Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Động vật có miệng thứ sinh


278


























Hình 11.4 Cấu tạo cơ thể Hàm tơ (theo Dogel)
A. Nhìn mặt bụng; B. Sự phát triển của Hàm tơ Saginata.
1. Não; 2. vòng hầu; 3. Hạch bụng; 4. Dây thần kinh; 5. Thể xoang; 6. Ruột;7. Tuyến
trứng; 8. Ống dẫn trứng; 9. Hậu môn; 10. Tuyến tinh; 11. Ống dẫn tinh; 12. Vây đuôi;
13. Tuyến đầu; 14. Tơ móc; 15. Lỗ sinh dục đực; 16. Lỗ sinh dục cái; 17. Mầm tế bào
sinh dục; 18. Phôi khẩu; 19. Mầm thể xoang; 20. Xoang thứ sinh
Hàm tơ sống ở biển, ăn động vật nổi cỡ bé, là thành phần quan trọng
trong hệ sinh vật nổi ở biển, là thức ăn của cá ăn nổi. Đại diện có giống
Sagitta. Ở Việt Nam có khoảng 13 loài, phổ biến là Sagitta enfillata.
Mặc dù phát triển phôi của động vật Hàm tơ gần với động vật Có
miệng thứ sinh, tuy nhiên chúng có một số sai khác quan trọng như chỉ
hình thành 2 đôi túi thể xoang phía trước, sau đó mới hình thành thể xoang
đuôi, sai khác về hình thái phần đầu, biểu mô nhiều tầng đã tách động
vật hàm tơ ra khỏi động vật Có miệng thứ sinh khác, tạo thành một nhánh


279
phát triển độc lập có nguồn gốc và vị trí chưa rõ ràng.

IV. Ngành động vật Da gai (Echinodermata)
Da gai là ngành động vật khá lớn, có khoảng 6.500 loài đang sống
và 13.000 loài hoá thạch, sống ở biển, ở Việt Nam đã phát hiện khoảng
hơn vài trăm loài. Đa số động vật da gai sống đáy tự do hay có cuống bám
vào giá thể. Các nhóm thường gặp là Sao biển, Cầu gai, Huệ biển, Đuôi
rắn, Hải sâm
1. Đặc điểm chung của động vật Da gai
Đối xứng cơ thể: Cơ thể động vật Da gai trưởng thành và ấu trùng
khác nhau về đối xứng, ấu trùng có đối xứng 2 bên còn trưởng thành có
đối xứng toả tròn, thường là bậc 5. Từ đó cho thấy định hướng cơ thể
không phải là “đầu - đuôi” mà là “cực miệng - cực đối miệng” nằm trên
trục đối xứng. Cũng từ sai khác nhau về kiểu đối xứng giữa trưởng thành
và ấu trùng mà thấy được sự đối xứng toả tròn của trưởng thành chỉ là biến
đổi thứ sinh bắt nguồn từ đối xứng hai bên của tổ tiên. Tính chất đối xứng
toả tròn của động vật Da gai trưởng thành thể hiện ở cấu tạo ngoài và sự
sắp xếp của các nội quan. Các tấm xương, các gai, hệ chân ống trên bề
mặt cơ thể được sắp xếp thành 10 vùng dạng múi (Cầu gai, Hải sâm) hay
dạng cánh (Sao biển, Đuôi rắn), trục đối xứng đi qua lỗ miệng, 10 vùng này
được chia thành 5 vùng phóng xạ (radius) có chứa chân ống nên được gọi là
vùng chân ống (ambulacral zones) và 5 vùng gian phóng xạ (interradius
zones) không chứa chân ống nên được gọi là vùng gian chân ống
(interrambulacral zones). Ở tư thế bình thường, trục cơ thể theo hướng
thẳng đứng. Ở nhóm Eleutherozoa thì lỗ miệng nằm ở phía dưới, hậu môn
nằm phía trên, còn ở nhóm Pelmatozoa thì lỗ miệng và hậu môn cùng nằm
phía trên và đối diện là cuống bám. Ở Hải sâm là một trường ngoại lệ, trục
cơ thể nằm ngang.
Thành cơ thể cấu tạo bởi 3 lớp
Lớp tế bào biểu mô ngoài cấu tạo một tầng, có tiêm mao vận động để
tạo nên dòng nước đưa thức ăn và ô xy cung cấp cho cơ thể và thải chất cặn
bã ra ngoài. Trong lớp biểu mô này còn có các tế bào tuyến tiết chất nhầy,
chất dính, chất độc hay chất phát sáng.
Lớp mô liên kết tạo thành 3 tầng khác nhau là tầng cơ trong cùng,
tầng mô liên kết ở giữa và tầng biểu mô có bộ xương giáp với biểu mô
ngoài. Về nguồn gốc thì bộ xương được hình thành từ lá phôi giữa, do các tế
bào mô liên kết lấy CaCO
3
từ nước biển, lúc đầu tạo thành các hạt nhỏ, dần
dần liên kết lại thành tấm xương hay mảnh xương nâng đỡ các chân ống.
Như vậy bộ xương của động vật Da gai khác hẳn với bộ xương của động


280
vật Thân mềm và Chân khớp về nguồn gốc (hình 11.5A).
Lớp biểu mô thành thể xoang gồm các tế bào biểu mô có tiêm mao.
Xoang cơ thể thứ sinh (thể xoang): Được hình thành từ đôi túi thể
xoang sau của ấu trùng diplerula. Mức độ phát triển của thể xoang tùy theo
nhóm. Ở Huệ biển thì thể xoang bị mô liên kết phát triển lấp đầy, ở Đuôi
rắn thể xoang bị thu hẹp lại, còn ở Cầu gai và Sao biển và các nhóm khác
thì rất phát triển. Dịch thể xoang bao quanh nội quan, có thành phần rất
giống với nước biển, nhiều protein, tế bào thực bào và các tế bào sắc tố.
Chức phận của thể xoang là vận chuyển chất dinh dưỡng, sản phẩm sinh
dục, các hoocmon, thải chất cặn bã Mặt khác, thể xoang có sự phân hoá về
cấu tạo, đảm nhận các chức phận khác nhau, gồm hệ ống dẫn nước - hệ
chân ống, hệ tuần hoàn (hệ xoang máu giả) và phức hệ cơ quan trụ.





















mi
Hình 11.5 Chân ống, tuần hoàn và hệ thống dẫn nước của Da gai (theo Pechenik)
1. Cơ quan trục; 2. Tấm sàng; 3. Ống đá; 4. Túi polian; 5. Ampun; 6. Tấm xương; 7.
Thể tiderman; 8. Thể xoang; 9. Vòng máu quang miệng; 10. Vòng nước ống quanh


ệng; 11. Vòng máu đối miẹng; 12. Chân ống; 13. Ống nước phóng xạ; 14. Mạch máu
tới tuyến sinh dục; 15. Thực quản; 16. Cơ ampun; 17. Ống bên; 18. Van; 19. Cơ dọc co
chân; 20. Chân ống; 21. Nơ ron vận động


281
Hệ thống ống dẫn nước của động vật Da gai là một cấu tạo đặc
trưng, chúng được bắt nguồn gốc từ túi thể xoang của ấu trùng. Hệ thống
ống dẫn này lấy nước từ môi trường ngoài thông qua tấm sàng
(madreporit) là cơ quan lọc nước nằm ở cực đối miệng. Cấu tạo hệ thống
ống dẫn nước gồm có ống dẫn nước vòng quanh hầu, từ đó toả ra các ống
dẫn nước phóng xạ. Dọc theo ống phóng xạ, về phía 2 bên có các cặp
ampun thông với chân ống ở phía dưới (hình 11.5B). Ampun ở một số
nhóm còn hoạt động như giác quan hoá học và tham gia bắt mồi.
Chân ống được các tấm xương nâng đỡ tạo thành 2 dãy chân ống
dưới mỗi cánh tay (Sao biển). Chân ống có thành mỏng, không có cơ vòng
mà chỉ có cơ dọc, chúng duỗi ra nhờ ampun dồn nước vào, do có van một
chiều không cho nước dồn trở lại ống phóng xạ. Chân ống co vào nhờ cơ
dọc của chính nó. Số lượng chân ống có thể tới 2.000 cái, chúng hoạt động
phối hợp với nhau khi di chuyển nhờ điều chỉnh áp lực trong hệ ống dẫn
nước. Sức bám của chân ống lên nền cứng một phần nhờ tương tác ion,
phần khác nhờ hoạt động của tế bào tuyến kép như đã gặp ở giun giẹp.
Nước từ tấm sàng đến dưới nước vòng qua ống đá vì có thành cứng, được
gia cố bằng các gai đá vôi. Ngoài ra trên các ống dẫn nước vòng có túi
pôli và thể tideman dự trữ nước. Ngoài ra thể tideman còn lọc nước để tạo
ra dịch thể xoang. Chân ống còn là nơi trao đổi khí.
Hệ tuần hoàn và hệ xoang máu giả: Cùng với hệ ống dẫn nước, hệ
tuần hoàn và hệ xoang máu giả là đặc điểm rất đặc trưng của động vật Da
gai. Điển hình có vòng tuần hoàn quanh miệng, có 5 ống tuần hoàn phóng
xạ. Ngoài ra có vòng tuần hoàn đối miệng và cấc ống tuần hoàn đi vào
tuyến sinh dục. Vòng quanh miệng và vòng đối miệng nối với nhau bằng
phức hệ cơ quan trụ. Lưu ý rằng ở động vật Da gai không có mạch máu mà
chỉ khe xoang, do vậy hoạt động tuần hoàn thực sự không có. Hệ xoang
máu giả là một bộ phận của thể xoang, bao gồm vòng máu giả quanh miệng,
các ống máu giả đi vào các vùng phóng xạ. Chức phận của hệ máu giả là
nuôi dưỡng hệ thần kinh. Dùng thức ăn có đánh dấu bằng
14
C, có thể theo
dõi đường đi của thức ăn từ ống tiêu hoá đến hệ máu giả và cuối cùng đến
hệ sinh dục.
Phức hệ cơ quan trụ là cơ quan đặc trưng ở động vật Da gai, phát triển
mạnh nhất ở Sao biển, Cầu gai, Đuôi rắn, nhưng không có ở Hải sâm, Huệ
biển. Cấu tạo gồm có các bô phận là các ống dẫn nước hình trụ chạy dọc có
cấu tạo xốp, có khả năng tạo ra các tế bào amip, tham gia chức phận bài tiết
và các tấm sàng có khả năng lọc nước.
Hệ thần kinh có 3 bộ phận khác nhau, cấu tạo đối xứng toả tròn: 1) Bộ
phận chủ yếu là mạng thần kinh miệng hay được gọi là hệ thần kinh ngoài


282
(ectoneural system) nằm ở mặt miệng. Gồm có vòng thần kinh trung tâm
bao quanh hầu, thực quản và các dây thần kinh phóng xạ nằm ở lớp biểu
mô. Từ các dây phóng xạ có 2 dây thần kinh đi tới nội quan, chức năng chủ
yếu là thụ cảm. 2) Mạng thần kinh dưới da (hyponeural system) nằm phía
dưới mạng thần kinh miệng, kém phát triển, điều khiển vận động của nội
quan. 3) Mạng thần kinh đối miệng hay mạng thần kinh trong (entoneural
system) có mối liên với biểu mô thể xoang (hình 11.6).





















Cơ quan cảm giác nhìn chung kém
phát triển. Cơ quan thị giác và
thăng bằng chuyên hoá ở dạng
đơn giản. Bên cạnh đó có các tế
bào cảm giác như xúc giác, khứu
giác và vị giác nằm rải rác ở chân
ống, tua miệng
Nhìn chung hệ thần kinh của
động vật Da gai còn giữ nhiều nét
cổ, thể hiện mạng thần kinh miệng
và mạng thần kinh dưới da còn
nằm trong biểu mô hay nằm ngay
dưới biểu mô. Xu hướng tập trung
thần kinh thành hạch không rõ.
Chỉ có động vật Da gai mới
có mô liên kết biến đổi hay được
gọi là mô gom (catch tisue). Đặc
tính của mô này là khi bị kích
thước thì chúng thoắt cứng hay
thoắt mềm. Khả năng biến đổi
nhanh chóng này giúp cho động
vật Da gai có thể bắt mồi, di
chuyển và tự cắt phần cơ thể để
thoát thân khi bị kẻ thù tấn công.
Hình 11.6 Hệ thần kinh Da gai (theo Dogel)
A. Thần kinh Sao biển; B. Cắt ngang một cánh
của Huệ biển; 1. Hệ thần kinh ngoài; 2. Hệ
thần kinh dưới da; 3. Hệ thần kinh trong; 4.
Dây thần kinh bên cánh; 5. Chân ống; 6. Rãnh
chan ống; 7. Dây thần kinh phóng xạ của hệ
ngoài; 8. Ống dẫn thể xoang; 9. Cơ gập; 10.
Rễ thần kinh vận động; 11. Rễ cảm giác;
12.Dây phóng xạ; 13. Tấm xương cánh





Động vật Da gai có hệ hô
hấp phát triển yếu hay thiếu, chức
phận trao đổi khí được tiến hành
qua da, nhất là qua thành chân
ống hay qua mang (là các túi trên
các tay thực chất là biến đổi của
các phần xoang cơ thể), phổi hình búi như ở nhóm Hải sâm.


283
Cơ quan tiêu hoá không có đối xứng toả tròn, ống tiêu hoá dài, uốn
khúc, được dính vào thành cơ thể nhờ các màng treo ruột. Do lối ăn khác
nhau nên cấu tạo ống tiêu hoá khác nhau. Ví dụ như ở Hải sâm, Cầu gai,
Huệ biển có hầu, còn ở Đuôi rắn và Sao biển không có hầu.
Động vật da gai không có cơ quan bài tiết. Sự bài tiết chủ yếu do các
phần trong xương cơ thể đảm nhận.
Hệ sinh dục cấu tạo khá đơn giản, các tuyến sinh dục thường xếp đối
xứng toả tròn hay hình ống dài như ở Hải sâm. Động vật Da gai có khả
năng tái sinh cao, một nửa cơ thể của Hải sâm hay Đuôi rắn hay thậm chí
một cánh tay của Sao biển cũng có thể tái sinh cho một cá thể. Khả năng
này này ở Cầu gai và Huệ biển thì ít hơn.
2. Sinh sản và phát triển của động vật Da gai


















Thụ tinh trong nước biển, trứng phân
cắt hoàn toàn, phóng xạ và xác định.
Lấy Cầu gai làm ví dụ: Ở giai đoạn 8
phôi bào, các phôi bào ở cực sinh học
và cực dinh dưỡng đều giống nhau về
kích thước, nhưng ở giai đoạn 16 phôi
bào các phôi bào đã phân hoá và là
mầm của các phần khác nhau của cơ
thể sau này (8 phôi bào ở cực sinh học
là mầm của lá phôi ngoài, còn 4 phôi
bào lớn ở cực dinh dưỡng là mầm lá
phôi trong và 4 phôi bào nhỏ ở cực dinh
dưỡng sẽ cho nhu mô của ấu trùng).
Trứng của một số động vật da gai khác
phân cắt hoàn toàn và đều. Phôi vị
được hình thành bằng cách lõm vào,
trong quá trình hình thành phôi vị, nhu
mô của ấu trùng từ 4 phôi bào nhỏ ở
cực dinh dưỡng phân chia và tách thành
các phôi bào vào phôi nang. Các tế bào
này là mầm bộ xương của cơ thể sau
này. Lá phôi giữa được hình thành theo
kiểu lõm ruột, nghĩa là đáy của xoang
ruột nguyên thuỷ phân hoá thành một
túi và túi này sớm tách thành 2 phần ở


A. Tr
Hình 11.7 Phát triển của trứng
Cầu gai (theo Dogel)


Ph
ứng; B. Giai đoạn 4 phôi bào;
C. 8 phôi bào; D. 16 phôi bào; E.
ôi nag; g. Di chuyển nhu môn ấu
trúng; H. Phôi vị; I. Nhu mô



284
2 bên để hình thành nên lá phôi giữa từ thể xoang chính thức (hình 11.7).
Song song với quá trình hình thành thể xoang ở bên trong, miệng phôi bịt
lại rồi lá phôi ngoài lại lõm vào đúng vị trí đó, thông với xoang ruột nguyên
thuỷ để hình thành hậu môn. Ở vị trí đối diện lá phôi ngoài lõm vào thông
với phần đáy của xoang ruột nguyên thuỷ để hình thành lỗ miệng. Như vậy
miệng của động vật Da gai trưởng thành là miệng thứ sinh (deuterostomia)
không trùng với miệng phôi. Quá trình phôi vị hoá ở động vật Da gai cho
thấy ống tiêu hoá sớm chia thành 3 phần là ruột trước, ruột giữa và ruột
sau. Có miệng và hậu môn nằm ở mặt bụng. Miệng là phần đáy của một
hốc lõm và có vành tiêm mao bao quanh. Hai bên ông tiêu hoá có đôi túi
thể xoang chính thức. Ấu trùng của tất cả động vật Da gai ở giai đoạn này
có đối xứng hai bên, gọi là ấu trùng dipleurula (ấu trùng đối xứng hai bên).
Hai túi thể xoang sau đó sẽ chia thành 3 đôi túi thể xoang là đôi túi trước,
đôi túi giữa và đôi túi sau. Quá trình biến đổi tiếp theo của 3 đôi túi thay
đổi theo từng nhóm về chi tiết. Tuy nhiên hướng biến đổi như sau: Đôi túi
sau sẽ biến đổi thành phần chính của thể xoang. Túi giữa phải và đôi khi
cả túi trước phải bị tiêu biến. Túi trước trái hình thành phức hợp cơ quan
trụ, túi trái giữa hình thành phần còn lại của hệ thống ống dẫn nước.
Từ ấu trùng dipleurula là dạng ấu trùng chung của tất cả động vật Da
gai, sẽ hình thành các dạng ấu trùng đặc trưng cho mỗi nhóm. Thường thì
ấu trùng ở các lớp sai khác nhau chủ yếu là mức độ phát triển và hình thành
của vành tiêm mao và các nhánh trên cơ thể (hình 11.8). Ấu trùng của Cầu
gai là echinopluteus, của Đuôi rắn là ophiopluteus, của Sao biển là bipinaria
và của Hải sâm là auricularia. Đáng chú ý là Cầu gai và Đuôi rắn trưởng
thành chỉ được hình thành từ một phần của ấu trùng, phần còn lại không
tham gia biến đổi (giống như sự phát triển của Giun vòi).











Hình 11.8 Ấu trùng Da gai (theo Dogel)
A. Dipleurula; B. Aucularia; C. Bipinaria; D. Brachiolaria; E. Echinopluteus;
1. Giải lông; 2. Miệng; 3. Hậu môn; 4. Brachiol; 5. Sao biển con; 6. Cánh


285
3. Hệ thống học động vật Da gai
Với số lượng hoá thạch rất lớn, tới 13.000 loài (hình 11.9) và
khoảng 6.500 loài hiện sống chứng tỏ động vật Da gai khá phong phú.
Người ta đã chia động vật Da gai thành 2 phân ngành là Pelmatozoa và
phân ngành Elutherozoa.
Các loài trong Pelmatozoa thường sống định cư, có cuống bám về
phía cực đối miệng. Trên cực miệng có lỗ miệng và lỗ hậu môn, lỗ thông













Hình 11.9 Aristocystites hoá
đá (theo Davitachvili)
1. Miệng; 2. Hậu môn
nước và lỗ sinh dục. Phân ngành Pelmatozoa có
một lớp hiện sống là Huệ biển (Crinoidea) và
các lớp đã hoá thạch là Quả biển (Carpoidea),
Cầu biển (Cystoidea), Nụ biển (Blatoidea), Hộp
biển (Edrioasteroidea).
Các loài trong phân ngành Eleutherozoa
thường sống tự do, lỗ miệng và hậu môn ở về
hai cực. Phân ngành này chia làm các lớp Sao
biển (Asteroidea), Đuôi rắn (Ophiuroidea),
Cầu gai (Echinoidea) và Hải sâm
(Holothuroidea). Ngoài ra có 2 loài sao biển ở
biển sâu được một số tác giả tách thành 1 lớp
riêng, được gọi là Concentricycloidea đang
được bàn luận thêm về vị trí phân loại.
3.1 Phân ngành Pelmatozoa

3.1.1. Lớp Huệ biển (Crinoidea)
a. Cấu tạo cơ thể
Huệ biển là nhóm động vật Da gai cổ nhất còn tồn tại đến ngày nay,
có khoảng 5000 loài hoá thạch và hơn 600 loài hiện sống. Phần lớn Huệ
biển sống bám với cuống dài, một số ít sống tự do (hình 11.10).
Ở nhóm Huệ biển sống bám thì cơ thể được chia thành 3 phần là đế
bám, cuống và cánh (gồm có đài hình đĩa và các tua dài). Đế là phần rễ bám
chắc vào giá thể. Cuống gồm có nhiều đốt khớp lại với nhau, nhờ có hệ cơ
điều khiển nên có thể cử động được. Phần đài hình đĩa, ở giữa đáy là tấm
lưng (đĩa trung tâm) từ đó xuất phát các tay (hình 11.11). Huệ biển có 5
cánh tay phóng xạ, mỗi cánh có chia đôi nhiều lần để cho số lượng cánh tay
là bội số của 5 (10, 20, 40 ). Các tay này khớp động với đĩa trung tâm và
có thể cắt rời dễ dàng và khả năng tái sinh cao. Trên cánh tay có 2 dãy gai,
giữa các cánh tay về phía trên là mặt miệng. Trên mặt miệng có lỗ miệng, lỗ


286
hậu môn và các rãnh phóng xạ tới các cánh tay. Ở nhóm Huệ biển sống tự
do thì cấu trúc cơ thể bị mất cuống, quanh tấm lưng có nhiều cành cong xếp
phóng xạ, thoạt nhìn giống như rễ chung của cây. Hình thái và số lượng của
gai cánh, đặc điểm các tấm xương dùng để phân loại Huệ biển.
Hệ thống ống dẫn nước gồm có vòng quanh miệng và 5 ống dẫn
nước phóng xạ có nhánh tới các gai cánh. Từ vòng ống dẫn nước quanh
miệng có nhiều (hoặc 5) và ống đá mảnh treo trong thể xoang. Thể xoang
cũng liên hệ nước xung quanh nhờ vào hàng tăm lỗ nhỏ quanh miệng.





Phần này tương đương với
tấm sàng của các nhóm động vật
da gai khác. Di chuyển của Huệ
biển chủ yếu nhờ vào hoạt động
của các cánh tay.













Hình 11.10 Huệ biển hoá đá
(theo Dogel)
1. Đỉnh than; 2. Gai cánh; 3. Đế;
4. Cánh; 5. Cuống; 6. Rễ

Hình 11.11 Mặt trên của Huệ biển
(theo Abrikokov)
1. Lỗ hậu môn; 2.Lỗ miệng; 3. Rãnh
phóng xạ vùng chân ống
Ống tiêu hoá bắt đầu từ lỗ miệng, tới thực quản, tiếp theo là ruột uốn
cong, cuộn khúc rồi đổ ra hậu môn nằm cùng phía với miệng. Đổ vào ruột
có các tuyến phụ đó là gan hay tụy. Thức ăn của Huệ biển là các động vật
bé, được tập trung nhờ vào dòng nước theo các rãnh hướng về lỗ miệng.
Các gai miệng cũng góp phần vào việc bắt mồi.
Hệ tuần hoàn có vòng quanh miệng là nơi tập trung nhiều máu được
gọi là cơ quan xốp. Trên đĩa thân và thành ruột có mạch máu phát triển. Hệ
máu giả không phát triển, thể xoang tiêu giảm chỉ còn lại 5 xoang xếp


287
phóng xạ ở phía đối miệng. Huệ biển thiếu hệ hô hấp và bài tiết.
Hệ thần kinh có 2 phần xếp đối xứng nhau là phần miệng (hệ ngoài)
và phần đối miệng. Phần miệng có vòng thần kinh quanh miệng, có 5 dây
phóng xạ nằm trong lớp biểu mô dưới rãnh chân ống. Dây thần kinh phóng
xạ có các nhánh đi tới các gai cánh. Chú ý vị trí của hệ thần kinh ở biểu mô
là thể hiện tính chất nguyên thuỷ của Huệ biển. Hệ thần kinh đối miệng rất
phát triển, có một khối thần kinh nằm trong xoang 5 ngăn, từ đó có 5 dây
thần kinh phóng xạ có nhánh đi tới gai cánh. Huệ biển không có giác quan
chuyên hoá.
Hệ sinh dục có cấu tạo rất đặc trưng, phân tính. Từ xoang 5 ngăn có
cơ quan trụ hướng về phía miệng và tận cùng là dải sinh dục. Tiếp theo là 5
dải tế bào của tuyến sinh dục hướng về 5 cánh. Các dải tế bào này phân
nhánh theo cánh tay và kết thúc bằng các túi trong gai cánh. Các túi này có
lớp tế bào trong hình thành nên tế bào sinh dục nên người ta coi mỗi túi là
một tuyến sinh dục. Sản phẩm sinh dục trong túi được chuyển vào trong
nước nhờ các vết nứt ở vị trí ổn định của gai cánh.
3.1.2 Sinh sản và phát triển








Thụ tinh ngoài. Trứng phát
triển thành ấu trùng đặc trưng là
doliolaria dạng thuỳ có 5 vành tiêm
mao. Sau khi bám vào giá thể, ấu
trùng phân hoá thành dạng ấu trùng
cystoid gồm có đĩa trung tâm và
cuống. Tiếp theo hình thành dạng
ấu trùng pentacrinus có đối xứng
toả tròn. Tiếp tục phát triển







Hình 11.12 Phát triển của Huệ biển
(theo Abrikokov),
1. Các vành tơ cảm giác; 2. Miệng; 3.
Hốc lõm để hình thành 5 tay 4. Hình
thành các tế bào tấm đĩa
Ở Huệ biển có cuống thì kéo
dài và sống bám.
Ở Huệ biển sống tự do, tự cắt
rời cuống, chuyển sang sống tự do
(hình 11.12).
3.1.3 Phân loại


Các loài Huệ biển hiện sống
có khoảng hơn 600 loài, trong đó
có khoảng 75 loài Huệ biển có
cuống và 540 loài Huệ biển không
có cuống.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét