Loại cho thuê này thường được các nhà sản xuất sử dụng để đẩy mạnh việc
tiêu thụ sản phẩm do họ sản xuất ra. Mặt khác, nhờ luôn cập nhật những công nghệ
mới để chế tạo máy móc, thiết bị nên họ có thể sẵn sàng mua lại những thiết bị đã
lạc hậu để tiếp tục cung cấp những máy móc, thiết bị mới, hiện đại do họ chế tạo
ra.
2.1.2.3 Bán và tái thuê (Sale & LeaseBack)
Trong thực tiễn hợp đồng sản xuất kinh doanh, nhiều doanh nghiệp nhất là
các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp rất nhiều khó khăn về vốn lưu động. Vay vốn sẽ
gặp phải nhiều thủ tục, điều kiện khắc khe mà các doanh nghiệp này khó có thể
GVHD: Nguyễn Hữu Đặng - SVTH: Đinh Trọng Lịch-10
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty cho thuê tài chính II–Cần Thơ
thỏa mãn. Đồng thời trong điều kiện doanh nghiệp có nhu cầu phải duy trì năng
lực sản xuất nên không thể bán bớt tài sản cố định để chuyển thành tài sản lưu
động. Trong Bối cảnh đó hình thức giao dịch “Bán và tái thuê đã được ra đời để
đáp ứng nhu cầu này”.
Đặc trưng chủ yếu của phương thức này là: bên thuê giữ lại quyền sử dụng
tài sản và chuyển giao quyền sở hữu pháp lý cho bên cho thuê, đồng thời nhận
được tiền bán tài sản. Bên thuê sử dụng tiền bán tài sản này vào mục đích sản xuất
kinh doanh của mình và tiến hành thanh toán tiền thuê tài sản cho bên cho thuê
theo định kỳ được quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính. Trong trường hợp
này, bên thuê lần lượt giữ các vị thế: người chủ sở hữu ban đầu – người sử dụng –
người cho thuê. Bên cho thuê từ vị trí người mua thành người thuê.
Từ thời điểm này, mọi điều kiện sẽ diễn ra như một giao dịch thuê mua bình
thường. Điều đáng chú ý là những tài sản được sử dụng vào giao dịch này phải là
tài sản có giá trị sử dụng hữu ích. Giá mua tài sản tuỳ thuộc vào giá cả hợp lý của
tài sản trên thị trường ở thời điểm diễn ra hoạt động mua bán. Các loại tài sản mới
hay đã sử dụng điều có thể được bán và tái thuê, giá của tài sản mới thường được
căn cứ vào hoá đơn của nhà cung cấp, còn giá trị tài sản đã sử dụng thì cần phải
được giám định giá độc lập.
Một trong những hình thức phổ biến của tài trợ bất động sản liên quan đến
việc sử dụng phương thức bán và tái thuê. Những cửa hiệu bán lẻ, văn phòng làm
việc, toà nhà đa dụng,…thường được tài trợ bằng phương thức này. Bên cạnh đó
những loại máy móc thiết bị có giá trị cũng được sử dụng trong giao dịch bán và
tái thuê.
2.1.2.4 Cho thuê hợp tác (Leveraged Lease)
Đây là hình thức cho thuê đặc biệt, là biến tướng của hình thức cho thuê
thường. Loại hình cho thuê này có sự hợp tác của bốn bên: bên cho thuê, bên thuê,
nhà cung cấp và nhà cho vay.
Bên cho thuê đi vay để mua tài sản cho thuê, từ một hay nhiều người cho vay
nào đó. Theo luật cho thuê tài chính của một số quốc gia, tiền vay này không được
vượt quá 80% tổng giá trị tài sản tài trợ. Vật thế chấp cho khoản tiền vay này là
quyền sở hữu tài sản cho thuê và các khoản tiền thuê mà bên thuê sẽ trả trong
GVHD: Nguyễn Hữu Đặng - SVTH: Đinh Trọng Lịch-11
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty cho thuê tài chính II–Cần Thơ
tương lai. Sau khi trả hết nợ vay, những khoản tiền còn lại sẽ được trả cho bên cho
thuê.
2.1.2.5 Cho thuê giáp lưng (Under Lease Contract)
Là phương thức tài trợ cho thuê mà trong đó được sự chấp thuận của bên cho
thuê, bên thuê thứ nhất cho bên thuê thứ hai thuê lại tài sản mà họ đã thuê từ bên
cho thuê. Hình thức này thường được áp dụng trong trường hợp:
+ Khi đã thực hiện được một phần thời hạn thuê, nhưng bên thuê thứ nhất vì
không còn nhu cầu thuê hay vì một lý do nào đó mà họ không muốn thuê tài sản
này nữa. Tuy nhiên hợp đồng thuê mà bên thuê thứ nhất đã ký là loại hợp đồng
không thể huỷ ngang nên buộc họ phải tìm bên thuê thứ hai để chuyển giao quyền
thuê cho bên thứ hai, thì cho dù không sử dụng tài sản họ vẫn phải trả tiền thuê.
+ Người thuê đi thuê tài chính để về cho thuê vận hành. Loại này phổ biến ở
các công ty dịch vụ vận tải,…
2.1.2.6 Cho thuê liên kết (Syndicate Lease)
Đây là loại cho thuê bao gồm nhiều bên cho thuê cùng tài trợ cho một người
thuê. Loại hình cho thuê này giao dịch tương tự như cho thuê tài chính thuần.
2.1.2.7 Cho thuê trả góp (Hire Purchase or Hire Purchase Lease)
Hình thức này có nguồn gốc từ các biện pháp khuyến mãi của các công ty
sản xuất lớn nhằm đẩy mạnh việc bán sản phẩm của họ. Đây là loại hình thức tài
trợ kết hợp được cả hai hình thức cho thuê và bán trả góp. Ta có thể gọi đây là
hình thức tài trợ cho thuê mang tính chất trả góp, hay là hình thức bán trả góp
mang tính chất cho thuê. Nhưng tên chuẩn nhất cho loại hình tài trợ này là “Cho
thuê trả góp”
2.1.3 Các quy định của nhà nước về cho thuê tài chính hiện nay
2.1.3.1 Cơ sở pháp lý hiện hành
Cơ sở pháp lý hiện hành cho hoạt động cho thuê tài chính của các công ty
cho thuê tài chính trực thuộc Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
bao gồm:
- Luật Ngân Hàng Nhà Nước số 10/1997/QH 10 và Luật các tổ chức tín dụng
số 12/1997/QH 10 ngày 12/12/1997.
- Nghị định số 16/2001/NĐ – CP ngày 02/05/2001 của Thủ Tướng Chính
Phủ về tổ chức và hoạt động của các công ty cho thuê tài chính.
GVHD: Nguyễn Hữu Đặng - SVTH: Đinh Trọng Lịch-12
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty cho thuê tài chính II–Cần Thơ
- Quy định về nghiệp vụ cho thuê tài chính của Ngân Hàng Nông Nghiệp và
Phát Triển Nông Thôn Việt Nam ban hành kèm theo quyết định số 90/QĐ –
HĐQT – QLDH ngày 15/04/2002 của Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Ngân Hàng
Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam.
- Các văn bản, qui định khác của Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển
Nông Thôn Việt Nam ban hành cho các Công ty cho thuê tài chính thực hiện.
2.1.3.2 Nội dung hoạt động
- Nguồn vốn hoạt động: gồm vốn tự có, vốn huy động từ tiền gửi trên 12
tháng và các nguồn vốn theo quy định của nhà nước.
- Hoạt động cho thuê tài chính: gồm cho thuê tài chính, mua và cho thuê lại
và đồng tài trợ cho thuê tài chính.
- Các hoạt động khác gồm: tư vấn cho khách hàng, thực hiện nghiệp vụ uỷ
thác, nghiệp vụ hối đoái và các hoạt động khác liên quan đến nghiệp vụ cho thuê
tài chính.
2.1.3.3 Phạm vi hoạt động
Các quy định của nhà nước hiện tại cho phép các công ty cho thuê tài chính
được hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
2.1.3.4 Các loại hình Công ty cho thuê tài chính
Theo nghị định 16/CP, hiện nay có 5 loại hình công ty cho thuê tài chính
được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam, cụ thể là:
a) Công ty cho thuê tài chính nhà nước
Là loại hình công ty cho thuê tài chính do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và
tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh.
b) Công ty cho thuê tài chính cổ phần
Là loại hình công ty cho thuê tài chính được thành lập với hình thức công ty
cổ phần, trong đó các tổ chức và cá nhân cùng góp vốn theo quy định của pháp
luật.
c) Công ty cho thuê tài chính trực thuộc các tổ chức tín dụng
GVHD: Nguyễn Hữu Đặng - SVTH: Đinh Trọng Lịch-13
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty cho thuê tài chính II–Cần Thơ
Là loại hình công ty cho thuê tài chính hạch toán độc lập, có tư cách pháp
nhân, do một số tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình và làm chủ sở
hữu theo quy định pháp luật.
d) Công ty cho thuê tài chính liên doanh
Là loại hình công ty cho thuê tài chính được thành lập bằng vốn góp giữa bên
Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam và một
bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài trên cơ sở hợp
đồng liên doanh.
e) Công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài
Là loại hình công ty cho thuê tài chính được thành lập bằng vốn của một
hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2.1.4 Một số quy định chung
2.1.4.1 Đối tượng cho thuê
Đối tượng cho thuê tài chính bao gồm:
- Cá nhân có đăng ký kinh doanh
- Hộ gia đình
- Doanh nghiệp
- Các tổ chức khác thuộc đối tượng được vay vốn của tổ chức tín dụng.
2.1.4.2 Nguyên tắc cho thuê
- Tài sản cho thuê thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên cho thuê trong suốt
thời hạn cho thuê. Bên thuê được quyền quản lý, sử dụng theo mục đích thuê, bảo
dưỡng tài sản thuê theo hợp đồng đã được ký kết.
- Bên thuê phải thanh toán tiền thuê đầy đủ, đúng hạn theo cam kết ghi trong
hợp đồng.
- Bên thuê được quyền chọn lựa mua lại hoặc tiếp tục thuê sau khi đã hoàn
thành các nghĩa vụ trong hợp đồng.
2.1.4.3 Điều kiện cho thuê
- Bên thuê phải được thành lập và hoạt động theo pháp luật hiện hành của
Việt Nam, có thời hạn hoạt động tối thiểu bằng thời hạn thuê tài chính.
- Bên thuê phải có dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ phục
vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định pháp luật.
GVHD: Nguyễn Hữu Đặng - SVTH: Đinh Trọng Lịch-14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét