Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Phan Thị Kim Kha
Chương II: HỆ THỐNG CÁC HIỆN TƯỢNG HÓA HỌC THỰC TIỄN DÙNG CHO
CÁC BÀI GIẢNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC 9
II.1: Hệ thống các hiện tượng sử dụng trong những bài giảng chương I: CÁC
HỢP CHẤT VÔ CƠ
Câu 1: Tại sao khi cho vôi sống vào nước, ta thấy khói bóc lên mù mịt, nước vôi như bị sôi
lên và nhiệt độ hố vôi rất cao có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của người và động vật.
Do đó cần tránh xa hố đang tôi vôi hoặc sau khi tôi vôi ít nhất 2 ngày ?
Giải thích: Khi tôi vôi đã xảy ra phản ứng tạo thành canxi hiđroxit:
CaO + H
2
O
→
Ca(OH)
2
Phản ứng này tỏa rất nhiều nhiệt nên làm nước sôi lên và bốc hơi đem theo cả những hạt
Ca(OH)
2
rất nhỏ tạo thành như khói mù trắng. Do nhiệt tỏa ra nhiều nên nhiệt độ của hố vôi
rất cao. Do đó người và động vật cần tránh xa hố vôi để tránh rơi xuống hố vôi tôi sẽ gây
nguy hiểm đến tánh mạng.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài ở Bài 2: MỘT SỐ
OXIT QUAN TRỌNG
Câu 2: “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
Giải thích: - Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong (ô tô, xe máy) có
chứa các khí SO
2
, NO, NO
2
,…Các khí này tác dụng với oxi O
2
và hơi nước trong không khí
nhờ xúc tác oxit kim loại (có trong khói, bụi nhà máy) hoặc ozon tạo ra axit sunfuric H
2
SO
4
và axit nitric HNO
3
.
2SO
2
+ O
2
+ 2H
2
O → 2H
2
SO
4
2NO + O
2
→ 2NO
2
4NO
2
+ O
2
+ 2H
2
O → 4HNO
3
Axit H
2
SO
4
và HNO
3
tan vào nước mưa tạo ra mưa axit. Vai trò chính của mưa axit là H
2
SO
4
còn HNO
3
đóng vai trị thứ hai.
- Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới. Mưa axit làm
mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các tượng đài làm từ đá cẩm thạch,
đá vôi, đá phiến (các loại đá này thành phần chính là CaCO
3
):
CaCO
3
+ H
2
SO
4
→ CaSO
4
+ CO
2
↑ + H
2
O
CaCO
3
+ 2HNO
3
→ Ca(NO
3
)
2
+ CO
2
↑ + H
2
O
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đă gây nên những hậu quả
nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát triển. Vấn đề ô nhiễm môi trường
luôn được cả thế giới quan tâm. Việt Nam chúng ta đang rất chú trọng đến vấn đề này. Do
vậy mà giáo viên phải cung cấp cho học sinh những hiểu biết về hiện tượng mưa axit cũng
như tác hại của nó nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Cụ thể giáo viên có thể đặt câu
hỏi trên liên hệ tích hợp môi trường trong bài 2: MỘT SỐ OXIT QUAN TRỌNG, ý thứ 2 có
thể liên hệ khi học bài 29: AXIT CACBON VÀ MUỐI CACBONAT
Câu 3: Axit clohiđric có vai trò như thế nào đối với cơ thể ?
Giải thích: Axit clohiđric có vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất của cơ thể.
Trong dịch dạ dày của người có axit clohiđric với nồng độ khoảng chừng 0,0001 đến 0,001
mol/l (có độ pH tương ứng với là 4 và 3). Ngoài việc hòa tan các muối khó tan, nó còn là chất
xúc tác cho các phản ứng phân hủy các chất gluxit (chất đường, bột) và chất protein (đạm)
thành các chất đơn giản hơn để cơ thể có thể hấp thụ được.
Lượng axit trong dịch dạ dày nhỏ hơn hay lớn hơn mức bình thường đều gây bệnh cho
người. Khi trong dịch dạ dày có nồng độ axit nhỏ hơn 0,0001 mol/l (pH>4,5) người ta mắc
bệnh khó tiêu, ngược lại nồng độ axit lớn hơn 0,001 mol/l (pH<3,5) người ta mắc bệnh ợ
Trường THCS Nguyễn Quang Diêu Trang:5
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Phan Thị Kim Kha
chua. Một số thuốc chữa đau dạ dày chứa muối hiđrocacbonat NaHCO
3
(còn gọi là thuốc
muối) có tác dụng trung hòa bớt lượng axit trong dạ dày.
NaHCO
3
+ HCl
→
NaCl + CO
2
+ H
2
O
Áp dụng: Nhu cầu ngày càng cao của con người kéo theo nhu cầu ăn uống ngày càng đa
dạng, phong phú. Vấn đề ăn uống ảnh hưởng dạ dày ngày càng tăng. Giáo viên có thể đưa
vấn đề này trong phần ứng dụng của axit clohiđric ở bài 4: MỘT SỐ AXIT QUAN TRỌNG
Câu 4: Vì sao không nên đổ nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể đổ axit sunfuric
đậm đặc vào nước ?
Giải thích: Trong bất kì quuyển sách hóa học nào cũng ghi câu sau để cảnh báo bạn đọc: “
Trong bất kì tình huống nào cũng không được đổ nước vào axit sunfuric đậm đặc, mà chỉ
được đổ từ từ axit sunfuric đặc vào nước”. Vì sao vậy ?
Khi axit sunfuric gặp nước thì lập tức sẽ có phản ứng hóa học xảy ra, đồng thời sẽ tỏa
ra một nhiệt lượng lớn. Axit sunfuric đặc giống như dầu và nặng hơn trong nước. Nếu bạn
cho nước vào axit, nước sẽ nổi trên bề mặt axit. Khi xảy ra phản ứng hóa học, nước sôi mãnh
liệt và bắn tung tóe gây nguy hiểm.
Trái lại khi bạn cho axit sunfuric vào nước thì tình hình sẽ khác: axit sunfuric đặc
nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit vào nước, nó sẽ chìm xuống đáy nước, sau đó phân bố đều
trong toàn bộ dung dịch. Như vậy khi có phản ứng xảy ra, nhiệt lượng sinh ra được phân bố
đều trong dung dịch, nhiệt độ sẽ tăng từ từ không làm cho nước sôi lên một cách quá nhanh.
Một chú ý thêm là khi pha loãng axit sunfuric bạn luôn luôn nhớ là “ phải đổ từ từ ”
axit vào nước và không nên pha trong các bình thủy tinh. Bởi vì thủy tinh sẽ dễ vở khi tăng
nhiệt độ khi pha.
Áp dụng: Vấn đề an toàn khi làm thí nghiệm được đặt lên hàng đầu trong những tiết dạy có
sử dụng hóa chất. Đặc biệt khi tiếp xúc với axit H
2
SO
4
đặc thì rất nguy hiểm. Giáo viên có thể
đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời về cách pha loãng axit H
2
SO
4
khi dạy phần tính chất vật
lí của axit sunfuric đặc trong bài 4: MỘT SỐ AXIT QUAN TRỌNG
Câu 5: Vì sao khi ăn trái cây không nên đánh răng ngay ?
Giải thích: Vì chất chua (tức axit hữu cơ) có trong trái cây sẽ kết hợp với những thành phần
trong thuốc đánh răng theo bàn chảy sẽ tấn công các kẽ răng và gây tổn thương cho lợi. Bởi
vậy người ta đợi đến khi nước bọt trung hòa lượng axit trong trái cây nhất là táo, cam, nho,
chanh…
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học của axit khi
tác dụng với bazơ tạo phản ứng trung hòa bài 3: TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA AXIT
Câu 6: Vì sao nước rau muống đang xanh khi vắt chanh vào thì chuyển sang màu đỏ ?
Giải thích: Có một số chất hóa học gọi là chất chỉ thị màu, chúng làm cho dung dịch thay đổi
khi độ axit thay đổi. Trong rau muống (và vài loại rau khác) có chấy chỉ thị màu này, trong
chanh có 7% axit xitric. Vắt chanh vào nước rau làm thay đổi độ axit, do đó làm thay đổi màu
của nước rau. Khi chưa vắt chanh nước rau muống màu xanh lét là chứa chất kiềm.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học của axit khi
tác dụng với quỳ tím ở bài 3: TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA AXIT hoặc ở bài 7: TÍNH CHẤT
HÓA HỌC CỦA BAZƠ
Câu 7: Vì sao bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau ?
Giải thích: Do trong nọc của ong, kiến, nhện (và một số con khác) có axit hữu cơ tên là axit
fomic (HCOOH). Vôi là chất bazơ nên trung hòa axit làm ta đỡ đau.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học của bazơ ở
Bài 7:TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA BAZƠ
Trường THCS Nguyễn Quang Diêu Trang:6
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Phan Thị Kim Kha
Câu 8: Tại sao khi tô vôi lên tường thì lát sau vôi khô và cứng lại ?
Giải thích: Vôi là canxi hiđroxit, là chất tan ít trong nước nên khi cho nước vào tạo dung
dịch trắng đục, khi tô lên tường thì Ca(OH)
2
nhanh chống khô và cứng lại vì tác dụng với
CO
2
trong không khí theo phương trình:
Ca(OH)
2
+ CO
2
→
CaCO
3
↓
+ H
2
O
↑
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học của canxi
hiđroxit ở Bài 8:MỘT SỐ BAZƠ QUAN TRỌNG
Câu 9: Tại sao những người có thối quen ăn trầu thì luôn có lợi và hàm răng chắc khỏe?
Giải thích: Trong miếng trầu có vôi Ca(OH)
2
chứa Ca
2+
và OH
-
làm cho quá trình tạo men
răng (Ca
5
(PO
4
)
3
OH) xảy ra thuận lợi:
5Ca
2+
+ 3PO
4
3-
+ OH
-
€
Ca
5
(PO
4
)
3
OH
Chính lớp men này chống lại sâu răng.
Câu 10: Tại sao ăn trầu phải có đủ cau, trầu và vôi, nhất là không thể thiếu vôi ?
Giải thích: Trong lá trầu có chứa tinh dầu, trong hạt cau có chứa một chất gọi là arecolin,
chất này có tính độc. Không có vôi miếng trầu không thể chuyển sang màu đỏ, vôi là chất
kiềm khi tác dụng với arecolin làm chất này chuyển thành arecaidin không độc mà có tác
dụng gây hưng phấn, ấm áp làm cho da mặt hồng hào, môi đỏ thắm, chống cảm cúm, diệt
khuẩn làm sạch miệng, làm chặt chân răng.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt 2 câu hỏi trên cho phần tích hợp bảo vệ sức khỏe ở Bài 8:
MỘT SỐ BAZƠ QUAN TRỌNG
Câu 11: Bột nở là chất gì mà có thể làm cho bánh to ra và xốp được ?
Giải thích: (NH
4
)
2
CO
3
được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm bột mì hoặc các bột khác, lúc
nướng bánh (NH
4
)
2
CO
3
phân hủy thành các chất khí và hơi làm cho bánh xốp và nở.
(NH
4
)
2
CO
3
0
t
→
NH
3
↑
+ CO
2
↑
+ H
2
O
↑
Câu 12: Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng, lâu ngày thấy xuất hiện lớp cặn ở đáy
ấm? Cách tẩy lớp cặn này như thế nào ?
Giải thích: Trong tự nhiên, nước ở một số vùng là nước cứng tạm thời - là nước có chứa các
muối axit như: Ca(HCO
3
)
2
và Mg(HCO
3
)
2
.
Khi nấu nước lâu ngày thấy xảy ra phương trình hóa học:
Ca(HCO
3
)
2
→ CaCO
3
↓ + CO
2
↑ + H
2
O
Mg(HCO
3
)
2
→ MgCO
3
↓ + CO
2
↑ + H
2
O
Do CaCO
3
và MgCO
3
là chất kết tủa nên lâu ngày sẽ đóng cặn. Để tẩy lớp cặn này thì dùng
giấm (dung dịch CH
3
COOH 5%) cho vào ấm đun sôi để nguội khoảng một đêm rồi rửa sạch.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học thứ 5: một số
muối bị nhiệt phân hủy (ở bài 9: TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA MUỐI). Mục đích là cung cấp
cho học sinh một số vấn đề có trong đời sống từ đó có thể giải thích được bản chất vấn đề
nhằm kích thích sự hưng phấn trong học tập. Đây là hiện tượng mà học sinh có thể quan sát
và thực hiện được dễ dàng.
Câu 13: Vì sao muối thô dễ bị chảy nước ?
Giải thích: Muối ăn có thành phần chính là natri clorua, ngoài ra còn có ít muối khác như
magie clorua …, Magie clorua rất ưa nước, nên nó hấp thụ nước trong không khí và rất dễ tan
trong nước. Muối sản xuất càng thô sơ thì càng dễ bị chảy nước khi để ngoài không khí.
Câu 14: Muối ở biển có từ đâu ? Em hãy tìm xem nguồn gốc của muối có trong nước
biển?
Giải thích: Biển cả là quê hương của muối, trong đó NaCl chiếm 85%. Trong quá trình lâu
dài hình thành đại dương ban đầu đã hòa tan tất cả các loại muối khoáng. Đồng thời nham
thạch trong quá trình phong hóa (nham thạch bị tác động lâu ngày của mưa, nắng, gió bão và
Trường THCS Nguyễn Quang Diêu Trang:7
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Phan Thị Kim Kha
vi sinh vật) đã không ngừng bị phân giải và sản sinh ra các loại muối, sau đó theo các dòng
sông để ra đại dương. Vậy sông ngòi, nham thạch và các núi lửa dưới đáy biển chính là
nguồn gốc cung cấp chủ yếu các loại muối cho biển cả.
Câu 15: Tại sao người ta phải bỏ muối vào các thùng nước đá đựng kem que hoặc trong
các bể nước đông đặc nước đá ở các nhà máy sản xuất nước đá ?
Giải thích: Nhiệt độ của nước đá là 0
0
C, nếu cho muối vào nhiệt độ sẽ giảm xuống dưới 0
0
C.
Lợi dụng tính chất này để làm cho kem que hoặc nước nhanh đông thành chất rắn.
Câu 16: Vì sao nước mắt lại mặn ?
Giải thích: Nước mắt mặn vì trong nước mắt có tới 6 gam muối. Nước mắt sinh ra từ tuyến lệ
nằm phía trên mi ngoài của nhãn cầu. Nước mắt có tác dụng bôi trơn nhãn cầu làm cho nhãn
cầu không bị khô, bị xước và vì có muối nên còn có tác dụng hạn chế bớt sự phát triển của vi
khuẩn trong mắt.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt 4 các câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài 10: MỘT
SỐ MUỐI QUAN TRỌNG
Câu 17: Tại sao phải ăn muối iot ?
Giải thích: Trong cơ thể con người có tồn tại một lượng iot tập trung ở tuyến giáp trạng. Ở
người trưởng thành lượng iot này khoảng 20-50mg. Hàng ngày ta phải bổ sung lượng iot cần
thiết cho cơ thể bằng cách ăn muối iot. Iôt có trong muối ăn dạng KI và KIO
3
. Nếu lượng iot
không cung cấp đủ thì sẽ dẫn đến tuyến giáp trạng sưng to thành bướu cổ, nặng hơn là đần
độn, vô sinh và các chứng bệnh khác.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi kết thúc bài 10: MỘT SỐ MUỐI QUAN
TRỌNG nhằm giúp cho học sinh hiểu được ích lợi của việc ăn muối iot và tuyên truyền cho
cộng đồng.
Câu 18: Người ta biết chất diệp lục trong cây xanh có công thức phân tử C
55
H
70
O
5
N
4
Mg.
Cây xanh tạo chất này nhờ CO
2
(trong không khí), hiđro (từ nước trong đất) và các chất
vô cơ là nitơ, magie (từ đất lên). Khi cây bị vàng lá người ta nghi là không đủ chất diệp
lục. Vậy theo em nên bón loại phân nào giúp cây tạo chất diệp lục hiệu quả nhất ?
Giải thích: Nên dùng phân đạm như phân magie sunfat và amoni sunfat (NH
4
)
2
SO
4
vì 2 loại
phân này có Mg và N cung cấp cho cây.
Câu 19: Vì sao người ta dùng tro bếp để bón cho cây ?
Giải thích: Trong tro bếp có chứa muối K
2
CO
3
cung cấp nguyên tố kali cho cây.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt 2 câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài hoặc liên hệ thực tế
trong ở bài 11: PHÂN BÓN HÓA HỌC
Câu 20: Tại sao khi nông nghiệp phát triển thì các vi khuẩn, nấm, giun tròn sống trong
đất, nước… giảm đi rất nhiều nhiều nơi không còn nữa ?
Giải thích: Một số phân bón có thể tiêu diệt các loại sinh vật có hại này. Ví dụ trước khi
trồng khoai tây một tuần người ta đưa vào đất một lượng urê (1,5 kg/m
2
) thì các mầm bệnh bị
tiêu diệt hoàn toàn. Hiện tượng dễ thấy là không còn đỉa trong nước ở nhiều nơi như ngày
trước nữa.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần tích hợp bảo vệ môi trường trong bài
11: PHÂN BÓN HÓA HỌC
Câu 21: Tại sao khi đi gần các sông, hồ bẩn vào ngày nắng nóng, người ta ngửi thấy mùi
khai ?
Giải thích: Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ giàu đạm như nước tiểu,
phân hữu cơ, rác thải hữu cơ… thì lượng urê trong các chất hữu cơ này sinh ra nhiều. Dưới
tác dụng của men ureaza của các vi sinh vật, urê bị phân hủy tiếp thành CO
2
và amoniac NH
3
theo phản ứng: (NH
2
)
2
CO + H
2
O
€
CO
2
+ 2NH
3
Trường THCS Nguyễn Quang Diêu Trang:8
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Phan Thị Kim Kha
NH
3
sinh ra hòa tan trong nước sông, hồ dưới dạng một cân bằng động. Như vậy khi trời nắng
(nhiệt độ cao), NH
3
sinh ra do các phản ứng phân hủy urê chứa trong nước sẽ không hòa tan
vào nước mà bị tách ra bay vào không khí làm cho không khí xung quanh sông, hồ có mùi
khai khó chịu.
Áp dụng: Đây là hiện tượng thường gặp quanh hồ, ao, nhất là vào mùa khô, nắng nóng. Giáo
viên có thể nêu vấn đề trong bài giảng bài 11: PHÂN BÓN HÓA HỌC
Câu 22: Tại sao để cải tạo đất ở một số ruộng chua người ta thường bón bột vôi ?
Giải thích: Thành phần của bột vôi gồm CaO và Ca(OH)
2
và một số ít CaCO
3
. Ở ruộng chua
có chứa axit, pH < 7, nên sẽ có phản ứng giữa axit với CaO, Ca(OH)
2
và một ít CaCO
3
làm
giảm tính axit nên ruộng sẽ hết chua.
Áp dụng: Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức các bài đã học trước để trả
lời dẫn vào bài 12: MỐI QUAN HỆ CÁC HỢP CHẤT VÔ CƠ
II.2: Hệ thống các hiện tượng sử dụng trong những bài giảng Chương II: KIM
LOẠI
Câu 1:Vì sao ta hay dùng bạc để “đánh gió” khi bị bệnh cảm ?
Giải thích: Khi bị bệnh cảm, trong cơ thể con người sẽ tích tụ một lượng khí H
2
S tương đối
cao. Chính lượng H
2
S sẽ làm cho cơ thể mệt mỏi. Khi ta dùng Ag để đánh gió thì Ag sẽ tác
dụng với khí H
2
S. Do đó, lượng H
2
S trong cơ thể giảm và dần sẽ hết bệnh. Miếng Ag sau khi
đánh gió sẽ có màu đen xám:
4Ag + 2H
2
S + O
2
→ 2Ag
2
S↓ + 2H
2
O
(đen)
Áp dụng: Hiện tượng “đánh gió” đã được ông bà ta sử dụng từ rất xa xưa cho đến tận bây giờ
để chữa bệnh cảm. Cách làm này rất có cơ sở khoa học mà mọi người cần phải biết. Giáo
viên có thể nêu hiện tượng trên khi dạy phần TÍNH CHẤT CỦA KIM LOẠI
Câu 2: Tại sao dùng đồ dùng bằng bạc đựng thức ăn, thức ăn lâu bị ôi ?
Giải thích: Khi bạc gặp nước sẽ có một lượng rất nhỏ đi vào nước thành ion. Ion bạc có tác
dụng diệt khuẩn rất mạnh. Chỉ cần 1/5 tỉ gam bạc trong một lit nước cũng đủ diệt các vi
khuẩn nên giữ cho thức ăn lâu ôi thiu.
Câu 3: Tại sao không thể dập tắt đám cháy của các kim loại: K, Na, Mg bằng khí CO
2
?
Giải thích: Do các kim loại trên có tính khử mạnh nên vẫn cháy được trong khí CO
2
Mg + CO
2
0
t
→
MgO + C
Câu 4: Sử dụng đồ dùng bằng nhôm có ảnh hưởng gì không ?
Giải thích: Nhôm là kim loại có hại cho cơ thể nhất là đối với người già. Bệnh lú lẫn và các
bệnh khác của người già, ngoài nguyên nhân do cơ thể bị lão hóa còn có thể do sự đầu độc vô
tình của các đồ nấu ăn, đồ dựng bằng nhôm. Tế bào thần kinh trong não người già mắc bệnh
nào có chứa rất nhiều ion nhôm Al
3+
, nếu dùng đồ nhôm trong một thời gian dài sẽ làm tăng
cơ hội ion nhôm xâm nhập vào cơ thể, làm nguy cơ đến toàn bộ hệ thống thần kinh não.
Sử dụng đồ nhôm phải biết cách bảo quản, không nên đựng thức ăn bằng đồ nhôm
hoặc không nên ăn thức ăn để trong đồ nhôm qua đêm, không nên dùng đồ nhôm để đựng rau
trộn trứng gà và giấm…
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt 3 câu hỏi trên cho phần mở rộng về tính chất khác của một số
kim loại trong bài 15,16: TÍNH CHẤT CỦA KIM LOẠI
Câu 5: Giải thích hiện tượng: “ Một nồi nhôm mới mua về sáng lấp lánh bạc, chỉ cần
dùng nấu nước sôi, bên trong nồi nhôm, chổ có nước biến thành màu xám đen ?”
Giải thích: Mới xem thì có vẻ lạ vì nồi nhôm mới, ngoài nước ra thì không tiếp xúc với gì
khác, chẳng lẽ nước lại làm cho nồi đen ?
Trường THCS Nguyễn Quang Diêu Trang:9
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Phan Thị Kim Kha
Bình thường trông bên ngoài nước không có vấn đề gì, thực tế trong nước có hòa tan
nhiều chất, thường gặp nhất là các muối canxi, magiê và sắt. Các nguồn nước có thể chứa
lượng muối sắt ít nhiều khác nhau, loại nước chứa nhiều sắt “ là thủ phạm” làm cho nồi nhôm
có màu đen.
Vì nhôm có tính khử mạnh hơn sắt nên nhôm sẽ đẩy sắt ra khỏi muối của nó và thay
thế ion sắt, còn ion sắt bị khử sẽ bám vào bề mặt nhôm, nồi nhôm sẽ bị đen: Để hoàn thành
được điều trên phải có 3 điều kiện: Lượng muối sắt trong nước phải đủ lớn; Thời gian đun sôi
phải đủ lâu; Nồi nhôm phải là nồi mới
Áp dụng: Giáo viên có thể nêu hiện tượng trên để dẫn nhập vào bài 18: NHÔM. Sau đó học
sinh dựa vào những kiến thức đã học để giải thích hiện tượng nồi nhôm bị đen.
Câu 6: Tại sao khi đánh phèn chua vào nước thì nước lại trở nên trong ?
Giải thích: Công thức hóa học của phèn chua là muối sunfat kép của nhôm và kali ở dạng
tinh thể ngậm 24 phân tử nước: K
2
SO
4
.Al
2
(SO
4
)
3
24H
2
O. Do khi đánh phèn trong nước phèn
tan ra tạo kết tủa Al(OH)
3
, chính kết tủa keo này đã dính kết các hạt đất nhỏ lơ lửng trong
nước đục thành các hạt đất to hơn, nặng và chìm xuống làm nước trong. Nên trong dân gian
có câu:
“ Anh đừng bắc bậc làm cao
Phèn chua em đánh nước nào cũng trong”
Phèn chua rất có ích cho việc xử lí nước đục ở các vùng lũ để có nước trong dùng cho tắm,
giặc. Vì cục phèn chua trong và sáng cho nên đông y còn gọi là minh phàn ( minh là
trongtrắng, phàn là phèn).
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài 18: NHÔM
Câu 7: Tại sao những đồ dùng bằng sắt thường bị gỉ tạo thành gỉ sắt và dần dần đồ vật
không dùng được ?
Giải thích: Trong không khí có oxi, hơi nước và các chất khác. Do tác dụng nhiệt độ cao của
ánh nắng mặt trời, hơi nước, oxi và nước mưa (thường hòa tan khí CO
2
tạo môi trường axit
yếu) có phản ứng với sắt tạo thành một số hợp chất của sắt (Fe
2
O
3
) gọi là gỉ sắt. Gỉ sắt không
còn tính cứng, ánh kim, dẻo của sắt mà xốp, giòn nên làm đồ vật bị hỏng. Do đó để bảo vệ đồ
dùng bằng sắt, người ta thường phủ lên đồ vật bằng sắt một lớp sơn, kim loại khác để ngăn
không cho sắt tiếp xúc với nước, oxi không khí và một số chất khác trong môi trường.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài 19: SẮT hoặc
dùng đặt vấn đề vào bài 21: SỰ ĂN MÒN KIM LOẠI VÀ BẢO VỆ KIM LOẠI KHÔNG BỊ ĂN
MÒN.
Câu 8: Chảo, môi, dao đều được làm từ sắt. Vì sao chảo lại giòn ? môi lại dẻo ? còn dao
lại sắc ?
Giải thích: Chảo xào rau, môi và dao đều làm từ sắt. Thế nhưng loại sắt để chế tạo chúng lại
không giống nhau.
Sắt dùng để làm chảo là “gang”. Gang có tính chất là rất gịn. Trong công nghiệp,
người ta nấu chảy lỏng gang để đổ vào khuôn, gọi là “đúc gang”.
Môi múc canh được chế tạo bằng “thép non”. Thép non không gịn như gang. Người ta
thường dùng búa để rèn, biến thép thành các đồ vật có h́nh dạng khác nhau.
Dao thái rau không chế tạo từ thép non mà bằng “thép”. Thép vừa dẻo vừa dát mỏng
được, có thể rèn, cắt gọt nên rất sắc.
Áp dụng: Vấn đề từ sắt có thể điều chế những vật dụng có chức năng khác nhau được sử
dụng rất rộng rãi trong cuộc sống. Giải thích được điều này đòi hỏi học sinh phải biết được
tính chất của sắt cũng như hợp kim của nó. Giáo viên có thể đặt câu hỏi này vào bài bài bài
20: HỢP KIM SẮT: GANG, THÉP.
Trường THCS Nguyễn Quang Diêu Trang:10
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Phan Thị Kim Kha
Câu 9: Xung quanh các nhà máy sản xuất gang, thép, phân lân, gạch ngói,…cây cối
thường ít xanh tươi, nguồn nước bị ô nhiễm. Điều đó giải thích như thế nào ?
Giải thích: Việc gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí là do nguồn chất thải dưới
dạng khí thải, nước thải, chất rắn thải…
- Những chất thải này có thể dưới dạng khí độc như: SO
2
, H
2
S, CO
2
, CO, HCl, Cl
2
…có
thể tác dụng trực tiếp hoặc là nguyên nhân gây mưa axit làm hại cho cây.
- Nguồn nước thải có chứa kim loại nặng, các gốc nitrat, clorua, sunfat…sẽ có hại đối
với sinh vật sống trong nước và thực vật.
- Những chất thải rắn như xỉ than và một số chất hóa học sẽ làm cho đất bị ô nhiễm,
không thuận lợi cho sự phát triển của cây.
Do đó để bảo vệ môi trường các nhà máy cần được xậy dựng theo chu trình khép kín, đảm
bảo khử được phần lớn chất độc hại trước khi thải ra môi trường.
Áp dụng: giáo viên có thể đặt câu hỏi này khi dạy xong phần sản xuất gang, thép để tích hợp
bảo vệ môi trường, giúp học sinh ý thức được việc bảo vệ môi trường ở bài 20: HỢP KIM
SẮT: GANG, THÉP.
Câu 10: “Hiệu ứng nhà kính” là gì?
Giải thích: Khí cacbonic CO
2
trong khí quyển chỉ hấp thụ một phần những tia hồng ngoại
(tức là những bức xạ nhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia có bước sóng từ 50000 đến
100000 Å đi qua dễ dàng đến mặt đất. Nhưng những bức xạ nhiệt phát ra ngược lại từ mặt đất
có bước sóng trên 140000 Å bị khí CO
2
hấp thụ mạnh và phát trở lại Trái Đất làm cho Trái
Đất ấm lên. Theo tính toán của các nhà khoa học thì nếu hàm lượng CO
2
trong khí quyển tăng
lên gấp đôi so với hiện tại thì nhiệt độ ở mặt đất tăng lên 4
o
C.
Về mặt hấp thụ bức xạ, lớp CO
2
ở trong khí quyển tương đương với lớp thủy tinh của các nhà
kính dùng để trồng cây, trồng hoa ở xứ lạnh. Do đó hiện tượng làm cho Trái Đất ấm lên bởi
khí CO
2
được gọi là hiệu ứng nhà kính.
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng “Hiệu ứng nhà kính” trở thành một vấn đề có ảnh hưởng
mang tính toàn cầu. Mục đích vấn đề giúp học sinh biết được nguyên nhân và tác hại của hiệu
ứng nhà kính nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Giáo viên có thể đặt vấn đề này khi
dạy tích hợp môi trường ở bài 20: HỢP KIM SẮT: GANG, THÉP hoặc bài 28: OXIT CỦA
CACBON
Câu 11: Vì sao ở các cơ sở đóng tàu thường gắn một miếng kim loại Kẽm Zn ở phía sau
đuôi tàu ?
Giải thích: Thân tàu biển được chế tạo bằng gang thép. Gang thép là hợp kim của sắt, cacbon
và một số nguyên tố khác. Đi lại trên biển, thân tàu tiếp xúc thường xuyên với nước biển là
dung dịch chất điện li nên sắt bị ăn mòn, gây hư hỏng.
Để bảo vệ thân tàu thường áp dụng biện pháp sơn nhằm không cho gang thép của thân
tàu tiếp xúc trực tiếp với nước biển. Nhưng ở phía đuôi tàu, do tác động của chân vịt, nước bị
khuấy động mãnh liệt nên biện pháp sơn là chưa đủ. Do đó mà phải gắn tấm kẽm vào đuôi
tàu.
Khi đó sẽ xảy ra quá trình ăn mòn điện hóa. Kẽm là kim loại hoạt động hơn sắt nên bị
ăn mòn, còn sắt thì không bị mất mát gì.
Sau một thời gian miếng kẽm bị ăn mòn thì sẽ được thay thế theo định kỳ. Việc này
vừa đở tốn kém hơn nhiều so với sửa chữa thân tàu.
Áp dụng: Sự ăn mòn kim loại đặc biệt là ăn mòn điện hóa hàng năm gây tổn thất thật nghiêm
trọng cho nền kinh tế quốc dân. Con người luôn cố gắng tìm ra những phương pháp chống ăn
mòn kim loại. Phương pháp điện hóa ( dùng Zn) để bảo vệ vỏ tàu biển như trên rất hiệu quả
và được ứng dụng rất rộng răi. Giáo viên có thể nêu vấn đề sau khi dạy xong bài 21: ĂN
Trường THCS Nguyễn Quang Diêu Trang:11
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Phan Thị Kim Kha
MÒN KIM LOẠI để cho học sinh giải thích nhằm giúp cho học sinh biết cách vận dụng kiến
thức để giải thích hiện tượng trong cuộc sống.
II.3: Hệ thống các hiện tượng sử dụng trong những bài giảng Chương III: PHI
KIM
Câu 1: “Ma trơi” là gì ? Ma trơi thường xuất hiện ở đâu ?
Giải thích: Trong xương của động vật luôn có chứa một hàm lượng photpho. Khi cơ thể
động vật chết đi, nó sẽ phân hủy một phần thành photphin PH
3
và lẫn một ít điphotphin P
2
H
4
.
Photphin không tự bốc cháy ở nhiệt độ thường. Khi đun nóng đến 150
o
C thì nó mới cháy
được. Còn điphotphin P
2
H
4
thì tự bốc cháy trong không khí và tỏa nhiệt. Chính lượng nhiệt
tỏa ra trong quá trình này làm cho photphin bốc cháy:
2PH
3
+ 4O
2
→ P
2
O
5
+ 3H
2
O
Quá trình trên xảy ra cả ngày lẫn đêm nhưng do ban ngày có các tia sáng của mặt trời nên ta
không quan sát rõ như vào ban đêm.
Hiện tượng ma trơi chỉ là một quá tŕnh hóa học xảy ra trong tự nhiên. Thường gặp ma trơi ở
các nghĩa địa vào ban đêm.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng tự nhiên chứ không phải là một hiện tượng “ thần bí ” nào
đó, tránh tình trạng mê tín dị đoan, làm cho cuộc sống thêm lành mạnh. Vấn đề này có thể
được đề cập ở trong bài 25: TÍNH CHẤT CỦA PHI KIM
Câu 2: Tại sao nước máy thường dùng ở các thành phố lại có mùi khí clo ?
Giải thích: Trong hệ thống nước máy ở thành phố, người ta cho vào một lượng nhỏ khí clo
vào để có tác dụng diệt khuẩn. Một phần khí clo gây mùi và một phần tác dụng với nước:
Cl
2
+ H
2
O
€
HCl + HClO
Axit hipoclorơ HClO sinh ra có tính oxi hóa rất mạnh nên có tác dụng khử trùng, sát khuẩn
nước. Phản ứng thuận nghịch nên clo rất dễ sinh ra do đó khi ta sử dụng nước ngửi được mùi
clo.
Áp dụng: Vấn đề này đang được sử dụng làm sạch nước hiện nay ở các nhà máy nước cung
cấp nước cho các thành phố, thị xă, thị trấn. Giải thích được hiện tượng này giúp học sinh
hiểu được vai trò và ứng dụng của clo trong cuộc sống mà học sinh có thể kiểm nghiệm thật
dể dàng. Giáo viên có thể đặt câu hỏi cho học sinh suy nghĩ để trả lời trong phần ứng dụng
của clo trong bài 26: Clo
Câu 3:Vì sao trước khi luộc rau muống cần cho thêm một ít muối ăn NaCl ?
Giải thích: Dưới áp suất khí quyển 1atm thì nước sôi ở 100
o
C. Nếu cho thêm một ít muối ăn
vào nước thì nhiệt độ sôi cao hơn 100
o
C. Khi đó luộc rau sẽ mau mềm, xanh và chín nhanh
hơn là luộc bằng nước không. Thời gian rau chín nhanh nên ít bị mất vitamin.
Áp dụng: Đây là một vấn đề rất quen thuộc mà nếu không chú ý thì học sinh sẽ không biết.
Học sinh dễ dàng làm thí nghiệm ngay khi nấu ăn. Từ đó góp phần tạo nên kinh nghiệm nấu
ăn cho học sinh, rất thiết thực trong cuộc sống. Giáo viên có thể nêu vấn đề trên sau khi kết
thúc bài 26: Clo
Câu 4: Vì sao than chất thành đống lớn có thể tự bốc cháy ?
Giải thích: Do than tác dụng với O
2
trong không khí tạo CO
2
, phản ứng này tỏa nhiệt. Nếu
than chất thành đống lớn phản ứng này diễn ra nhiều nhiệt tỏa ra được tích góp dần khi đạt tới
nhiệt độ cháy của than thì than sẽ tự bốc cháy.
Câu 5: Tại sao khi cơm bị khê, ông bà ta thường cho vào nồi cơm một mẫu than củi ?
Giải thích: Do than củi xốp, có tính hấp phụ nên hấp phụ hơi khét của cơm làm cho cơm đỡ
mùi khê.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt 2 câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài 27: CACBON
Trường THCS Nguyễn Quang Diêu Trang:12
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Phan Thị Kim Kha
Câu 6: Nước đá khô được làm từ cacbon đioxit hóa rắn. Tại sao nó có thể tạo hơi lạnh
được như nước đá ?
Giải thích: Vì cacbon đioxit ở dạng rắn khi bay hơi thu nhiệt rất lớn, làm hạ nhiệt độ của môi
trường xung quanh nên tạo hơi lạnh. Đặc biệt là nước đá khô (không độc hại), được ứng dụng
thích hợp để bảo quản những sản phẩm kỵ ẩm và dùng làm lạnh đông thực phẩm. Dùng đá
khô để làm lạnh và bảo quản gián tiếp các sản phẩm có bao gói nhưng có thể dùng làm lạnh
và bảo quản trực tiếp. Chính chất tác nhân làm lạnh này (CO
2
) đã làm ức chế sự sống của vi
sinh vật, giữ được vị ngọt - màu sắc hoa quả. Đồng thời hạn chế được tổn hao khối lượng tự
nhiên của sản phẩm do sự bay hơi từ bề mặt sản phẩm và các quá trình lên men, phân hủy.
Áp dụng: Bảo quản thực phẩm bằng cồn khô là cách rất tốt hiện nay. Giáo viên có thể hỏi
học sinh về ứng dụng của CO
2
khi dạy phần tính chất vật lí của CO
2
ở bài 28: OXIT CỦA
CACBON
Câu 7: Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra ?
Giải thích: Nước ngọt không khác nước đường mấy chỉ có khác là có thêm khí cacbonic
CO
2
. Ở các nhà máy sản xuất nước ngọt, người ta dùng áp lực lớn để ép CO
2
hòa tan vào
nước. Sau đó nạp vào bình và đóng kín lại thì thu được nước ngọt.
Khi bạn mở nắp bình, áp suất bên ngoài thấp nên CO
2
lập tức bay vào không khí. Vì
vậy các bọt khí thoát ra giống như lúc ta đun nước sôi. Về mùa hè người ta thường thích uống
nước ngọt ướp lạnh.
Khi ta uống nước ngọt vào dạ dày, dạ dày và ruột không hề hấp thụ khí CO
2
. Ở trong
dạ dày nhiệt độ cao nên CO
2
nhanh chóng theo đường miệng thoát ra ngoài, nhờ vậy nó mang
đi bớt một nhiệt lượng trong cơ thể làm cho người ta có cảm giác mát mẻ, dễ chịu. Ngoài ra
CO
2
có tác dụng kích thích nhẹ thành dạ dày, tăng cường việc tiết dịch vị, giúp nhiều cho tiêu
hóa.
Áp dụng: Hiện tượng có nhiều bọt khí thoát ra từ bình nước ngọt có ga hay chai bia thì chắc
hẳn học sinh nào cũng biết. Nhưng khi giải thích khí đó là khí gì và có công dụng ra sao ,tại
sao người ta đưa khí đó vào bình được ? thì học sinh không biết được. Giáo viên có thể nêu
câu hỏi trên khi dạy bài 28: OXIT CỦA CACBON
Câu 8: Làm thế nào để biết dưới giếng có khí độc CO hoặc khí thiên nhiên CH
4
không có
oxi để tránh khi xuống giếng bị chết ngạt ?
Giải thích: Trong các giếng sâu ở một số vùng đồng bằng thường có nhiều khí độc CO và
CH
4
và thiếu oxi. Vì một lí do nào đó mà ta xuống giếng thì rất nguy hiểm. Đã có rất nhiều
trường hợp tử vong do trèo xuống giếng gặp nhiều khí độc và chết ngạt do thiếu oxi. Điều tốt
nhất là tránh phải xuống giếng, nếu có xuống thì nên mang theo bình thở oxi.
Trước khi xuống giếng cần thử xem trong giếng có nhiều khí độc hay không bằng cách
cột một con vật như gà, vịt rồi thả xuống giếng. Nếu gà, vịt chết thì chứng tỏ dưới giếng có
nhiều khí độc.
Áp dụng: Đây là hiện tượng hay xảy ra vào mùa khô. Mọi người không hề biết được sự nguy
hiểm khi xuống giếng sâu. Thực tế là đã có nhiều cái chết thương tâm xảy ra mà báo đài đã
nêu trong thời gian qua. Giáo viên cần đưa vào bài giảng để nhắc nhở học sinh và mọi người.
Vấn đề này có thể xen vào bài 28: OXIT CỦA CACBON
Câu 9: Hiện tượng tạo hang động và thạch nhũ ở vườn quốc gia Phong Nha - Kẽ Bàng
với những hình dạng phong phú đa dạng được hình thành như thế nào ?
Giải thích: Ở các vùng núi đá vôi, thành phần chủ yếu là CaCO
3
. Khi trời mưa trong không
khí có CO
2
tạo thành môi trường axit nên làm tan được đá vôi. Những giọt mưa rơi xuống sẽ
bào mòn đá thành những hình dạng đa dạng: CaCO
3
+ CO
2
+ H
2
O
→
Ca(HCO
3
)
2
Trường THCS Nguyễn Quang Diêu Trang:13
Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Phan Thị Kim Kha
Theo thời gian tạo thành các hang động. Khi nước có chứa Ca(HCO
3
)
2
ở đá thay đổi về nhiệt
độ và áp suất nên khi giọt nước nhỏ từ từ có cân bằng:
Ca(HCO
3
)
2
→
CaCO
3
+ CO
2
↑
+ H
2
O
Như vậy lớp CaCO
3
dần dần lưu lại ngày càng nhiều, dày tạo thành những hình thù đa dạng.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng thường gặp trong các hang động núi đá, cụ thể là Phong Nha
Kẽ Bàng (Quảng Bình). Học sinh sẽ biết được quá trình hình thành các hang động với những
hình dạng phong phú là do thiên nhiên kiến tạo dựa trên các quá trình biến đổi hóa học. Dựa
vào tính chất của Canxi cacbonat giáo viên có thể đề cập vấn đề trên ở bài 29: AXIT
CACBONIC VÀ MUỐI CACBONAT
Câu 10: Câu tục ngữ: “ Nước chảy đá mòn” mang ý nghĩa hóa học gì?
Giải thích: Thành phần chủ yếu của đá là CaCO
3
. Trong không khí có khí CO
2
nên nước hòa
tan một phần tạo thành axit H
2
CO
3
. Do đó xảy ra phản ứng hóa học :
CaCO
3
+ CO
2
+ H
2
O
→
Ca(HCO
3
)
2
Khi nước chảy cuốn theo Ca(HCO
3
)
2
, theo nguyên lí dịch chuyển cân bằng thì cân bằng sẽ
chuyển dịch theo phía phải. Kết quả là sau một thời gian nước đã làm cho đá bị bào mòn dần.
Áp dụng: Hiện tượng này thường thấy ở những phiến đá có ḍng nước chảy qua. Do hiện
tượng xảy ra chậm nên phải thật sự chú ý chúng ta mới nhận ra điều này. Hiểu được điều này
giúp học sinh biết được dụng ý khoa học của câu tục ngữ có từ xa xưa và làm cho hóa học trở
nên rất gần gũi hơn trong cuộc sống đời thường. Giáo viên có thể nêu vấn đề này ở phần
“Muối cacbonat trong bài 29: AXIT CACBONIC VÀ MUỐI CACBONAT
Câu 11: Ca dao Việt Nam có câu:
“Lúa chim lấp ló ngoài bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Mang ý nghĩa hóa học gì ?
Giải thích: Câu ca dao có nghĩa là: Khi vụ lúa chiêm đang trổ đồng mà có trận mưa rào kèm
theo sấm chớp thì rất tốt và cho năng suất cao. Vì sao vậy ?
Do trong không khí có khoảng 80% Nitơ và 20 % oxi. Khi có sấm chớp (tia lửa điện) thì:
Sau đó: 2NO + O
2
→ 2NO
2
Khí NO
2
hòa tan trong nước: 4NO
2
+ O
2
+ H
2
O → 4HNO
3
HNO
3
hòa tan trong đất được trung hòa bởi một số muối tạo muối nitrat cung cấp N cho cây.
Nhờ có sấm chớp ở các cơn mưa giông, mỗi năm trung bình mỗi mẫu đất được cung cấp
khoảng 6-7 kg nitơ.
Áp dụng: Đây là một câu ca dao mang ý nghĩa thực tiễn rất thường gặp trong đời sống. Đây
quả là một kinh nghiệm được ông cha ta rút ra qua những tháng năm canh tác nông nghiệp.
Học sinh cũng dễ dàng quan sát để kiểm nghiệm và giải thích được một cách khoa học về vấn
đề trên. Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi trình bày phần chu trình của nitơ trong tự nhiên
ở bài 29 hoặc đề cập trong bài 11: PHÂN BÓN HÓA HỌC.
Câu 12: Nham thạch do núi lửa phun ra là chất gì ?
Giải thích: Bên dưới vỏ trái đất là lớp dung nham gọi là macma ở độ sâu từ 75 km – 3000
km. Nhiệt độ của lớp dung nham này rất cao 2000 – 2500
0
C và áp suất rất lớn. Khi vở trái đất
vận động, ở những nơi có cấu tạo mỏng, có vết nứt gãy thì lớp dug nham này phun ra ngoài
sau một tiếng nổ lớn. Macma cấu tạo ở dạng bán lỏng gồm silicat của sắt và mangie. Dung
nham thoát ra ngoài sẽ nguội dần và rắn lại thành nham thạch.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài 30: SILIC –
CÔNG NGHIỆP SILICAT
Câu 13:Tại sao không dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF ?
Trường THCS Nguyễn Quang Diêu Trang:14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét