Luận văn tốt nghiệp
Xuất phát từ thực tế khách quan trên ngời ta hiểu ràng toàn bộ những
hoạt động với những mối quan hệ chặt chẽ đó đợc quan niệm là Bảo hiểm xã
hội (BHXH) đối với ngời lao động. Đây là một trong những phơng thức đối phó
hữu hiệu nhất trong hệ thống An sinh xã hội của quốc gia, là một trong những
phát kiến văn minh nhân loại về khoa học xã hội kết hợp với khoa học tự nhiên
để giữ gìn, bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ cho con ngời.
Đối với Việt Nam, ngay từ khi thành lập nớc năm 1945 Chính phủ đã trú
trọng đến vấn đề phát triển chính sách BHXH và bảo trợ xã hội. Đứng đầu là
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm ban hành và thực hiện ngay từ những
ngày đầu thành lập nớc và thờng xuyên đợc bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp
yêu cầu phát triển thực tiễn của đất nớc. Hệ thống BHXH ngày càng đợc mở
rộng đã góp phần to lớn vào việc ổn định cuộc sống cho ngời lao động, góp
phần ổn định kinh tế chính trị xã hội của đất nớc.
Tất nhiên, BHXH vẫn cha hoàn toàn khắc phục đợc những yếu điểm của
nó mặc dù là cho đến nay nó đã trải qua một thời gian dài. Song không thể phủ
nhận sự tồn tại của hệ thống BHXH là một sự cần thiết tất yếu khách quan cho
mọi Quốc gia, cho toàn nhân loại.
1.2. Vai trò của BHXH.
Có thể nói từ khi khái niệm BHXH đợc biết đến ở mọi Quốc gia thì chính
sách BHXH đều do Nhà nớc quản lý một cách thống nhất. Trong mọi chế độ xã
hội BHXH luôn đóng vai trò quan trọng và thể hiện đợc những vai trò to lớn.
1.2.1 Đối với ngời lao động (NLĐ).
Có thể nói BHXH có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần đảm bảo
cuộc sống ổn định cho ngời lao động và gia đình họ khi mà họ gặp những rủi ro
bất ngờ nh: tai nạn lao động, ốm đau, thai sản làm giảm hoặc mất sức lao
động gây ảnh hởng đến thu nhập của NLĐ. Bởi lẽ, khi NLĐ gặp những rủi ro
ảnh hởng đến thu nhập BHXH sẽ thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho
Luận văn tốt nghiệp
NLĐ và gia đình họ với mức hởng, thời điểm và thời gian hởng theo đúng quy
định của Nhà nớc. Do vậy, mặc dù có những tổn thất về thu nhập nhng với sự bù
đắp của BHXH đã phần nào giúp NLĐ có đợc những khoản tiền nhất định để
trang trải cho các nhu cầu thiết yếu của bản thân và gia đình họ. Chính do có sự
thay thế và bù đắp thu nhập này, BHXH làm cho NLĐ ngày càng yêu nghề hơn,
gắn bó với công việc, sống có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình bè bạn và
cộng đồng hơn; là sợi dây ràng buộc, kích thích họ hăng hái tham gia sản xuất
hơn, gắn kết NSDLĐ với NLĐ lại gần nhau hơn, từ đó nâng cao đợc năng suất
lao động, tăng sản phẩm xã hội góp phần nâng cao chính cuộc sống của những
ngời tham gia BHXH.
Ngoài ra BHXH còn bảo vệ và tăng cờng sức khoẻ cho NLĐ góp phần tái
sản xuất sức lao động cho NLĐ nhanh chóng trở lại làm việc tạo ra sản phẩm
mới cho doanh nghiệp nói riêng và cho xã hộ nói chung, đồng thời góp phần
đảm bảo thu nhập của bản thân họ.
1.2.2 Đối với ngời sử dụng lao động (NSDLĐ).
Thực tế trong lao động, sản xuất NLĐ và NSDLĐ vốn có những mâu
thuẫn nhất định về tiền lơng, tiền công, thời hạn lao động Và khi rủi ro sự cố
xảy ra, nếu không có sự giúp đỡ của BHXH thì dễ dẫn đến khả năng tranh chấp
giữa NLĐ và NSDLĐ. Vì vậy BHXH góp phần điều hoà, hạn chế các mâu thuẫn
giữa giới chủ và giới thợ, tạo ra môi trờng làm việc ổn định cho ngời lao động,
tạo sự ổn định cho ngời sử dụng lao động trong công tác quản lý. Từ đó góp
phần nâng cao hiệu quả năng suất lao động của doanh nghiệp lên.
Hơn nữa, NSDLĐ muốn ổn định và phát triển sản xuất thì ngoài việc đầu
t vào máy móc, thiết bị, công nghệ còn phải chăm lo đến đời sống cho ng ời
lao động mà mình thuê mớn, sử dụng. Bởi NSDLĐ khi đã tính đến việc thuê m-
ớn lao động cũng có nghĩa là lúc đó họ rất cần có NLĐ làm việc cho mình liên
tục trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nhng mong muốn của NSDLĐ đó
không phải lúc nào cũng thực hiện đợc, bởi trong quá trình sản xuất cũng nh
trong đời sống NLĐ có thể gặp rủi ro vào bất kì lúc nào. Và lúc đó, NSDLĐ sẽ
Luận văn tốt nghiệp
không có ngời làm thuê cho mình dẫn đến gián đoạn quá trình sản xuất kinh
doanh làm giảm năng xuất lao động rồi dẫn đến giảm thu nhập cho NSDLĐ.
Nhng khi có sự trợ giúp của BHXH, NLĐ không may gặp rủi ro đó phần nào đ-
ợc khắc phục về mặt tài chính, từ đó NLĐ có điều kiện phục hồi nhanh những
thiệt hại xảy ra. Làm cho ngời lao động nhanh chóng trở lại làm việc giúp
NSDLĐ, yên tâm, tích cực lao động sản xuất làm tăng năng xuất lao động, góp
phần tăng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.3 Đối với Nhà nớc.
- BHXH là một trong những bộ phận quan trọng giúp cho Ngân
sách Nhà nớc giảm chi đến mức tối thiểu nhng vẫn giải quyết đ-
ợc khó khăn về đời sống cho NLĐ và gia đình họ đợc phát triển
an toàn hơn. Khi NLĐ hoặc NSDLĐ gặp tai nạn rủi ro sẽ làm
quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, năng suất lao động
giảm xuống (cung hàng hoá nhỏ hơn cầu) làm tăng giá cả thị tr-
ờng và rất có thể dẫn đến tình trạng lạm phát, khi đó buộc Chính
phủ phải can thiệp điều tiết giá cả để ổn định đời sống của ngời
dân.
- BHXH góp phần giữ vững an ninh, chính trị trong nớc ổn định
trật tự an toàn cho xã hội: BHXH điều hoà, hạn chế các mâu
thuẫn giữa giới chủ và giới thợ đồng thời tạo ra môi trờng làm
việc thuận lợi, ổn định cho ngời lao động. Bởi khi mâu thuẫn
giữa NLĐ và NSDLĐ cha đợc giải quyết sẽ có thể dẫn đến
những cuộc đình công, thậm chí là gây ra những cuộc bãi công
lan rộng trên cả nớc của những ngời công nhân (NLĐ) đến lúc
đó sản phẩm lao động xã không đợc sản xuất ra, mà nhu cầu tiêu
dùng của xã hội vẫn cứ tiếp tục tăng lên khi đó buộc Chính phủ
phải nhập khẩu hàng hoá. Nh vậy, Chính phủ sẽ phải đối mặt với
Luận văn tốt nghiệp
rất nhiều vấn đề nh: giữ vững trật tự an toàn xã hội, đảm bảo nhu
cầu tối thiểu của ngời dân
- BHXH có vai trò quan trong trọng việc tăng thu, giảm chi cho
Ngân sách Nhà nớc:
+ BHXH làm tăng thu cho Ngân sách Nhà nớc: BHXH đã làm giảm bớt
mâu thuẫ giữa giới chủ và giới thợ đồng thời gắn kết giữa NSDLĐ và NLĐ, góp
phần kích thích NLĐ hăng hái lao động sản xuất, nâng cao năng xuất lao động
cá nhân nói riên đồng thời góp phần làm tăng năng xuất lao động xã hội nói
chung từ đó sản phẩm xã hội tạo ra ngày một tăng lên có thể đáp ứng đợc nhu
cầu tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu ra nớc ngoài. Do vậy, ngân sách Nhà nớc
tăng lên do có một khoản thu đợc thông qua việc thu thuế từ các doanh nghiệp
sản xuất nói trên.
+ Khi ngời lao động tham gia BHXH mà không may gặp rủi ro bất ngờ
hoặc khi thiên tai hạn hán, lũ lụt xảy ra làm giảm hoặc mất khả năng lao
động dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập thì sẽ đợc bù đắp một phần thu nhập từ
quỹ BHXH. Lúc này, nếu không có sự bù đắp của BHXH thì buộc Nhà nớc
cũng phải đứng ra để cứu trợ hoặc giúp đỡ cho NLĐ để NLĐ và gia đình họ vợt
qua đợc khó khăn đó. Từ đó góp phần làm giảm chi cho Ngân sách Nhà nớc,
đồng thời giảm bớt đợc các tệ nạn xã hội phát sinh, giữ vững ổn định chính trị
xã hội.
Ngoài ra BHXH giúp cho Nhà nớc thực hiện đợc các công trình xây dựng
trọng điểm của quốc gia, các chơng trình phát triển kinh tế, xã hội quốc gia bởi
BHXH tập trung đợc nguồn quỹ lớn. Nguồn quỹ này thờng dùng để chi trả cho
các sự kiện BHXH xảy ra về sau. Chính vì vậy mà quỹ nhàn rỗi này có một thời
gian nhàn rỗi nhất định đặc biệt là quỹ dành cho chế độ dài hạn. Trong khoảng
thời gian nhàn rỗi ấy quỹ BHXH tạo thành một nguồn vốn lớn đầu t cho các ch-
ơng trình phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.
Luận văn tốt nghiệp
2. Bản chất và chức năng của BHXH.
2.1. Bản chất của BHXH.
Bản chất của BHXH đợc thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
- BHXH là thu nhập khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội,
nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị
trờng, mối quan hệ thuê mớn lao động phát triển đến mức nào đó.
Nền kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện,
càng chứng tỏ đợc những mặt u điểm hơn. Vì vậy có thể nói kinh tế
là nền tảng của BHXH hay BHXH không vợt quá trạng thái kinh tế
của mỗi nớc. Đóng vai trò nh một vị cứu tinh cho NLĐ khi họ gặp
phải những rủi ro làm giảm thu nhập trong cuộc sống. Có thể nói
nhu cầu về BHXH thuộc về nhu cầu tự nhiên của con ngời. Xuất
phát từ nhu cầu cần thiết để đảm bảo cho các tiêu chuẩn hay giá trị
cho cuộc sống tối thiểu.
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ
lao động và diễn ra giữa ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH
và bên đợc BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là NLĐ hoặc cả
NLĐ và NSDLĐ. Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH thông th-
ờng là cơ quan chuyên trách do Nhà nớc lập ra và bảo trợ. Bên đợc
BHXH là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc
cần thiết.
BHXH đợc xem nh là một hệ thống các hoạt động mang tính xã hội
nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động, mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế,
ổn định trật tự xã hội nói chung.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm
trong BHXH có thể nói là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn
chủ quan của con ngời nh: ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động - bệnh
nghề nghiệp hoặc cũng có thể là những tr ờng hợp xảy ra không
Luận văn tốt nghiệp
hoàn toàn ngẫu nhiên nh tuổi già, thai sản Đồng thời những biến
cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của ngời lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải
những biến cố rủi ro sẽ đợc bù đắp hoặc thay thế từ nguồn quỹ tiền
tệ tập trung đợc tồn tích lại.
Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu. Ngoài ra
còn đợc hỗ trợ của Nhà nớc khi có sự thâm hụt quỹ (thu không đủ chi), chính vì
vậy mà chính sách BHXH nằm trong hệ thống chung của chính sách về kinh tế
xã hội và là một trong những bộ phận hữu cơ trong hệ thống chính sách quản lý
đất nớc của Quốc gia.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của
ngời lao động trong trờng hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc
làm. Mục tiêu này đã đợc tổ chức lao động Quốc tế (ILO) cụ thể
hóa nh sau:
+ Đền bù cho ngời lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu
cầu sinh sống thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều khiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân c và nhu cầu đặc
biệt của ngời già, ngời tàn tật và trẻ em.
2.2. Chức năng của BHXH.
BHXH đợc xem nh là một loạt các hoạt động mang tính xã hội nhằm
đảm bảo đời sống cho ngời lao động, mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế, ổn
định trật tự xã hội nói chung do vậy BHXH có chức năng:
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ tham gia BHXH khi
họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Sự đảm bảo thay thế
hoặc bù đắp này chắc chắn xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động xẽ
dẫn đến với tất cả mọi ngời lao động khi hết tuổi lao động theo quy định của
Luận văn tốt nghiệp
BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc
mất thu nhập, NLĐ cũng sẽ đợc hởng trợ cấp BHXH với mức hởng, thời điểm
và thời gian hởng theo đúng quy định của Nhà nớc. Đây là chức năng cơ bản
nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cơ chế tổ chức hoạt động
của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những ngời
tham gia BHXH. Bởi cũng giống nh nhiều loại hình Bảo hiểm
khác, BHXH cũng dựa trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít, do
vậy mọi ngời lao động khi tham gia BHXH đều bình đẳng trong
việc đóng góp vào quỹ cũng nh đợc bình đẳng trong quyền lợi
nhận đợc từ các chế độ BHXH. Ngời tham gia để tạo lập quỹ
BHXH là tập hợp tất cả những ngời đóng BHXH từ mọi ngành
nghề, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế
xã hội, các lĩnh vực này bao gồm tất cả các loại công việc từ đơn
giản đến phức tạp, từ nhẹ nhàng đến công việc nặng nhọc độc
hại. Do vậy, BHXH xã hội hóa cao hơn hẳn các loại hình BHXH
khác đồng thời cũng thể hiện tính công bằng xã hội cao.
- BHXH là đòn bẩy, khuyến khích NLĐ hăng hái tham gia lao động
sản xuất và từ đó nâng cao năng suất lao động: BHXH góp phần
kích thích ngời lao động hăng hái lao động sản xuất, nâng cao năng
xuất lao động cá nhân và tăng năng suất lao động xã hội góp phần
tăng mối quan hệ tốt đẹp và gắn bó lợi ích giữa NLĐ, NSDLĐ và
nhà nớc.
- BHXH thực hiện chức năng điều hoà lợi ích giữa ba bên: NLĐ,
NSDLĐ, Nhà nớc đồng thời làm giảm bớt mâu thuẫn xã hội, góp
phần ổn định chính trị, kinh tế, xã hội.
- BHXH còn thực hiện chức năng giám đốc bởi BHXH tiến hành
kiểm tra, giám sát việc tham gia thực hiện chính sách BHXH của
Luận văn tốt nghiệp
NLĐ, NSDLĐ theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo
quyền lợi cho NLĐ, góp phần ổn định xã hội.
3. Quan điểm về BHXH.
BHXH ra đời và phát triển lúc đầu còn mang tính tự phát về sau đợc nhà
nớc luật pháp hóa các chế độ BHXH. Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 140
quốc gia thực hiện BHXH tuy nhiên việc thực hiện BHXH ở mỗi nớc là khác
nhau. Tuỳ vào mỗi mỗi quốc gia trên thế giới mà chính sách BHXH đợc lựa
chọn với hình thức, cơ chế và mức độ thoả mãn nhu cầu BHXH phù hợp với tập
quán, khả năng trang trải và định hớng phát triển kinh tế xã hội của Quốc gia
đó. Nhng có một số quan điểm về BHXH đợc hầu hết các nớc trên thế giới đã
thừa nhận.
- Chính sách BHXH là một bộ phận cấu thành và là một bộ phận
quan trọng nhất trong hệ thống các chính sách xã hội. Quan
điểm này chứng tỏ rằng các nớc đều thừa nhận tính xã hội cao
của BHXH. ở Việt nam BHXH đợc xếp trong hệ thống các
chính sách đảm bảo xã hội của Đảng và Nhà nớc. Bởi mục đích
chủ yếu của chính sách này là nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ
và gia đình họ khi mà có sự kiện rủi ro bất ngờ đến với họ.
- NSDLĐ phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH cho NLĐ.
NSDLĐ, họ phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp quỹ
BHXH đồng thời thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với
NLĐ mà mình sử dụng theo đúng luật pháp quy định. Bởi
NSDLĐ muốn ổn định kinh doanh sản xuất thì ngoài sự hoạt
động của máy móc ra cũng cần phải có đội ngũ công nhân đảm
bảo cho máy móc đợc vận hành và vận chuyển. Do vậy, NSDLĐ
cần phải đảm bảo cho ngời công nhân đợc ổn định cả về mặt vật
chất lẫn tinh thần. Chỉ có nh vậy hoạt động sản xuất kinh doanh
mới không bị gián đoạn góp phần nâng cao năng xuất lao động.
Luận văn tốt nghiệp
- Tất cả mọi NLĐ đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ đối với
BHXH mà không phân biệt nam nữ hay dân tộc tôn giáo, nghề
nghiệp Điều này có nghĩa là mọi NLĐ trong xã hội đều đ ợc h-
ởng quyền lợi BHXH nh tuyên ngôn độc lập nhân quyền đã nêu
đồng thời bình đẳng về nghĩa vụ đóng góp và quyền trợ cấp
BHXH.
- Nhà nớc thống nhất quản lý BHXH từ việc hoạch định các chế
độ chính sách, tổ chức bộ máy thực hiện đến việc kiểm tra kiểm
soát. Quan điểm này xuất phát từ việc BHXH đợc coi là một
chính sách xã hội, là hoạt động phi lợi nhuận vì thế mà nhà nớc
cần đứng ra tổ chức và quản lý.
- Mức trợ cấp BHXH phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh: tình trạng
mất khả năng lao động, tiền lơng lúc đang đi làm, tuổi thọ bình
quân của NLĐ, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nớc trong từng
thời kì, xác định hợp lý mức tối thiểu của các chế độ BHXH.
Ngoài ra còn quan tâm đến vấn đề công bằng trong xã hội, mức
trợ cấp này phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi làm nhng
mức thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho ngời
hởng chế độ BHXH.
- BHXH phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức tham
gia và thời gian thực hiện, bảo đảm quyền lợi của NLĐ, đảm bảo
công bằng xã hội.
4. Đối tợng và đối tợng tham gia BHXH.
BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ 19 khi mà nền công nghiệp và
kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nớc châu âu. Từ năm 1883 ở
nớc phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành luật Bảo hiểm y tế. Một số nớc
châu Âu và Bắc mĩ mãi đến cuối năm 1920 mới có đạo luật về BHXH mặc dù ra
đời từ rất lâu nh vậy nhng đối tợng của BHXH vẫn có nhiều quan điểm khác
Luận văn tốt nghiệp
nhau gây ra nhiều tranh cãi. Đôi khi còn có sự nhầm lẫn giữa đối tợng BHXH
với đối tợng tham gia BHXH.
4.1. Đối tợng của BHXH.
BHXH là một hệ thống bảo đảm khoản thu nhập bị giảm hoặc mất do
giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm vì có các nguyên nhân nh ốm đau
tai nạn, tuổi già. Chính vì vậy, đối tợng của BHXH là phần thu nhập của NLĐ
bị biến động hoặc giảm, mất đi do gặp phải những rủi ro ngẫu nhiên, bất ngờ
xảy ra.
Đối tợng của BHXH không chỉ là các khoản thu nhập theo lơng mà bao
gồm các khoản thu nhập khác ngoài lơng nh: thởng, phụ cấp cho NLĐ có nhu
cầu đóng góp thêm để đợc hởng mức trợ cấp BHXH.
4.2. Đối tợng tham gia BHXH.
Đối tợng tham của BHXH là NLĐ và NSDLĐ. Họ là những ngời trực tiếp
tham gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản % nhất định so với tiền l-
ơng của NLĐ theo quy định của luật BHXH. Tuỳ theo điều kiện phát triển kinh
tế - xã hội của mỗi nớc mà đối tợng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận
những NLĐ nào đó trong xã hội.
Trong thời kì đầu khi triển khai BHXH ở hầu hết các nớc chỉ áp dụng đối
với những ngời làm công ăn lơng để đảm bảo mức đóng góp ổn định, đảm bảo
an toàn quỹ BHXH.
Hiện nay khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng NLĐ trong và ngoài
doanh nghiệp nhà nớc tăng lên rất nhiều thì đối tợng tham gia BHXH và đối t-
ợng của BHXH cũng đợc mở rộng ra. Vì vậy đối tợng tham gia của BHXH bao
gồm:
- Đối tợng bắt buộc tham gia BHXH: là NLĐ và NSDLĐ phải
tham gia BHXH một cách bắt buộc với mức đóng và mức hởng
BHXH theo quy định của luật BHXH.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét