Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Báo cáo tốt nghiệp kế toán xác định kết quả kinh doanh và phân phối lợi nhuận


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Báo cáo tốt nghiệp kế toán xác định kết quả kinh doanh và phân phối lợi nhuận": http://123doc.vn/document/569687-bao-cao-tot-nghiep-ke-toan-xac-dinh-ket-qua-kinh-doanh-va-phan-phoi-loi-nhuan.htm


Báo cáo thực tập tốt nghiệp  GVHD: Huỳnh Thị Đăng Khoa
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KẾ TOÁN
XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN PHỐI LỢI
NHUẬN
1.1.KẾ TOÁN DOANH THU:
1.1.1.Khái niệm doanh thu:
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ
kế toán,phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh
nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Nói cách khác, doanh thu là tổng giá
trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được từ hoạt động
bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra hay bán hàng hoá mua vào nhằm bù
đắp chi phí và tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hoạt động bán hàng có ảnh
hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
1.1.2. Điều kiện ghi nhận doanh thu:
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mản tất cả 5 điều kiện
sau:
1/ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền
sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua.
2/Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở
hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.
3/Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
SVTH: Phan Thị Mỹ Nương Trang 5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp  GVHD: Huỳnh Thị Đăng Khoa
4/Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán
hàng.
5/Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
1.1.3. Nguyên tắc hạch toán doanh thu:
- Doanh thu phát sinh từ các giao dịch được xác định bằng giá trị hợp lý của
các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu
thương mại,giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.
- Trường hợp bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp ghi nhận doanh
thu bán hàng trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính phần lãi trả
chậm phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu.
- Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp viết hóa đơn bán hàng và đã thu tiền bán
hàng nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua thì chưa được coi là
tiêu thụ và không được ghi nhận doanh thu mà chỉ ghi vào bên có vào tài khoản
tiền đã thu của khách hàng, khi giao hàng cho người mua thì mới ghi nhận vào TK
“Doanh Thu”.
- Đối với các doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ cung cấp sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ cho yêu cầu của nhà nước, được nhà nước trợ cấp,trợ giá theo quy
định thì doanh thu trợ cấp, trợ giá là số tiền được nhà nước chính thức thông báo,
hoặc thực tế trợ cấp trợ giá.
1.1.4.Chứng từ hạch toán:
- Hoá đơn giá trị gia tăng
- Hoá đơn bán hàng
- Các bảng kê bán lẻ hàng hoá,dịch vụ;bảng thanh toán hàng đại lý,kí gửi
- Sổ chi tiết bán hàng
1.1.5.Tài khoản sử dụng:
1.1.5.1. Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”
Bên Nợ:
- Số thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu phải nộp tính theo doanh thu
bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ,
- Thuế GTGT phải nộp ở doanh nghiệp áp dụng phương pháp trực tiếp.
- Chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ.
- Giảm giá hàng bán thực tế phát sinh trong kỳ.
SVTH: Phan Thị Mỹ Nương Trang 6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp  GVHD: Huỳnh Thị Đăng Khoa
- Doanh thu của hàng bán bị trả lại phát sinh trong kỳ.
- Kết chuyển doanh thu thuần để tính kết quả kinh doanh.
Bên Có:
- Doanh thu bán hàng phát sinh trong kỳ.
Tài khoản 511 không có số dư cuối kỳ
TK 511 có 4 TK cấp 2:
- TK 5111 “Doanh thu bán hàng hoá”
- TK 5112 “Doanh thu bán sản phẩm”
- TK 5113 “Doanh thu cung cấp dịch vụ”
- TK 5114 “Doanh thu trợ cấp, trợ giá”
Các tài khoản này lại có thể chi tiết theo từng loại hàng hoá, sản phẩm, dịch
vụ đã bán.
1.1.5.2.TK 512 “Doanh thu nội bộ”
Tài khoản này có nội dung kết cấu tương tự như TK 511
Tài khoản này ghi nhận doanh thu được tiêu thụ trong nội bộ công ty.
1.1.5.3.TK 338 (3387) “Doanh thu chưa thực hiện”
Bên Nợ:
- Kết chuyển doanh thu chưa thực hiện sang tài khoản “Doanh thu bán hàng
và cung cấp dịch vụ” hoặc TK “Doanh thu hoạt động tài chính”.
Bên Có:
- Doanh thu chưa thực hiện phát sinh trong kỳ
Số dư bên có:
- Doanh thu chưa thực hiện lúc cuối kỳ.
SVTH: Phan Thị Mỹ Nương Trang 7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp  GVHD: Huỳnh Thị Đăng Khoa
1.1.6.Sơ đồ tài khoản tổng hợp:
:
TK 521,532 TK 511 TK 111,112
Kết chuyển chiết khấu TM
giảm giá hàng bán phát TK131
sinh trong kỳ Giá bán chưa
có thuế

TK635
Chiết khấu
TK531 thanh toán
Kết chuyển giá bán chưa có tính trừ cho
thuế hàng bán bị trả lại phát khách hàng
sinh trong kỳ
TK 532, 521
Giảm giá chiết
khấu thương
mại hàng bán
TK 911 TK 333(1)

Kết chuyển doanh thu thuần

TK531
TK333(1) Hàng bán
bị trả lại
TK152(611)
Thuế GTGT Trao đổi hàng
có hoá đơnGTGT
loại được khấu trừ
SVTH: Phan Thị Mỹ Nương Trang 8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp  GVHD: Huỳnh Thị Đăng Khoa


TK334 TK 133

Thanh tóan
Cho CNV

1.2.KẾ TOÁN CÁC KHOẢN GIẢM TRỪ DOANH THU:
1.2.1.Kế toán chiết khấu thương mại:
TK 521 “Chiết khấu thương mại” dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương
mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do
người mua hàng đã mua với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương
mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế hoặc cam kết mua, bán hàng.
Bên Nợ:
- Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận cho khách hàng được hưởng
Bên Có:
Kết chuyển số chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ vào Tài khoản 511
“Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ
hạch toán.
Tài khoản 521 không có số dư cuối kỳ.
TK 521 có 3 TK cấp 2:
TK 5211: “Chiết khấu hàng hoá”
TK 5212: “ Chiết khấu thành phẩm”
TK 5213: “Chiết khấu dịch vụ”
1.2.2.Kế toán hàng bán bị trả lại:
TK 531 “Hàng bán bị trả lại” dùng để phản ánh trị giá của số sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ đã tiêu thụ, bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân như: vi phạm
cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị mất hoặc kém phẩm chất, hàng không
đúng chủng hoặc quy cách.
SVTH: Phan Thị Mỹ Nương Trang 9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp  GVHD: Huỳnh Thị Đăng Khoa
Bên Nợ:
- Trị giá của hàng bán bị trả lại, đã trả lại tiền cho khách hàng hoặc tính trừ
vào số tiền khách hàng còn nợ.
Bên Có:
- Kết chuyển trị giá của hàng bán bị trả lại phát sinh trong kỳ vào Tài khoản
511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của
kỳ hạch toán.
Tài khoản 531 không có số dư cuối kỳ.
1.2.3.Kế toán giảm giá hàng bán:
TK 532 “Giảm giá hàng bán” dùng để phản ánh khoản giảm giá hàng bán
thực tế phát sinh trong kỳ kế toán cho khách hàng được hưởng do hàng bán kém
phẩm chất; không đúng quy cách theo yêu cầu trong hợp đồng đã ký kết.
Bên Nợ:
Các khoản giảm giá hàng bán đã chấp thuận cho khách hàng được hưởng.
Bên Có:
Kết chuyển toàn bộ số tiền giảm giá hàng bán phát sinh trong kỳ vào Tài
khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác đinh doanh thu thuần
của kỳ hạch toán.
1.2.4.Chứng từ sử dụng:
- Biên bản xác nhận hàng bán bị trả lại
- Biên bản xác nhận giảm giá hàng bán.
- Phiếu chi.
- Giấy báo nợ.
- Các chứng từ gốc khác,…
1.2.5.Sơ đồ tài khoản:
TK 111, 112, 131 TK 521, 531, 532 TK511

(2)
(1)
TK 3331
SVTH: Phan Thị Mỹ Nương Trang 10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp  GVHD: Huỳnh Thị Đăng Khoa

* Giải thích sơ đồ:
(1) Chiết khấu thương mại, giá trị hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán thực
hiện trong kỳ.
(2) Cuối kỳ kết chuyển giảm trừ sang TK 511 để xác định doanh thu thuần.
Riêng đối với trị giá hàng bán bị trả lại đồng thời với việc ghi giảm doanh
thu, phải ghi giảm giá vốn
1.3.KẾ TOÁN GIÁ VỐN HÀNG BÁN
1.3.1.Nội dung và nguyên tắc hạch toán:
Giá vốn hàng bán là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh số tiền được trừ ra
khỏi doanh thu thuần để tính kết quả kinh doanh của từng kỳ kế toán, trong điều
kiện doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường
xuyên, giá vốn hàng bán là một chi phí thường được ghi nhận đồng thời với doanh
thu theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu với chi phí được trừ.
Nội dung cơ bản của chỉ tiêu giá vốn hàng bán ở các doanh nghiệp sản xuất là
giá thành sản xuất thực tế của các loại sản phẩm đã bán được từng kỳ kế
toán.Ngoài ra còn những khoản khác cũng tính vào giá vốn hàng bán trong kỳ:
- Chi phí sản xuất chung cố định phân bổ
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, công nhân trực tiếp trên mức bình thường.
- Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
- Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho,sau khi trừ phần bồi thường
trách nhiệm do cá nhân gây ra.
1.3.2.Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”
Bên Nợ:
- Trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.
- Khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ phần bồi thường vật
chất.
- Chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay lớn
hơn số dự phòng đã lập ở năm trước.
SVTH: Phan Thị Mỹ Nương Trang 11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp  GVHD: Huỳnh Thị Đăng Khoa
Bên Có:
- Giá vốn hàng bán đã bị trả lại.
- Chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay nhỏ
hơn số dự phòng đã lập ở năm trước.
- Kết chuyển giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thu trong kỳ để
xác định kết quả kinh doanh.
Tài khoản 632 không có số dư cuối kỳ.
1.3.3.Sơ đồ kế toán tổng hợp:
1.4.KẾ TOÁN CHI PHÍ BÁN HÀNG:
1.4.1.Nội dung và nguyên tắc hạch toán:
Chí phí bán hàng là các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ các loại sản
phẩm hàng hoá hay cung cấp dịch vụ như:
- Tiền lương và các khoản chi phí tính theo lương của nhân viên bán
hàng,tiếp thị,đóng gói, bảo quản…
- Khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản, bán hàng ,chi phí vật liệu, bao bì,
dụng cụ đồ dùng.
SVTH: Phan Thị Mỹ Nương Trang 12
TK 156,157 TK 632
TK 911
TK 156, 157
TK 133
Trị giá hàng bị trả lạiTrị giá vốn hàng đã tiêu
thụ
TK 142
VAT không được khấu trừ
tính vào trị giá vốn
VAT
không đc
khấu trừ
chuyển kỳ
sau
Kỳ sau
kết
chuyển
K/ chuyển trị giá vốn
Báo cáo thực tập tốt nghiệp  GVHD: Huỳnh Thị Đăng Khoa
- Chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác bằng tiền như: quảng cáo,
giao dịch, giao hàng, hoa hồng bán hàng….
Trong quá trình hạch toán chi phí bán hàng phải được theo dõi chi tiết theo
yếu tố chi phí và tuỳ theo đặc điểm kinh doanh, yêu cầu quản lý của từng ngành,
từng doanh nghiệp chi phí bán hàng có thể được kết hợp theo dõi dưới những nội
dung khác nhau để giám đốc chặt chẽ công dụng và hiệu quả kinh tế của chi phí
như chi phí quảng cáo, chi phí từng đợt bán hàng….
1.4.2.Tài khoản sử dụng:
TK 641 “Chi phí bán hàng”
Bên Nợ:
- Chí phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ
Bên Có:
- Các khoản ghi giảm chi phí bán hàng
- Kết chuyển chi phí bán hàng để tính kết quả kinh doanh trong kỳ hoặc phân
bổ chi phí bán hàng cho những sản phẩm sẽ tiêu thụ ở kỳ sau
TK 641 không có số dư cuối kỳ
TK 641 có 7 tài khoản cấp 2:
- TK 6411 “ Chi phí nhân viên”
- TK 6412 “ Chi phí vật liệu, bao bì”
- TK 6413 “ Chi phí dụng cụ đồ dùng”
- TK 6414 “ Khấu hao TSCĐ”
- TK 6415 “ Chi phí bảo hành”
- TK 6417 “Chi phí dịch vụ mua ngoài”
- TK 6418 “ Chi phí khác bằng tiền”
SVTH: Phan Thị Mỹ Nương Trang 13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp  GVHD: Huỳnh Thị Đăng Khoa
1.4.3.Sơ đồ tài khoản:
TK 334,338 TK 641 TK138,111
Tiền lương và các khoản Ghi giảm chi phí bán hàng
trích theo lương được tính
vào chi phí bán hàng
TK 152,153 TK335

Giá trị vật liệu,công cụ Số trích trước lớn hơn chi
tính cho bộ phận bán hàng chiphí thực tế, ghi giảm chi
phí bán hàng
TK 142,335 TK142(1422)

Khi phân bổ chi phí trả trước Chi phí bán hàng chuyển
hoặc trích trước chi phí sửa chữa sang kỳ sau
TSCĐ ở bộ phận bán hàng
TK214 TK911
Khấu hao TSCĐ ở bộ phận Kết chuyển chi phí bán
bán hàng hàng để tính kết quả kinh
doanh kỳ này
TK 331
Chi phí TK 133
điện nước,
điện
thoại…

SVTH: Phan Thị Mỹ Nương Trang 14

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014

Vấn đề phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong luật hình sự Việt Nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Vấn đề phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong luật hình sự Việt Nam": http://123doc.vn/document/569911-van-de-pham-toi-co-tinh-chat-chuyen-nghiep-trong-luat-hinh-su-viet-nam.htm


Vn phm ti cú tớnh cht chuyờn nghip
trong lut hỡnh s Vit Nam

Nguyn Hu Minh


Khoa Lut
Lun vn ThS ngnh: Lut Hỡnh s; Mó s: 60 38 40
Ngi hng dn: PGS.TS. Lờ Vn Cm
Nm bo v: 2010

Abstract: H thng húa mt s vn lý lun chung v phm ti cú tớnh cht chuyờn
nghip. Tỡm hiu cỏc quy nh v phm ti cú tớnh cht chuyờn nghip theo phỏp lut
hỡnh s Vit Nam trong cỏc giai on t sau Cỏch mng thỏng Tỏm (nm 1945) n trc
phỏp in húa ln th nht (nm 1985), phỏp in hỡnh húa ln th hai (nm 1999) cho
n nay v thc tin ỏp dng. Trỡnh by mt s kin ngh nhm hon thin cỏc quy nh
ca phỏp lut hỡnh s v gii phỏp nhm nõng cao hiu qu ỏp dng tỡnh tit phm ti cú
tớnh cht chuyờn nghip.

Keywords: Phỏp lut; Lut hỡnh s; Ti phm; Vit Nam

Content
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 (đã đ-ợc sửa đổi, bổ sung vào ngày 19/6/2009) quy định
"phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) trong
Phần chung (điểm b Khoản 1 Điều 48), tình tiết này cũng đ-ợc quy định là tình tiết tăng nặng
định khung hình phạt trong 20 cấu thành tội phạm ở Phần các tội phạm. Đặc biệt Điều 3 BLHS
1999 quy định về "Nguyên tắc xử lý" trong đó có đoạn: "Nghiêm trị ng-ời chủ m-u, cầm đầu, chỉ
huy, ngoan cố chống đối, l-u manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để
phạm tội; ng-ời phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý
gây hậu quả nghiêm trọng".
Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, vấn đề phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
vẫn ch-a đ-ợc quan tâm, nghiên cứu một cách sâu sắc, đầy đủ, có hệ thống và toàn diện. Vì vậy, việc
tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề lý luận về "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp"
và sự thể hiện chúng trong các quy định của BLHS năm 1999 hiện hành, đồng thời đánh giá việc áp
dụng vấn đề "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" trong thực tiễn để đ-a ra kiến giải lập pháp và các
giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạm về vấn đề này trong giai đoạn hiện nay không
những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết.
Đây cũng là lý do luận chứng cho việc chúng tôi quyết định chọn đề tài "Vấn đề phạm tội có
tính chất chuyên nghiệp trong luật hình sự Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trên thế giới, các BLHS hiện hành của các n-ớc có nền kinh tế phát triển trên thế giới nh-
BLHS V-ơng quốc Anh, Bộ tổng luật của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, BLHS Liên bang Nga, BLHS
V-ơng quốc Thụy Điển, BLHS Nhật Bản, BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa v.v hầu nh-
không quy định về vấn đề phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Tuy nhiên, trong giới khoa học
luật hình sự của một số n-ớc đã đặt vấn đề nghiên cứu vấn đề phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp và có nhiều quan điểm khác nhau nh- sự cấp thiết phải quy định bổ sung vấn đề này vào
BLHS làm cơ sở pháp lý cao nhất để trấn áp loại tội phạm này; các điều kiện để áp dụng tình tiết
phạm tội có tính chất chuyên nghiệp v.v
ở Việt Nam cho đến nay trong khoa học luật hình sự cũng ch-a có công trình nghiên cứu chuyên
khảo nào đề cập riêng đến việc nghiên cứu làm sáng tỏ một cách sâu sắc và đầy đủ và toàn diện và có
hệ thống về phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Tuy nhiên vấn đề này đ-ợc đề cập ở các mức độ
khác nhau trong một số công trình của các nhà hình sự học. Về nội dung, các công trình đã nêu mới
đề cập khái quát căn cứ pháp lý và những điều kiện áp dụng, đánh giá ở mức độ riêng rẽ phạm tội có
tính chất chuyên nghiệp hoặc mới đ-a ra một số kiến nghị độc lập hoàn thiện vấn đề này trong luật
hình sự Việt Nam. Mặt khác, nhiều nội dung xung quanh vấn đề phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
cũng đòi hỏi các nhà hình sự học cần tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn nữa nên rõ
ràng vấn đề này đang có tính thời sự.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối t-ợng, phạm vi và thời gian nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách t-ơng đối có hệ thống về mặt lý luận những
nội dung cơ bản của vấn đề phạm tội có tình chất chuyên nghiệp trong luật hình sự Việt Nam và
việc áp dụng vấn đề này trong thực tiễn, từ đó xác định những bất cập để đề xuất kiến giải lập
pháp bằng việc đ-a ra mô hình lý luận của các quy phạm về vấn đề phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp trong luật hình sự n-ớc ta, cũng nh- đ-a ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng vấn
đề đã nêu trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn đặt cho mình các nhiệm vụ nghiên cứu
chủ yếu sau:
1) Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát triển của vấn đề phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp trong luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám (năm 1945) đến nay,
phân tích khái niệm, các quan điểm của các nhà hình sự học trong n-ớc và trên thế giới, các đặc
điểm cơ bản của phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phân biệt phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp với phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội, tái phạm và tái phạm nguy hiểm, phân tích nội dung
và điều kiện áp dụng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong BLHS năm 1999 hiện hành để
làm sáng tỏ bản chất pháp lý và những nội dung cơ bản của vấn đề phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp theo luật hình sự Việt Nam.
2) Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự về
vấn đề phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự n-ớc ta,
đồng thời phân tích những tồn tại xung quanh việc quy định vấn đề phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp và thực tiễn áp dụng nhằm đề xuất và luận chứng sự cần thiết phải hoàn thiện và đ-a ra các
giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạm về vấn đề này trong pháp luật hình sự Việt
Nam.
3.3. Đối t-ợng nghiên cứu
Đối t-ợng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề phạm tội
có tính chất chuyên nghiệp theo luật hình sự Việt Nam cụ thể là: Khái niệm phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp, các đặc điểm cơ bản của phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phân biệt phạm tội
có tính chất chuyên nghiệp với phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội và tái phạm (hoặc tái phạm
nguy hiểm). Nội dung và điều kiện áp dụng của vấn đề phạm tội có tính chất chuyên nghiệp theo
quy định của BLHS năm 1999 hiện hành, kết hợp với thực tiễn áp dụng và tham khảo pháp luật
hình sự của một số n-ớc trên thế giới để qua đó chỉ ra những nguyên tắc cơ bản và đề xuất các
kiến giải lập pháp cũng nh- các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về vấn đề
phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong pháp luật hình sự Việt Nam.
3.4. Phạm vi và thời gian nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp theo luật hình sự Việt Nam d-ới góc độ của luật hình sự mà theo quan điểm của tác giả là
cơ bản và quan trọng hơn cả. Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật
hình sự Việt Nam về vấn đề phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong m-ời năm (2000-2009)
4. Cơ sở lý luận và các ph-ơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t- t-ởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng và Nhà n-ớc ta về đấu tranh phòng và chống tội phạm, những luận điểm
khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của
một số nhà khoa học luật hình sự Việt Nam. Luận văn sử dụng một số ph-ơng pháp tiếp cận để
làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề t-ơng ứng, đó là các ph-ơng pháp nghiên cứu nh-: lịch
sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê v.v
5. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
1) Về mặt lý luận: Đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo, đề cập một cách t-ơng đối có
hệ thống và t-ơng đối toàn diện một số vấn đề cơ bản của lý luận phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp trong luật hình sự Việt Nam ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học với những đóng góp về
mặt khoa học đã nêu trên.
2) Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần vào việc xác định đúng đắn những điều kiện cụ thể của
phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố
tụng, cũng nh- đ-a ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm của phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
ở khía cạnh lập pháp, cũng nh- việc áp dụng trong thực tiễn. Đặc biệt, để góp phần phân hóa tội phạm
và ng-ời phạm tội, cá thể hóa và phân hóa tối đa TNHS và hình phạt, tăng c-ờng hiệu quả công tác đấu
tranh chống tội phạm và nhằm phù hợp với các yêu cầu của thực tiễn xét xử, luận văn cũng kiến nghị bổ
sung một số tr-ờng hợp có thể áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, nh-ng lại ch-a
đ-ợc nhà làm luật n-ớc ta quy định trong BLHS.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3
ch-ơng:
Ch-ơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
Ch-ơng 2: Các quy định về phạm tội có tính chất chuyên nghiệp theo pháp luật hình sự Việt
Nam và thực tiễn áp dụng.
Ch-ơng 3: Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự và giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.


Ch-ơng 1
Một số vấn đề lý luận chung
về phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
1.1. Khái niệm và các đặc điểm của phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
1.1.1. Khái niệm phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam đã có một số quan điểm đ-a ra về khái niệm và nội
hàm của phạm tội có tính chất chuyên nghiệp:
Theo GS.TSKH Lê Văn Cảm thì phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là một dạng của chế
định nhiều (đa) tội phạm và chế định này bao gồm các dạng sau: Phạm tội nhiều lần; phạm nhiều
tội; tái phạm; và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Theo đó, phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp là phạm tội nhiều lần, có tính chất liên tục và nhằm mục đích vụ lợi hay làm giàu bất
chính mà hoạt động phạm tội đã trở thành hệ thống và tạo nên nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn
sống chủ yếu của ng-ời phạm tội.
Theo GS.TSKH Đào Trí úc và PGS.TS Võ Khánh Vinh thì phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp chỉ là một dạng đặc biệt của phạm tội nhiều lần và chế định nhiều tội phạm chỉ có ba (3)
hình thức biểu hiện là: phạm nhiều tội, phạm tội nhiều lần và tái phạm, tái phạm nguy hiểm.
Theo TS. Lê Văn Đệ thì phạm tội có tính chất chuyên nghiệp không phải là một dạng của chế
định nhiều tội phạm, tác giả cho rằng chế định nhiều tội phạm có ba hình thức biểu hiện là: phạm nhiều
tội, phạm tội nhiều lần và tái phạm, tái phạm nguy hiểm.
Theo TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy thì phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là phạm tội có
tính chất liên tiếp từ năm lần trở lên, chuyên lấy việc phạm tội làm nghề sống và lấy tài sản, kết
quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.
Theo ThS. Lê Văn Luật thì phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là ng-ời phạm tội tr-ớc hết có
một nhân thân xấu, là ng-ời có khả năng lao động nh-ng không chịu lao động, chỉ biết lấy việc
chiếm đoạt tài sản của ng-ời khác để tiêu xài hoặc là ng-ời tuy có nghề nghiệp, có thu nhập nh-ng
vẫn nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ng-ời khác (cùng một nhóm khách thể),
đã bị kết án nhiều lần ch-a đ-ợc xóa án tích lại tái vi phạm, cứ sau khi ra tù lại phạm tội mới.
Nghiên cứu BLHS của một số n-ớc trên thế giới nh- Nhật Bản, Trung Quốc, Liên bang Nga,
Đức, Thụy Điển v.v thì pháp luật các n-ớc này quy định một số khái niệm khác cũng gần với
khái niệm này nh-: Phạm tội có hệ thống, tội phạm lặp lại. Đặc biệt, nghiên cứu BLHS Liên
bang Nga chúng tôi thấy các nhà làm luật Nga không sử dụng thuật ngữ "phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp" nh-ng họ đã thể hiện quan điểm t-ơng đối rõ là coi chế định nhiều tội phạm chỉ
có ba (3) hình thức biểu hiện đó là: phạm tội nhiều lần (Điều 16), phạm nhiều tội (Điều 17) và tái
phạm (Điều 18). Trong đó tái phạm có ba dạng là tái phạm th-ờng, tái phạm nguy hiểm và tái
phạm đặc biệt nguy hiểm.
Trong luật hình sự V-ơng quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (các n-ớc theo hệ thống pháp
luật Common Law) không đ-a ra khái niệm phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Tuy nhiên,
nghiên cứu hệ thống các biện pháp c-ỡng chế về hình sự khác trong pháp luật n-ớc này (các nhà
làm luật Anh - Mỹ gọi là các biện pháp an ninh) thì các nhà làm luật n-ớc Anh đã đề cập đến
khái niệm Kẻ phạm tội th-ờng xuyên đó là những ng-ời bị kết án đến lần thứ ba (3) về cùng một
tội, trên 16 tuổi và tr-ớc lần phạm tội thứ ba đã biểu hiện "lối sống vô liêm sỉ hoặc lối sống tội
phạm" - những ng-ời này sẽ bị áp dụng biện pháp giam giữ trong tù để ngăn ngừa với thời hạn từ
5 năm đến 10 năm. Nh- vậy, theo quan điểm của các nhà làm luật Anh, kẻ phạm tội th-ờng
xuyên bị coi là có "tình trạng nguy hiểm" cần phải cách ly ra khỏi xã hội khi có các căn cứ pháp
lý cụ thể do pháp luật quy định. T-ơng tự nh- vậy, pháp luật hình sự Mỹ cũng đ-a ra đối t-ợng là
"Ng-ời phạm tội chuyên nghiệp" sẽ bị áp dụng biện pháp an ninh đó là - biện pháp kéo dài việc
giam giữ trong tù hoặc để ngăn ngừa.
Trong luật hình sự Nhật Bản, giáo s- Tsuneo Inako khi viết về hình luật Nhật Bản đã nhận xét
"Trong Bộ luật Hình sự hiện hành không có khái niệm kẻ phạm tội chuyên nghiệp và Tòa án giải
quyết vấn đề này bằng cách tăng hình phạt đối với những kẻ tái phạm. Vấn đề phạm tội chuyên nghiệp
ở Nhật Bản đang đặt ra một cách gay gắt". Nh- vậy, việc không quy định phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp trong BLHS quả là một thiếu sót, bởi kẻ phạm tội có tính chất chuyên nghiệp xét d-ới
góc độ nhân thân ng-ời phạm tội là xấu hơn nhiều so với kẻ phạm tội tái phạm thông th-ờng.
Một khái niệm khác liên quan chặt chẽ với khái niệm phạm tội có tính chất chuyên nghiệp đó
là "l-u manh chuyên nghiệp". Khái niệm này để chỉ những ng-ời có nhân thân xấu, có nhiều tiền
án, tiền sự, những ng-ời chuyên lấy việc trộm cắp, lừa đảo làm nguồn sống chính. Khái niệm l-u
manh chuyên nghiệp đ-ợc luật hình sự n-ớc ta nhắc đến nhiều trong giai đoạn từ sau Cách mạng
tháng Tám (năm 1945) đến tr-ớc pháp điển hóa lần thứ nhất (năm 1985), Đảng và Nhà n-ớc ta
coi đây là một trong những đối t-ợng trấn áp của cách mạng, chuyên chính của pháp luật. Còn
đối với luật hình sự hiện đại có khái niệm nhân thân ng-ời phạm tội mà những ng-ời bị áp dụng
các tình tiết nh-: tình tiết nh- tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
v.v đ-ợc coi là những ng-ời có nhân thân xấu sẽ bị áp dụng những hình phạt nặng.
Vấn đề động cơ, mục đích của ng-ời có hành vi đ-ợc coi là phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp cũng có nhiều ý kiến khác nhau đó là hiểu nh- thế nào là "lấy việc chiếm đoạt tài sản của
ng-ời khác làm nghề sống chính và lấy tài sản chiếm đoạt đ-ợc làm nguồn thu nhập chính (hay
chủ yếu)". Theo chúng tôi thì khi xác định động cơ, mục đích của ng-ời bị coi là phạm tội có tính
chất chuyên nghiệp chúng ta chỉ cần xác định ng-ời đó phạm tội vì động cơ vụ lợi, làm giàu bất
chính và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn thu nhập chính hoặc chủ yếu, chứ không cần
yếu tố ng-ời đó lấy việc phạm tội là nghề sống chính. Hoặc chúng ta chỉ cần xác định đ-ợc ng-ời
đó phạm tội vì vụ lợi, làm giàu bất chính và lấy việc phạm tội làm nghề sống chính là đủ mà
không cần phải chứng minh thêm yếu tố ng-ời đó lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn thu
nhập chính hoặc chủ yếu. Giải quyết vấn đề này vừa có căn cứ khoa học đồng thời cũng không
gây khó khăn lớn cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án trong việc xác định tình tiết phạm
tội có tính chất chuyên nghiệp, bảo đảm việc đấu tranh chống tội phạm này.
Về thời hiệu thực hiện tội phạm, thì không phân biệt các lần phạm tội đó về cùng một tội
phạm (hoặc một số tội phạm) đã bị truy cứu TNHS hay ch-a bị truy cứu TNHS nếu ch-a hết thời
hiệu truy cứu TNHS hoặc ch-a đ-ợc xóa án tích.
Về nhân thân ng-ời phạm tội, ng-ời bị áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
có nhân thân rất xấu, thể hiện tính chống đối xã hội cao. Ng-ời có nhân thân xấu theo pháp luật
hình sự Việt Nam về nguyên tắc chung là ng-ời có tiền án, tiền sự (hoặc cả tiền án, tiền sự).
Tóm lại, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là tr-ờng hợp phạm tội lặp đi lặp lại nhiều lần
trong một khoảng thời gian nhất định mà hoạt động phạm tội đó đã trở thành hệ thống và xâm
phạm đến một khách thể loại nhất định, với mục đích vụ lợi hoặc làm giàu bất chính để tạo nên
nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của ng-ời phạm tội.
1.1.2. Các đặc điểm của phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
Thứ nhất, có hành vi nguy hiểm cho xã hội và các hành vi đó phải thỏa mãn ít nhất các dấu
hiệu của ba (3) cấu thành tội phạm độc lập đ-ợc quy định trong một hoặc một số điều luật trong
Phần riêng của BLHS.
Thứ hai, các tội phạm đ-ợc thực hiện (có thể lặp lại tội phạm) cách nhau một khoảng thời
gian nhất định đủ để phân biệt tội phạm tr-ớc và tội phạm sau, mỗi tội phạm đã đ-ợc thực hiện
phải chịu hậu quả pháp lý hình sự và các lần phạm tội này có thể đã bị đ-a ra xét xử nh-ng ch-a
đ-ợc xóa án tích hoặc ch-a hết thời hiệu truy cứu TNHS.
Thứ ba, các hành vi phạm tội phải có tính chất liên tục (tính chất này th-ờng đ-ợc thể hiện
bằng việc liên tiếp thực hiện một tội phạm hoặc loại tội phạm cùng nhóm trong khoảng thời gian
nhất định) với lỗi cố ý, động cơ thống nhất là vụ lợi hoặc làm giàu bất chính.
Thứ t-, các hành vi phạm tội đã trở thành hoạt động phạm tội có hệ thống và mục đích là tạo lên
nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của ng-ời phạm tội.
Thứ năm, do tính chất liên tục và có hệ thống của hoạt động phạm tội (chẳng hạn nh-: có thể
ngay sau khi đ-ợc xóa án tích ng-ời phạm tội lại tiếp tục thực hiện một loạt tội phạm cùng nhóm)
nên ng-ời phạm tội có thể bị đ-a ra xét xử ở các lần khác nhau.
Thứ sáu, ng-ời bị áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp phải là ng-ời có
nhân thân xấu.
1.2. Các tiêu chí để đánh giá là tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
1.2.1. Số lần phạm tội
Hành vi phạm tội đ-ợc lặp đi lặp lại nhiều lần (từ ba lần trở lên) về một tội phạm hoặc nhiều
tội xâm phạm cùng một khách thể loại, trong một khoảng thời gian nhất định và hoạt động phạm
tội trở thành hệ thống.
1.2.2. Hình thức lỗi, động cơ mục đích của tội phạm
Các lần phạm tội để đ-ợc tính là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp ng-ời phạm tội đều
thực hiện với hình thức lỗi cố ý. Hay nói cách khác, tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp" chỉ đ-ợc áp dụng đối với các tội mà trong cấu thành tội phạm quy định có hình thức lỗi
là cố ý.
Động cơ phạm tội là vụ lợi hoặc làm giàu bất chính và mục đích phạm tội là lấy việc phạm
tội làm nghề sống chính hoặc lấy tài sản phạm tội làm nguồn thu nhập chính hoặc nguồn sống
chủ yếu.
1.2.3. Nhân thân ng-ời phạm tội
Ng-ời phạm tội có nhân thân xấu, th-ờng là ng-ời đã bị Tòa án kết án nhiều lần mà ch-a
đ-ợc xóa án tích, đã đi cải tạo giáo dục nh-ng khi ra tù lại tiếp tục phạm tội. Hoặc là ng-ời tuy
ch-a bị kết án lần nào nh-ng khi bị bắt đã khai nhận là tr-ớc đó đã phạm tội rất nhiều lần.
1.3. Các yêu cầu (nguyên tắc) cơ bản để áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp khi quyết định hình phạt
1.3.1. Các yêu cầu chung để áp dụng các tình tiết tăng tặng, giảm nhẹ khi quyết định hình
phạt
Thứ nhất, xác định đúng và đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS. Đây là vấn đề quan
trọng đầu tiên, bởi nếu xác định thiếu hoặc thừa dẫn đến hậu quả là quyết định hình phạt không
đúng.
Thứ hai, tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS của hành vi phạm tội nào thì chỉ đ-ợc áp
dụng đối với hành vi phạm tội đó.
Thứ ba, xác định đúng mức độ tăng nặng, giảm nhẹ của các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
TNHS. Nếu không xác định mức độ tăng nặng, giảm nhẹ của các tình tiết thì khi áp dụng hình
phạt sẽ không t-ơng xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do ng-ời phạm tội thực
hiện.
Thứ t-, khi ng-ời tiến hành tố tụng đã xác định bị cáo phạm tội ở khung hình phạt nào, dù có nhiều
tình tiết tăng nặng thì họ cũng không bị xử phạt quá mức tối đa của khung hình phạt đó. Trong tr-ờng
hợp quyết định thấp hơn mức tối thiểu của khung hình phạt, Tòa án phải nêu đ-ợc lý do và tuân theo
những quy định tại Điều 47 BLHS.
Thứ năm, chỉ đ-ợc áp dụng các tình tiết tăng nặng kể từ khi BLHS có hiệu lực pháp luật. Điều 48
BLHS năm 1999 có 7 tình tiết tăng nặng TNHS mới trong đó có tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp" và tình tiết này đ-ợc bổ sung là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt ở nhiều cấu thành tội
phạm. Nếu tr-ớc ngày BLHS có hiệu lực pháp luật mà ng-ời phạm tội thực hiện tội phạm có một
trong các tình tiết phạm tội mới, mà sau khi BLHS có hiệu lực mới bị phát hiện, điều tra, truy tố và
xét xử thì không đ-ợc coi các tình tiết đó là tình tiết tăng nặng đối với ng-ời phạm tội.
Thứ sáu, tùy từng tr-ờng hợp cụ thể mà có thể áp dụng đối với ng-ời phạm tội cả tình tiết
"phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" và "phạm tội nhiều lần" thậm chí cả tình tiết "tái phạm"
nếu tr-ờng hợp phạm tội cụ thể thỏa mãn đ-ợc điều kiện của các tình tiết đó. Về nguyên tắc, tình
tiết đã là yếu tố định khung hình phạt thì không đ-ợc coi là tình tiết tăng nặng TNHS. Song điều
này không có nghĩa khi nhà làm luật quy định tình tiết nào đó là tình tiết định khung hình phạt
của một tội phạm cụ thể, thì đ-ơng nhiên trong mọi tr-ờng hợp nếu một ng-ời thực hiện hành vi
phạm tội đ-ợc quy định tại điều luật đó thì không thể coi tình tiết đó là tình tiết tăng nặng TNHS
đối với ng-ời phạm tội.
1.3.2. Các yêu cầu riêng để áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khi
quyết định hình phạt
Thứ nhất, chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" đối với tội phạm thực
hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý và động cơ vụ lợi hoặc làm giàu bất chính. Điều này đòi hỏi
ng-ời áp dụng pháp luật tr-ớc khi xem xét có hay không áp dụng tình tiết trên, cần phải xem xét
cấu thành tội phạm mà ng-ời đó phạm vào có hình thức lỗi cố ý hay không? Các lần phạm tội,
ng-ời phạm tội có động cơ thống nhất là động cơ vụ lợi hoặc làm giàu bất chính hay không?
Thứ hai, đối với ng-ời phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, ngoài việc áp dụng một hình
phạt t-ơng xứng đối với hành vi phạm tội của họ, ng-ời tiến hành tố tụng cần phải áp dụng thêm
các hình phạt bổ sung nh-: Quản chế tại địa ph-ơng, cấm đi khỏi nơi c- trú hoặc cấm c- trú tại
một số địa ph-ơng nhất định, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định. Tùy từng tr-ờng hợp cụ thể mà chúng ta áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung một
cách hợp lý nhằm tăng thêm hiệu quả áp dụng hình phạt chính.
Thứ ba, không áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" đối với ng-ời ch-a
thành niên ch-a đủ 16 tuổi phạm tội.
1.4. So sánh phạm tội có tính chất chuyên nghiệp với các khái niệm khác có liên quan
1.4.1. Với tình tiết "phạm tội nhiều lần"
* Giống nhau: Đều là các dạng của chế định "nhiều tội phạm" trong khoa học luật hình sự.
Tức là trong những điều kiện nh- nhau nếu so sánh với tội đơn nhất thì phạm tội nhiều lần và
phạm tội có tính chất chuyên nghiệp th-ờng cho thấy tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
cao hơn của tội phạm đ-ợc thực hiện. Ng-ời phạm tội đều thực hiện nhiều lần hành vi nguy hiểm
cho xã hội bị luật hình sự cấm và hành vi nguy hiểm cho xã hội ấy trong mỗi lần thực hiện bao
giờ cũng phải có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập.
* Khác nhau: Hai dạng này có những điểm khác nhau cơ bản sau:
Về khách thể của tội phạm, phạm tội nhiều lần là phạm từ hai tội trở lên mà những tội ấy
đ-ợc quy định tại cùng một điều (hoặc tại cùng một khoản của điều) t-ơng ứng trong Phần riêng
BLHS do vậy các lần phạm tội đó ng-ời phạm tội chỉ xâm phạm một khách thể nhất định. Còn phạm
tội có tính chất chuyên nghiệp, các lần phạm tội đó có thể xâm phạm các khách thể khác nhau (cùng
một khách thể loại).
Về động cơ, mục đích phạm tội ng-ời bị áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
khi phạm tội có động cơ, mục đích rõ ràng đó là phạm tội vì vụ lợi hoặc làm giàu bất chính, lấy việc
phạm tội làm nghề sống chính hoặc lấy kết quả của việc phạm tội làm nghề sống chính. Còn ng-ời bị
áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần, động cơ mục đích, đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc
khi áp dụng tình tiết này.
Về yếu tố lỗi của tội phạm đ-ợc thực hiện, ng-ời bị áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp thực hiện tội phạm chỉ với một hình thức lỗi là: lỗi cố ý vì họ phạm tội có động cơ
và mục đích phạm tội. Còn ng-ời bị áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần, họ thực hiện tội phạm
với cùng một hình thức lỗi (lỗi cố ý hoặc cũng có thể là lỗi vô ý).
1.4.2. Với tình tiết "tái phạm"
Điểm giống nhau rõ nét nhất giữa phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và tái phạm đó là yếu
tố về nhân thân ng-ời phạm tội. Mặc dù các dạng của chế định nhiều tội phạm nh- đã phân tích
đều thể hiện ng-ời phạm tội có nhân thân xấu, tuy nhiên thực tiễn xét xử cho thấy hai dạng của
chế định này là tái phạm (hoặc tái phạm nguy hiểm) và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
th-ờng thể hiện rằng ng-ời phạm tội có một nhân thân rất xấu.
Những điểm khác nhau cơ bản giữa hai dạng này là: Về tiêu chí động cơ, mục đích khi phạm tội.
Ng-ời bị áp dụng tình tiết tái phạm khi phạm tội dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội không bắt
buộc. Còn ng-ời bị áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, các lần phạm tội đó ng-ời
phạm tội đều có mục đích vụ lợi hoặc làm giàu bất chính. Ng-ời phạm tội lấy việc phạm tội là nghề
sống chính hoặc lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập chủ
yếu.
Về loại tội phạm đ-ợc thực hiện. Các tội phạm đ-ợc thực để tính là tái phạm không nhất thiết
phải có cùng tính chất, không nhất thiết là xâm hại cùng một khách thể, hay một nhóm khách thể mà
có thể là các tội phạm khác nhau đ-ợc quy định ở các ch-ơng khác nhau trong Phần các tội phạm của
BLHS. Còn các tội phạm đ-ợc thực hiện để coi là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp xâm hại đến
cùng một khách thể trực tiếp hoặc cùng một khách thể loại. Các tội phạm đó đ-ợc quy định trong
cùng một điều hoặc cùng một ch-ơng trong Phần các tội phạm của BLHS.
1.4.3. Với tình tiết "phạm nhiều tội"
* Giống nhau: Chúng đều là các dạng khác nhau của chế định Nhiều tội phạm do vậy chúng đều
có các đặc điểm chung của chế định này. Tức là, đó là những tr-ờng hợp mà một ng-ời phạm từ hai tội
trở lên, các tội này ch-a hết thời hiệu truy cứu TNHS. Trong những điều kiện nh- nhau nếu so sánh với
tội đơn nhất thì phạm nhiều tội và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp th-ờng cho thấy tính chất và
mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn của tội phạm đ-ợc thực hiện, cũng nh- nhân thân ng-ời phạm
tội.
* Khác nhau: Hai dạng này có những điểm khác nhau cơ bản sau:
Về động cơ, mục đích phạm tội. Với phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, các lần phạm tội đ-ợc
thực hiện với cùng một động cơ, mục đích phạm tội thống nhất: Đó là ng-ời phạm tội với mục đích
vụ lợi hoặc làm giàu bất chính. Động cơ phạm tội là lấy việc phạm tội làm nghề sống chính hoặc lấy
kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập chủ yếu, đây là một trong các
điều kiện bắt buộc để định tội danh trong tr-ờng hợp này. Với phạm nhiều tội, ng-ời phạm tội thực
hiện các tội phạm thông th-ờng không cùng chung mục đích, với các ý định phạm tội không
thống nhất. Tức là động cơ, mục đích phạm tội không phải là điều kiện bắt buộc để định tội danh
đối với các tr-ờng hợp phạm nhiều tội.
Về tính chất lỗi của ng-ời phạm tội. Các lần phạm tội để đ-ợc tính là phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp, nh- phân tích ở trên ng-ời phạm tội đều thực hiện tội phạm với hình thức lỗi cố
ý. Còn với các lần phạm tội để đ-ợc tính là phạm nhiều tội, có tội đ-ợc thực hiện với lỗi cố ý và
cũng có thể có tội phạm đ-ợc thực hiện với lỗi vô ý. Tr-ờng hợp phạm nhiều tội không nhất thiết
là các lần phạm tội ng-ời phạm tội đều thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

Ch-ơng 2
Các quy định về phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp theo pháp luật hình sự Việt Nam
và thực tiễn áp dụng
2.1. Quy định về phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong luật hình sự Việt Nam từ
sau Cách mạng tháng Tám (năm 1945) đến tr-ớc pháp điển hóa lần thứ nhất (năm 1985)
Lần đầu tiên hai văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm
phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân
năm 1970 chính thức quy định tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" là tình tiết định
khung hình phạt trong một số tội phạm (12 tội phạm). Tuy nhiên hai pháp lệnh này ch-a ghi nhận
định nghĩa pháp lý về tình tiết này.
Để thống nhất nhận thức về hai Pháp lệnh trên, Liên bộ Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và Bộ Công an đã soạn thảo dự thảo Thông t- ngày 16-3-1973. Qua nghiên cứu
h-ớng dẫn của dự thảo thông t- về "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" chúng tôi thấy dự thảo
Thông t- đã thể hiện t-ơng đối rõ ràng về bản chất của "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" đó là
hành vi phạm tội của những kẻ coi việc phạm tội nh- là một nghề để kiếm sống, luôn phá rối trật tự
trị an, coi th-ờng pháp luật hoặc hành vi phạm tội của những kẻ xâm phạm tài sản rất nhiều lần, liên
tục, có hệ thống, trong thời gian t-ơng đối ngắn. Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật lập pháp khái niệm trên
là ch-a đạt, nhà làm luật đã dùng ph-ơng pháp liệt kê để đ-a ra các tr-ờng hợp phạm tội, nh- vậy sẽ
không dự liệu hết đ-ợc các tr-ờng hợp phạm tội xảy ra trong thực tiễn, không bao quát hết đ-ợc nội
hàm của khái niệm.
Về khái niệm "l-u manh chuyên nghiệp", dự thảo thông t- mới dừng lại ở việc nhận định
chung chung các hành vi phạm tội đó là những kẻ chuyên sống bằng nghề trộm cắp, lừa đảo, chứa
chấp, tiêu thụ tài sản bị chiếm đoạt, luôn luôn phá rối trật tự trị an, không tôn trọng pháp luật Nhà
n-ớc, hoặc chuyên sống bằng những hành động phi pháp khác nh- chuyên chứa gá cờ bạc, chứa gái
mãi dâm v.v mà ch-a đ-a ra đ-ợc một tiêu chí rõ ràng nào (định tính hoặc định l-ợng) để xác định
một tr-ờng hợp nào là hoặc không là "l-u manh chuyên nghiệp". Từ đó dẫn đến việc áp dụng pháp
luật của các Tòa án là không thống nhất và bỏ lọt nhiều tr-ờng hợp phạm tội nguy hiểm là "phạm
tội có tính chất chuyên nghiệp".
ủy ban Th-ờng vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TVQH ngày 20-6-1961 về việc
tập trung giáo dục cải tạo những phần tử có hành động nguy hại cho xã hội. Nghị quyết cũng đề cập
đến phần tử l-u manh chuyên nghiệp là những ng-ời đ-ợc giáo dục cải tạo không bị coi nh- phạm
nhân có án phạt tù, nh-ng trong thời gian giáo dục, cải tạo không đ-ợc h-ởng quyền công dân, nh-ng
nghị quyết cũng không đ-a ra một khái niệm chính thức về l-u manh chuyên nghiệp.
Cũng bằng ph-ơng pháp liệt kê các đối t-ợng đ-ợc coi là l-u manh chuyên nghiệp các văn
bản nh-: Thông t- số 121-CP ngày 9-8-1961 của Hội đồng Chính phủ h-ớng dẫn thi hành Nghị
quyết số 49 nêu trên; Quyết định số 154-CP ngày 01-10-1973 của Hội đồng Chính phủ ban hành
về việc bổ sung đối t-ợng bị coi là l-u manh chuyên nghiệp thuộc diện tập trung giáo dục cải tạo
ở các cơ sở giáo dục, cải tạo ở các cơ sở sản xuất do Bộ Công an quản lý đ-a ra 9 đối t-ợng bị coi
là phần tử l-u manh chuyên nghiệp.
* Đ-ờng lối xử lý của Nhà n-ớc ta đối với "bọn l-u manh chuyên nghiệp" và bọn "phạm tội có
tính chất chuyên nghiệp" trong giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám (năm 1945) đến tr-ớc pháp
điển hóa lần thứ nhất (năm 1985). Nghiên cứu các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, hai Pháp lệnh năm
1970, các văn bản của Bộ T- pháp cũng nh- thực tiễn xét xử thông qua các Kết luận của Tòa án nhân
dân tối cao hàng năm thì, nói chung đ-ờng lối xử lý đối với các hành vi phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp trong giai đoạn này là t-ơng đối nghiêm khắc, các đối t-ợng l-u manh chuyên nghiệp đ-ợc
coi là đối t-ợng chuyên chính của pháp luật. Đối với l-u manh chuyên nghiệp, đ-ờng lối xử lý phải
rất nghiêm khắc, dù là chỉ lấy cắp nhỏ nhặt, với mức án tối thiểu đối với chúng là phải từ 2, 3 năm tù
giam trở lên, các Tòa án nhất thiết phải áp dụng hình phạt ở khung tăng nặng là khoản 2 hoặc khoản 3
của các điều trong Pháp lệnh. Ví dụ nh- đối với tội trộm cắp xe đạp cũng nh- các tài sản có giá trị lớn
khác đ-ờng lối xử lý là t-ơng đối nặng hơn so với các loại trộm cắp tài sản riêng khác của công dân,
nếu các tình tiết khác đều t-ơng đ-ơng. Trong số bọn hay trộm cắp xe đạp, đối với bọn l-u manh
chuyên nghiệp, bọn tái phạm nên xử phạt nặng, nói chung không nên xử phạt d-ới 5 năm tù
giam. Đối với những tên khác, tùy theo mức độ l-u manh hóa nhiều hay ít mà xử nặng nhẹ khác
nhau.
Với việc h-ớng dẫn một cách cụ thể, kịp thời về việc xử lý các vụ án mà kẻ phạm tội là l-u
manh chuyên nghiệp của Tòa án nhân dân tối cao trong giai đoạn này mà chất l-ợng xét xử các vụ án
này đ-ợc nâng lên một cách rõ rệt, kịp thời trấn áp, trừng trị những kẻ l-u manh chuyên nghiệp và
phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
2.2. Quy định về phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong luật hình sự Việt Nam từ
khi pháp điển hóa lần thứ nhất (năm 1985) đến tr-ớc pháp điển hóa lần thứ hai (năm 1999)
BLHS năm 1985 khi ch-a đ-ợc sửa đổi, bổ sung đã không quy định tình tiết "phạm tội có
tính chất chuyên nghiệp" là tình tiết tăng nặng TNHS cũng nh- là tình tiết tăng nặng định khung
hình phạt ở các tội phạm cụ thể. Tuy nhiên, qua 4 năm thi hành BLHS năm 1985, trong điều kiện
xây dựng nền kinh tế thị tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa, tình hình tội phạm có những diễn
biến phức tạp theo chiều h-ớng mới và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng đặt ra theo
tinh thần mới. Thực tiễn xét xử có một số tội phạm, kẻ phạm tội đã lấy việc phạm tội là nguồn
thu nhập, nguồn sống chính của bản thân, nhất là đối với các tội phạm về kinh tế nh- tội làm
hàng giả, tội buôn bán hàng giả, hay các tội xâm phạm sở hữu nh-: tội trộm cắp tài sản, lừa đảo
chiếm đoạt tài sản v.v những hành vi này cần phải trừng trị nghiêm khắc để phòng ngừa tội
phạm chung.
Lần sửa đổi, bổ sung BLHS vào ngày 28/12/1989 trong cấu thành tội phạm của 11 điều luật
nhà làm luật quy định lại tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là tình tiết tăng nặng định
khung hình phạt; Lần sửa đổi, bổ sung BLHS ngày 12/8/1991, nhà làm luật tiếp tục quy định bổ
sung tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt ở
3 tội; Lần sửa đổi, bổ sung ngày 10/5/1997 quy định bổ sung tình tiết "phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp" là tình tiết tăng nặng định khung ở 2 tội.
Tại bản kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác ngành
Tòa án năm 1991 cũng đã giải thích về vấn đề thế nào là phạm tội có "tính chuyên nghiệp" và
một lần nữa khẳng định đây là một khái niệm rộng hơn khái niệm "l-u manh chuyên nghiệp".
Bản kết luận cũng ch-a có nội dung mới nào về khái niệm phạm tội "có tính chất chuyên
nghiệp". ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tạm thời h-ớng dẫn là: ngoài bọn l-u manh
chuyên nghiệp ra, ng-ời thực hiện một loạt tội hay nhiều tội cùng loại (thuộc cùng nhóm khách
thể) nh-ng tội phạm lắp đi, lắp lại nhiều lần hoặc phạm rất nhiều tội (không kể là loại tội gì) lấy
đó là nguồn thu nhập chính hoặc nghề sống chính thì đều coi là có "tính chất chuyên nghiệp".
Trong khoảng thời gian trên 7 năm (tính từ ngày ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
h-ớng dẫn về tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp tại Hội nghị tổng kết công tác Tòa án năm
1991 đến tr-ớc pháp điển hóa lần thứ hai (năm 1999) việc áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp" vào đấu tranh phòng chống tội phạm đã có những kết quả nhất định. Tuy nhiên trong
quá trình thực hiện đã phát sinh một số vấn đề mới và có sự nhầm lẫn nên đã hạn chế trong kết quả
chung. Cụ thể: 1/ Có sự nhầm lẫn giữa tình tiết "l-u manh chuyên nghiệp" với tình tiết "phạm tội có
tính chất chuyên nghiệp"; 2/ Nh- thế nào là "tội phạm lặp đi lặp lại nhiều lần"; 3/ Đối với ng-ời đã có
tiền án, nh-ng không phải là tái phạm nguy hiểm, thì việc áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp nh- thế nào?; và 4/ Cùng một lần xét xử trong một vụ án có đ-ợc áp dụng hai tình tiết
tăng nặng TNHS là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và tái phạm nguy hiểm hay không? Những
v-ớng mắc và việc áp dụng không thống nhất tình tiết tăng nặng "phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp" trên đây là một thực tế đã tồn tại nhiều năm mà ch-a đ-ợc giải đáp.
2.3. Quy định về phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong luật hình sự Việt Nam từ
khi pháp điển hóa lần thứ hai (năm 1999) đến nay
Đến pháp điển hóa lần thứ hai, BLHS năm 1999 đã chính thức quy định tình tiết "phạm tội có
tính chất chuyên nghiệp" là tình tiết tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 1 Điều 48 ở Phần chung
BLHS và quy định tình tiết này là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt ở 17 cấu thành tội
phạm ở Phần các tội phạm.
Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao h-ớng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS. Trong đó Mục 5.1 của Nghị quyết có
h-ớng dẫn việc áp dụng về tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" nh- sau: Chỉ áp dụng
tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: a) Cố ý
phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay ch-a
bị truy cứu TNHS, nếu ch-a hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc ch-a đ-ợc xóa án tích; và b)
Ng-ời phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội
làm nguồn sống chính.
Theo chúng tôi, Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP có một số bất cập, hạn chế sau: Thứ nhất, nếu
chỉ coi những tr-ờng hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp nh- trong Nghị quyết h-ớng dẫn thì
ch-a đầy đủ và ch-a phản ánh hết tính nguy hiểm cũng nh- bản chất của mỗi ng-ời phạm tội. Bởi lẽ
điểm quan trọng nhất, mấu chốt nhất để phân biệt những tr-ờng hợp nào, con ng-ời phạm tội nào
đ-ợc coi là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp thì phải căn cứ vào ý thứ hai trong Nghị quyết
01/2006 đó là: ng-ời phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sống chính hoặc lấy kết quả của
việc phạm tội làm nguồn sống chính. Cho nên, ngoài những tr-ờng hợp ng-ời nào năm lần thực
hiện tội phạm xâm phạm đến cùng một khách thể hoặc một nhóm khách thể thì tr-ờng hợp ng-ời
nào phạm nhiều tội và có từ năm lần phạm tội trở lên và lấy việc phạm tội của mình làm nghề
sinh sống hoặc lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính, thì những tr-ờng hợp này
cũng phải coi là tr-ờng hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Có nh- vậy mới đánh giá đúng tính
chất nguy hiểm và phản ánh đúng bản chất của ng-ời phạm tội.
Thứ hai, lập luận để phân biệt tr-ờng hợp "phạm tội nhiều lần" và "phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp" nên mới quy định số lần phạm tội là năm (5) lần là ch-a có cơ sở khoa học vững chắc và
thuyết phục vì sự khác nhau cơ bản giữa chúng đó là sự nguy hiểm cho xã hội của hành vi "phạm tội
nhiều lần" là ng-ời phạm tội thực hiện hai lần trở lên về cùng một tội phạm và các lần phạm tội đó
ch-a hết thời hiệu truy cứu TNHS và đ-ợc đ-a ra xét xử cùng một lần. Còn tính nguy hiểm cho xã hội
của dạng "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" đó là ng-ời phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với
động cơ vụ lợi hoặc làm giàu bất chính và mục đích là lấy việc phạm tội là ph-ơng tiện kiếm sống
hoặc lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.
Về việc áp dụng tình tiết "phạm tội nhiều lần" và "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp", trong
giai đoạn này, chúng ta cũng cần chú ý đến Thông t- liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-
VKSNDTC-BCA-BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và
Bộ T- pháp về việc h-ớng dẫn áp dụng một số quy định tại ch-ơng XIV "Các tội xâm phạm sở hữu"
của BLHS năm 1999.
Việc áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong thời gian qua có những v-ớng
mắc nhất định. Điều này cũng xuất phát từ việc không thống nhất về cách hiểu nội dung và phạm vi áp
dụng tình tiết này, đặc biệt đa số còn nhầm lẫn giữa hai tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
và "phạm tội nhiều lần". Về mặt lý luận chúng tôi đã phân tích ở Mục 1.1 của luận văn: Quan điểm cho
rằng chỉ cần rất nhiều lần phạm tội liên tục một cách đều đặn về một tội hoặc một số tội là đủ để xác
định phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Có quan điểm thì cho rằng, phải cần thêm yếu tố nhân thân
(lang thang, không nghề nghiệp, lấy việc phạm tội làm nghề sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm
nguồn sống) thì mới khẳng định đ-ợc là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp v.v. Phải khẳng định rằng,
đây là một tình tiết t-ơng đối khó nhận thức, trong khi đó các văn bản h-ớng dẫn áp dụng lại không có
tính hệ thống, xuất hiện rải rác ở các văn bản khác nhau. Do vậy, trong thực tiễn xét xử hầu hết trong
những tr-ờng hợp tuy có dấu hiệu phạm tội có tính chất chuyên nghiệp nh-ng các cơ quan tiến hành tố
tụng chỉ áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội nhiều lần" hoặc "tái phạm nguy hiểm".
Ngày 19/6/2009 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật số 37/2009/QH12
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 quy định 20 cấu thành tội phạm có tình tiết
"phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" là tình tiết định khung hình phạt. Căn cứ vào khái niệm về
phạm tội có tính chất chuyên nghiệp mà chúng tôi đã đ-a ra ở Mục 1.1 của Luận văn, chúng ta có thể
đ-a ra kết luận sau: Một là, chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" với tính chất
là tình tiết định khung hình phạt đối với một ng-ời khi ng-ời đó có hành vi phạm tội lặp đi lặp lại
nhiều lần trong một khoảng thời gian nhất định mà hoạt động phạm tội đó đã trở thành hệ thống xâm
phạm đến một khách thể loại nhất định, với mục đích vụ lợi hoặc làm giàu bất chính, để tạo nên
nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của ng-ời phạm tội. Hai là, trong tr-ờng hợp ng-ời
nào thực hiện nhiều hành vi phạm tội cấu thành nhiều tội phạm khác nhau (các tội phạm đó trong
cùng một nhóm khách thể) mà thỏa mãn các dấu hiệu của phạm tội có tính chất chuyên nghiệp thì
ng-ời đó phải chịu TNHS về tất cả các tội phạm đó; và mỗi tội phạm ng-ời đó thực hiện đều phải
chịu về tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Tội phạm nào đ-ợc thực hiện ba lần trở lên
thì áp dụng tình tiết này với tính chất là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt, còn tội phạm
nào thực hiện d-ới ba lần thì áp dụng tình tiết này với tính chất là tình tiết tăng nặng TNHS.

Ch-ơng 3
Một số kiến nghị hoàn thiện
Các quy định Của pháp luật hình sự và giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết
phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
3.1. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về vấn đề phạm tội có tính
chất chuyên nghiệp
3.1.1. Hoàn thiện các quy định về vấn đề phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong Phần
chung của Bộ luật Hình sự
BLHS cần bổ sung thêm một Ch-ơng độc lập có tên gọi là "Nhiều tội phạm" với 5 điều có
các tên gọi "Khái niệm nhiều tội phạm", "Phạm tội nhiều lần", "Phạm nhiều tội", "Phạm tội có
tính chất chuyên nghiệp" và "Tái phạm". Trong đó các điều luật có liên quan đến "Phạm tội có
tính chất chuyên nghiệp" đ-ợc quy định cụ thể nh- sau:
Điều : Khái niệm nhiều tội phạm
1. Nhiều tội phạm là khi hành vi phạm tội do Bộ luật này quy định đ-ợc thực hiện thuộc một
trong những tr-ờng hợp t-ơng ứng sau đây:
a) Phạm tội nhiều lần; b) Phạm nhiều tội; c) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và; d) Tái
phạm.
2. Nếu trong những điều kiện nh- nhau, thì trách nhiệm hình sự đối với tội phạm đ-ợc thực
hiện thuộc một trong những tr-ờng hợp t-ơng ứng nêu tại khoản 1 Điều này phải ở mức độ cao
hơn.
Điều: Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là tr-ờng hợp phạm tội lặp đi lặp lại nhiều lần trong
một khoảng thời gian nhất định mà hoạt động phạm tội đó đã trở thành hệ thống và xâm phạm
đến một khách thể loại nhất định, với mục đích vụ lợi hoặc làm giàu bất chính để tạo nên nguồn
thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của ng-ời phạm tội.
Ng-ời phạm tội có tính chất chuyên nghiệp ngoài việc áp dụng hình phạt chính, họ còn phải
chịu áp dụng hình phạt bổ sung là cấm c- trú hoặc quản chế theo quy định tại Điều 37, 38 của
Bộ luật này.
Điều: Nguyên tắc xử lý đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội
6. án đã tuyên đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội khi ch-a đủ 16 tuổi, thì không tính để
xác định tái phạm hoặc phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
3.1.2. Hoàn thiện các quy định về vấn đề phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong Phần
các tội phạm của Bộ luật Hình sự
Việc sửa đổi, bổ sung BLHS vừa qua vào ngày 19/6/2009 là một b-ớc quan trọng cho việc pháp
điển hóa lần thứ ba trong thời gian tới. Đối với các hành vi phạm tội có tính chất chuyên nghiệp,
BLHS sửa đổi, bổ sung đã b-ớc đầu thể hiện chính sách hình sự trong giai đoạn hiện nay đó là mở
rộng phạm vi trấn áp về hình sự đối với các hành vi phạm tội nh-: Tội mua bán ng-ời có tính chất
chuyên nghiệp; Tội in phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà n-ớc có

ĐỊNH LÝ PI TA GO


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "ĐỊNH LÝ PI TA GO": http://123doc.vn/document/570283-dinh-ly-pi-ta-go.htm


5
2) Bµi to¸n 2:
* LÊy giÊy tr¾ng c¾t 8 tam gi¸c vu«ng b»ng nhau.
* Trong mçi tam gi¸c vu«ng ®ã, ta gäi ®é dµi c¸c
c¹nh gãc vu«ng lµ a, b; ®é dµi c¹nh hun lµ c.
* C¾t 2 h×nh vu«ng cã c¹nh b»ng a + b.
a) §Ỉt 4 tam gi¸c vu«ng lªn tÊm
b×a h×nh vu«ng thø nhÊt nh­ H121
SGK.
b) §Ỉt 4 tam gi¸c vu«ng cßn l¹i lªn
tÊm b×a h×nh vu«ng thø hai nh­
H122 SGK.
b
a
a
a
a
b
b
b
c
c
c
c
b
a
a
a
a
b
b
b
c
c
6
b
c
a
b
c
a
b
c
a
b
c
a
a) Đặt bốn tam giác vuông lên tấm bìa hình vuông như hình
121. Phần bìa không bò che lấp là một hình vuông có cạnh bằng
c, tính diện tích phần bìa đó theo c.
Hình 121
S
(c)
= c
2

c
2
7
b) Đặt bốn tam giác vuông còn lại lên tấm bìa hình vuông thứ hai
như hình 122. Phần bìa không bò che lấp gồm hai hình vuông có
cạnh là a và b, tính diện tích phần bìa đó theo a và b.
b
a
a
b
a
b
c
a
b
c
b
a
Hình 122
S = S
(a)
+ S
(b)
= a
2
+ b
2
b
a
a
2

b
2

8
=
b
2
a
2
+
b
a
c
c
a
b
a
c
b
a
b
c
b
a
c
a
b
c
a
b
c
a
b
c
c
2
a
a
b
b
(h1)
(h2)
Qua ghÐp h×nh, c¸c em cã nhËn xÐt g× vỊ quan hƯ gi÷a c
2
vµ b
2
+a
2
?
?
9
b
a
c
c
a
b
a
c
b
b
a
c
a
b
c
a
b
c
a
b
c
a
b
c
Qua ®o ®¹c, ghÐp h×nh c¸c em cã kÕt ln g× vỊ quan hƯ gi÷a ba
c¹nh cđa tam gi¸c vu«ng.
?
a
a
c
2
= a
2
+ b
2
5
2
= 3
2
+ 4
2
4
5
3
10
c
2
= a
2
+ b
2

b
c
a
Cạnh huyền
Cạnh góc
vuông
Cạnh góc vuông
11
∆ABC; Â = 90
0
BC
2
= AB
2
+ AC
2
GT
KL
§Þnh lý Pytago:
Trong mét tam gi¸c vu«ng, b×nh
ph­¬ng cđa c¹nh hun b»ng
tỉng c¸c b×nh ph­¬ng cđa 2 c¹nh
gãc vu«ng.
B
A C
12
TÝnh ®é dµi x trªn h×nh vÏ:
ABC vu«ng t¹i B ta cã:
AC
2
= AB
2
+ BC
2
(§L Pytago)
10
2
= x
2
+ 8
2
100 = x
2
+ 64
x
2
= 100 – 64 = 36
x = 6
A
B
C
x
8
10
D
E
F
1
1
x
EDF vu«ng t¹i D ta cã:
EF
2
= DE
2
+ DF
2
(§L Pytago)
x
2
= 1
2
+ 1
2
x
2
= 2
x =
2
Nh­ vËy trong
mét tam gi¸c
vu«ng khi biÕt ®é
dµi 2 c¹nh ta tÝnh
®­ỵc ®é dµi c¹nh
cßn l¹i.
?3
13
NÕu 1 tam gi¸c
biÕt b×nh ph­¬ng
®é dµi mét c¹nh
b»ng tỉng b×nh
ph­¬ng ®é dµi
hai c¹nh kia th×
tam gi¸c ®ã cã
vu«ng kh«ng?
?
14
B
4
c
m
A
C
5
c
m
3cm
BAC = 90
0
Tính và so sánh BC
2
và AB
2
+ AC
2
?
BC
2
= AB
2
+ AC
2
VÏ ∆ABC: AB = 3cm, AC = 4cm, BC = 5cm.
Dïng th­íc ®o gãc ®Ĩ x¸c ®Þnh sè ®o gãc BAC.
?4
? H·y cho biÕt mét tam gi¸c cã c¸c c¹nh quan hƯ
víi nhau nh­ thÕ nµo th× tam gi¸c ®ã lµ tam gi¸c
vu«ng.

Giao an LT&C ca nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Giao an LT&C ca nam": http://123doc.vn/document/570592-giao-an-lt-c-ca-nam.htm



****************************************************
*****
Tuần 3: Ngày soạn : 22 / 9 / 2008
Ngày giảng : T5 -25 /9 /2008
Tiết 3:
So sánh dấu chấm
I. Mục đích yêu cầu:
1. Tìm đợc những hình ảnh so sánh trong các câu thơ, câu văn. Nhận biết các từ chỉ
sự so sánh trong các câu đó.
2. Ôn luyện về dấu chấm: điền đúng dấu chấm vào chỗ thích hợp trong đoạn văn cha
đánh dấu chấm.
II. Đồ dùng dạy học:
- Bốn băng giấy, mỗi băng ghi 1 ý của BT1
- Bảng phụ viết nội dung BT3
III. Phơng pháp:
- Đàm thoại, nêu vấn đề, phân tích, thảo luận nhóm, hoạt động cá nhân.
IV. Các hoạt động dạy - học:
A. Kiểm tra bài cũ:
- GV viết bảng :
+ Chúng em là măng non của đất nớc
+ Chích bông là bạn của trẻ em .
- GV và HS nhận xét
B. Dạy bài mới :
1 . Giới thiệu bài :
Tiết LTVC hôm nay chúng ta tiếp tục
tìm hình ảnh so sánh và đợc nhận biết
thêm các từ chỉ sự so sánh trong những
câu đó . Sau đó luyện tập về dấu chấm.
2. Hớng dẫn làm bài:
a. Bài tập 1:
- GV dán 4 băng giấy lên bảng
- 2 HS đặt câu hỏi cho bộ phận gạch chân
ở mỗi câu :
- Ai là măng non của đất nớc ?
- Chích bông là gì ?
- HS lắng nghe .
- 1 HS đọc yêu cầu - lớp đọc thầm
- HS đọc lần lợt từng câu thơ trao đổi theo
cặp
- 4 HS lên bảng thi làm bài đúng nhanh
mỗi em gạch dới những hình ảnh so sánh
trong từng câu thơ, câu văn:
a. Mắt hiền sáng tựa vì sao.
b. Hoa xao xuyến nở nh mây từng chùm
c. Trời là cái tủ ớp lạnh
5
- GV chốt lại lời giải đúng
b. Bài 2 :
- GV theo dõi HS làm bài .
- GV chốt lại lời giải đúng
c. Bài 3:
- GV nhắc HS đọc kĩ đoạn văn, mỗi câu
phải nói trọn 1 ý để xác định chỗ chấm
câu cho đúng.
3. Củng cố dặn dò :
- Về nhà xem lại bài .
- Nhận xét tiết học .
Trời là cái bếp lò nung.
d. Dòng sông là một đ ờng trăng lung linh
dát vàng.
- Cả lớp nhận xét
- 1 HS đọc yêu cầu
- Cả lớp đọc lại các câu thơ, câu văn của
BT2, viết ra nháp các từ chỉ sự so sánh.
- 4 HS lên bảng gạch bằng bút màudới từ
chỉ sự so sánh trên băng giấy của BT2:
a, Mắt hiền sáng tựa vì sao.
b. Hoa xao xuyến nở nh mây từng chùm
c. Trời là cái tủ ớp lạnh
Trời là cái bếp lò nung.
d. Dòng sông là một đờng trăng lung linh
dát vàng.
- Lớp nhận xét
- 1 HS đọc yêu cầu của bài .
- HS làm bài dùng bút chì để chì để chấm
câu làm xong đổi bài để bạn kiểm tra
- 1 HS lên bảng chữa bài.
- Cả lớp và GV chốt lại lời giảI đúng .
- HS chữa bài vào vở:
Ông tôi vốn là thợ gò hàn vào loại giỏi.
Có lần, chính mắt tôi đã thấyông tán đinh
đồng. Chiếc búa trong tay ông hoa lên,
nhát nghiêng nhát thẳng, nhanh đến mức
tôi chỉ cảm thấy trớc mặt ông phất phơ
những sợi tơ mỏng. Ông là niềm tự hào
của cả gia đình tôi.
- 1 HS nhắc lại những nội dung vừa học.

**************************************************
*******
Tuần 4: Ngày soạn : 29 / 9 / 2008
Ngày giảng : T5 -2 /10 /2008
6
Tiết 4 :
mở rộng vốn từ : gia đình
I . Mục đích yêu cầu :
1 . Mở rộng vốn từ về gia đình .
2 . Tiếp tục ôn kiểu câu : Ai ( cái gì - con gì ) là gì ?
II . Đồ dùng dạy học:
G : Bảng lớp viết sẵn BT2.
H : Vở bài tập
III . Phơng pháp :
- Đàm thoại, nêu vấn đề, phân tích, giảng giải, thảo luận nhóm, hoạt động cá
nhân.
IV. Các hoạt động dạy học
A. Kiểm tra bài cũ:
- GV ghi bảng:
+ Tàu dừa chiếc lợc chải vào mây
xanh.
+ Anh em nh thể tay chân.
- GV nhận xét ghi điểm.
B. Dạy bài mới:
1. Giới thiệu bài:
Gắn với chủ điểm mái ấm tiết LTVC
hôm nay sẽ giúp các em mở rộng vốn từ
về ngời trong gia đình và tình cảm gia
đình . Sau đó , các em sẽ tiếp tục ôn kiểu
câu Ai ( cái gì - con gì ) - là gì ?
2 . Hớng dẫn bài tập :
a. Bài 1: Tìm những từ ngữ chỉ gộp
những ngời trong gia đình
- Từ chỉ gộp những ngời trong gia đình
là chỉ 2 ngời nh ông và bà, chú và cháu
(ông bà, chú cháu)
- GV ghi nhanh từ HS tìm đợc lên bảng
b. Bài 2:
- Ghi câu thành ngữ, tục ngữ vào nhóm
thích hợp.
- 2 HS lên bảng mỗi em tìm từ chỉ sự vật
so sánh ở một câu:
+Tàu dừa chiếc l ợc chải vào mây xanh .
+Anh em nh thể tay chân.
- HS nhận xét
- HS lắng nghe .
- 1 HS đọc yêu cầu của bài và mẫu: ông
bà, chú cháu
- 1 HS tìm thêm 1 hoặc 2 từ mới: Chú dì,
cậu mợ
- HS trao đổi theo cặp viết nhanh ra nháp
những từ tìm đợc.
- Vài HS nêu miệng .
- HS nhận xét .
- Nhiều HS đọc lại kết quả đúng: Ông bà,
ông cha, cha ông, cha chú, chú bác, cha
anh, chú dì, cô chú, cậu mợ, dì cháu, cô
cháu, cha mẹ, mẹ cha, thầy u, mẹ con, anh
em, chị em
- 1 HS đọc nội dung bài, lớp đọc thầm
7
- GV nhận xét chốt lại lời giải đúng
c. Bài 3: Đặt câu theo mẫu Ai là gì?
- GV nhận xét
- GV nhận xét nhanh từng câu HS vừa
đặt
- GV làm tơng tự với các câu b, c,d
3. Củng cố dặn dò :
- Về nhà học thuộc 6 thành ngữ , tục ngữ
ở BT2
- Nhận xét tiết học
- 1 HS làm mẫu ( xếp câu a vào ô thích
hợp trong bảng )
- HS làm việc theo cặp
- Một vài HS trình bày kết quả trên bảng
lớp, nêu cách hiểu từng thành ngữ, tục ngữ
- Cả lớp làm bài vào vở:
+ Cha đối với con cái: HS viết câu c, d
+ Con cháu đối với ông bà, cha mẹ: HS
viết câu a, b
+ Anh chị em đối với nhau: HS viết câu e,
g
- Cả lớp đọc thầm nội dung bài tập
- 1 HS nhắc lại yêu cầu
- 1 HS làm mẫu: Nói về bạn Tuấn trong
truyện Chiếc áo len.
a. Tuấn là anh của Lan.
- HS trao đổi theo cặp, nói tiếp về các
nhân vật còn lại.
- HS nối tiếp nhau phát biểu ý kiến: Tuấn
là ngời anh biết nhờng nhịn em.
Tuấn là đứa con ngoan.Tuấn là ngời con
biết thơng mẹ
b. Bạn nhỏ là cô bé rất ngoan. Bạn nhỏ là
cô bé rất hiếu thảo. Bạn nhỏ là đứa cháu
rất thơng yêu bà. Bạn nhỏ là đứa cháu rất
yêu thơng chăm sóc bà.
c. Bà mẹ là ngời rất yêu thơng con. Bà mẹ
là ngời dám làm tất cả vì con. Bà mẹ là
ngời rất tuyệt vời. Bà mẹ là ngời sẵn lòng
hy sinh thân mình vì con.
d. Sẻ non là ngời bạn rất tốt. Chú sẻ là ng-
ời bạn quý của bé thơ. Sẻ non là ngời bạn
rất đáng yêu. Sẻ non là ngời dũng cảm tốt
bong.
- HS nhận xét
*****************************************************
****
Tuần 5: Ngày soạn : 7 / 9 / 2008
8
Ngày giảng : T5 -9 /10 /2008
Tiết 5 :
so sánh
I . Mục đích yêu cầu :
1 . Nắm đợc một kiểu so sánh mới : so sánh hơn kém .
2 . Nắm đợc các từ có ý nghĩa so sánh hơn kém . Biết cách thêm các từ so sánh
vào những câu cha có từ so sánh .
II . Đồ dùng dạy học :
- G : Bảng lớp viết 3 khổ thơ ở BT1
Bảng phụ viết khổ thơ ở BT3
- H : Vở bài tập .
III . Phơng pháp :
- Đàm thoại, nêu vấn đề, phân tích, giảng giải, thảo luận nhóm, hoạt động cá
nhân.
IV. Các hoạt động dạy học :
A . Kiểm tra bài cũ :
- Đặt câu theo mẫu Ai là gì ? Nói về bạn
nhỏ trong bài thơ Khi mẹ vắng nhà .
- GV nhận xét ghi điểm
B . Dạy bài mới :
1 . Giới thiệu bài :
Tiết LTVC hôm nay chúng ta sẽ biết một
kiểu so sánh mới đó là so sánh hơn kém
và biết cách thêm các từ so sánh vào
những câu cha có từ so sánh
2 . Hớng dẫn làm bài :
a . Bài 1 :
- Gạch dới những hình ảnh đợc so sánh
với nhau trong từng khổ thơ .
- GVchốt lại lời giải đúng và giúp hs
phân biệt 2 loại só sánh : so sánh ngang
bằng và so sánh hơn kém
- 2 HS mỗi em đặt 1 câu :
+ Bạn nhỏ rất chăm chỉ làm việc giúp mẹ .
+ Bạn nhỏ rất yêu thơng quý mến mẹ .
- HS lắng nghe
- Cả lớp đọc thầm từng khổ thơ, làm bài ra
nháp, đổi vở cho bạn kiểm tra.
- 3 HS lên bảng làm bài :
- a. Cháu khoẻ hơn ông nhiều
( ss hơn kém )
- Ông là buổi trời chiều
( ss ngang bằng )
Cháu là ngày rạng sáng.
( ss ngang bằng )
b. Trăng khuya sáng hơn đèn
( ss hơn kém )
c . Những ngôi sao thức ngoà kia chẳng
bằng mẹ đã thức vì chúng con.
( ss hơn kém )
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời .
( ss ngang bằng )
9
b . Bài 2 :
- GV nhận xét chốt lại lời giải đúng
c. Bài 3: Tìm những sự vật đợ so sánh
với nhauvà thêm từ so sanh vào vâu cha
có ( ở gạch ngang )
- Gv theo dõi hs làm bài, kèm hs yếu .
3. Củng cố dặn dò :
- Về nhà xem lại bài
- Nhận xét tiết học
- 1 HS đọc yêu cầu của bài
- HS tìm những từ so sánh trong khổ thơ
- 3 HS lên bảng gạch phấn màu dới các từ
so sánh trong mỗi khổ thơ.
- Cả lớp nhận xét .
a. hơn - là - là .
b. hơn
c. chẳng bằng - là .
- 1 hs đọc thầm yêu cầu của bài. Cả lớp
đọc thầm lại các câu thơ để tìm hình ảnh
so sánh.
- 1 hs lên bảng gạch dới những sự vật đợc
so sánh với nhau .
- Cả lớp và gv nhận xét chốt lại lời giải
đúng
a. Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa - chiếc l ợc chải vào mây
xanh .
b. Tìm những từ so sánh cùng nghĩa thay
cho dấu gạch nối
- 1, 2 hs lên bảng điền nhanh các từ so
sánh
- Cả lớp và gv chốt lại lời giải đúng:
+ Quả da ( nh, là, tựa ) đàn lợn con nằm
trên cao.
+ Tàu dừa ( nh, là, tựa, nh thể ) chiếc l -
ợc chải vào mây xanh.
**************************************************
*******
Tuần 6: Ngày soạn : 13 / 10 / 2008
Ngày giảng : T5 -16 /10 /2008
Tiết 6 :
10
mở rộng vốn từ: trờng học
I . Mục đích yêu cầu :
- Mở rộng vốn từ về trờng học qua các trò chơi ô chữ .
- Ôn tập về cách dùng dấu phẩy.
II . Đồ dùng dạy học
- Ô chữ nh BT1
- 4 chiếc cờ nhỏ
- Chép sẵn các câu văn của BT2 vào bảng phụ
III . Phơng pháp :
- Đàm thoại, nêu vấn đề, phân tích, giảng giải, thảo luận nhóm, hoạt động cá
nhân.
IV. Các hoạt động dạy học :
A. n định tổ chức :
B. Kiểm tra bài cũ :
- Gọi 2 hs lên bảng làm miệng bài 1, 2
- GV nhận xét ghi điểm
C. Bài mới:
1. Giới thiệu bài:
- Ghi đầu bài lên bảng
2. Trò chơi ô chữ
- GV giới thiệu ô chữ trên bảng: Ô chữ
theo chủ đề trờng học, mỗi hàng ngang
là một từ liên quan đến trờng học và có
ý nghĩa tơng ứng đã đợc giới thiệu trong
sgk. Từ hàng dọc có nghĩa là mở đầu
năm học mới.
- Phổ biến cách chơi: Cả lớp chia thành
4 đôi chơi gv lần lợt đọc nghĩa của các
từ tơng ứng từ hàng 2 đến hàng 11. Sau
khi gv đọc xong, các đôi giành quyền
trả lời bằng cách phất cờ. Nếu trả lời
đúng 10 diểm, nếu trả lời sai không đợc
điểm nào. Các đôị còn lại tiếp tục giành
quyền trả lời đến khi đúng hoặc gv
thông báo đáp án thì thoi. Đội nào giải
đợc từ hàng dọc đợc thởng 20 điểm
- Hát
- 2 hs trình bày
- HS nhận xét
- HS lắng nghe
- HS nghe giới thiệu ô chữ
- HS tiến hành trò chơi
+ Hàng dọc: lễ khai giảng
+ Hàng ngang:
1 . lên lớp
2 . diễu hành
3 . sách giáo khoa
4 . thời khoá biểu
5 . cha mẹ
6 . ra chơi
11
- GV đa ra đáp án đúng .
- Tổng kết điểm, tuyên dơng nhóm
thắng cuộc.
3. Ôn luyện về cách dùng dấu phẩy
- Yêu cầu hs suy nghĩ và tự làm bài
- GV đa ra đáp án đúng .
4. Củng cố dặn dò :
- Về nhà tìm các từ nói về nhà trờng ,
luyện tập thêm cách dùng dấu phẩy .
- Nhận xét tiết học .
7 . học hỏi
8 . lời học
9 . giảng bài
10 . cô giáo
- HS dùng bút chì viết chữ in vào ô chữ
trong vở bài tập
- Mỗi nhóm 1 hs đọc lại tất cả các từ hàng
ngang, hàng dọc và lời giải theo yêu cầu
của gv
- 1 hs đọc yêu cầu của bài, lớp đọc thầm
- 3 hs lên bảng làm mỗi hs 1 ý
- HS nhận xét:
a. Ông em, bố em và chú em đều là thợ mỏ
.
b. Các bạn mới đợc kết nạp vào Đội đều là
con ngoan, trò giỏi.
c. Nhiệm vụ của đội viên là thực hiện 5
điều Bác Hồ dạy, tuân theo điều lệ Đội và
giữ gìn danh dự Đội.
******************************************************
***
Tuần 7: Ngày soạn : 20 / 10 / 2008
Ngày giảng : T5 -23 /10 /2008
Tiết 7 :
ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái
so sánh
I . Mục đích yêu cầu :
- Biết đợc kiểu so sánh mới: so sánh sự vật với con ngời .
- Ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái: tìm đợc các từ chỉ hoạt động, trạng thái
của bài tập đọc Trận bóng dới lòng đờng trong bài tập làm văn cuối tuần 6
II . Đồ dùng dạy học :
- Viết sẵn các câu thơ trong BT1 lên bảng
- Bảng phụ chia thành 2 cột và ghi: Từ chỉ hoạt động / Từ chỉ trạng thái.
III . Phơng pháp:
12
- Đàm thoại, nêu vấn đề, phân tích, giảng giải, thảo luận nhóm, hoạt động cá
nhân .
IV . Các hoạt động dạy học :
A . Ôn định tổ chức :
B . Kiểm tra bài cũ :
- Gọi hs lên bảng làm bài tập:
+ Đặt câu với từ khai giảng.
+ Thêm dấu phẩy vào chỗ chấm trong
đoạn văn sau:
Bạn Ngọc bạn Lan và tôi cùng học lớp
3a .
-GV nhận xét ghi điểm
C. Bài mới:
1. Giới thiệu bài:
- Ghi đầu bài.
2. Hớng dẫn làm bài tập
Bài 1:
- Gọi hs đọc đề bài.
- Y/C học sinh suy nghĩ và làm bài.
- GV chữa bài và cho điểm.
Bài 2:
- Gọi h/s đọc đề bài.
- Hoại động chơi bóng của các bạn đợc kể
ở đoạn truyện nào?
- Vậy muốn tìm các từ chỉ hoạt động chơi
bóng của bạn nhỏ chúng ta cần đọc kĩ
đoạn 1, 2 của bài.
- Y/C học sinh tìm các từ chỉ hoạt động
chơi bóng của các bạn nhỏ?
- GV kết luận lời giải đúng.
- Tiến hoành tơng tự nh phần b.
Bài 3:
- Y/C học sinh tự làm bài
- GV nhận xét .
- Hát
- 2 hs lên bảng làm bài, dới lớp làm vào
giấy nháp:
+ Hôm nay em đi dự khai giảng năm học
mới .
+ Bạn Ngọc, bạn Lan và tôi cùng học
lớp 3a.
- H/s lắng nghe.
- hs nhắc lại đầu bài và viết bài .
- 1 hs đọc đề bài
- 1 hs đọc các câu thơ của bài.
- 4 hs lên bảng làm bài.(gạch chân dới
các hình ảnh so sánh)mỗi học sinh làm
một phần.
- Hs nhận xét
- 2 hs đọc đề bài, lớp đọc thầm.
- Đoạn 1 và đoạn 2.
- 1 hs đọc lại đoạn 1 và 2 của bài Trận
bóng dới lòng đờng.
-1 hs lên bảng làm, lớp làm vào vở.
- hs nhận xét.
+ Cớp bang, bấm bóng, dẫn bóng, chuyền
bóng, dóc bóng, sút bóng, chơi bóng.
- Các từ chỉ thái độ của Quang và các
bạn khi vô tình gây tai nạn cho cụ già là:
hoảng sợ, sợ tái ngời.
- HS đọc đề bài:
- 1 hs đọc từng câu trong bài TLV của
mình .
- 3 hs lên bảng theo dõi bài đọc của
bạnvà ghi các từ chỉ hoạt động trạng thai
có trong từng câu văn lên bảng.
- Lớp nhận xét.
13
3. Củng cố dặn dò:
- Về nhà xem lại bài .
- Nhận xét tiết học .

*****************************************************
****
Tuần 8: Ngày soạn : 20 / 10 / 2008
Ngày giảng : T5 -23 /10 /2008
Tiết 8 :
mở rộng vốn từ : cộng đồng
I . Mục đích yêu cầu :
- Mở rộng vốn từ theo chủ điểm Cộng đồng.
- Ôn tập kiểu câu: Ai ( cái gì - con gì ) - làm gì?
II . Đồ dùng dạy học:
- Bảng viết nội dung các bài tập.
III . Phơng pháp:
- Đàm thoại, nêu vấn đề, phân tích, giảng giải, thảo luận nhóm, hoạt động cá
nhân.
IV. Các hoạt động dạy học :
A. Ôn định tổ chức :
B. Kiểm tra bài cũ :
- Yêu cầu học sinh lên bảng làm lại bài
1, 2 của tiết LTVC tuần trớc .
- Gv nhận xét ghi điểm .
B. Bài mới :
1. Giới thiệu bài: Gv nêu mục tiêu giờ
học và ghi tên bài lên bảng.
2. Mở rộng vốn từ theo chủ điểm Cộng
đồng.
Bài 1:
- Gọi 1 hs đọc yêu cầu.
- Hỏi: Cộng đồng có nghĩa là gì?
- Vậy chúng ta phải xếp từ cộng đồng
vào cột nào?
- Cộng tác có nghĩa là gì?
- Vậy chúng ta xếp từ cộng tác vào cột
nào?
- Yêu cầu hs suy nghĩ và làm bài tập
- Hát
- 2 hs lên bảng làm, cả lớp theo dõi nhận
xét
- HS nghe giới thiệu
- 1 hs đọc đề bài, sau đó 1 hs khác đọc lại
các từ ngữ trong bài.
- Cộng đồng là những ngời cùng sống
trong một tập thể hoặc một khu vực, gắn
bó với nhau.
- Xếp từ cộng đồng vào cột Những ngời
trong cộng đồng.
- Cộng tác có nghĩa là cùng làm chung
một việc.
14

Phố cổ Hà Nội


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Phố cổ Hà Nội": http://123doc.vn/document/570923-pho-co-ha-noi.htm









Như vậy, khu phố cổ Hà Nội thuộc địa bàn
Như vậy, khu phố cổ Hà Nội thuộc địa bàn
quận
quận


Hoàn Kiếm
Hoàn Kiếm
, có 76 tuyến phố thuộc 10
, có 76 tuyến phố thuộc 10
phường, tổng diện tích quy hoạch khu phố cổ
phường, tổng diện tích quy hoạch khu phố cổ
khoảng 100
khoảng 100
ha
ha
: Phường Hàng Đào, Hàng Bạc,
: Phường Hàng Đào, Hàng Bạc,
Hàng Buồm, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Gai,
Hàng Buồm, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Gai,
Hàng Mã, Đồng Xuân, Cửa Đông, Lý Thái Tổ
Hàng Mã, Đồng Xuân, Cửa Đông, Lý Thái Tổ



Kiến trúc cổ của khu phố này là các ngôi nhà nhỏ bé với
Kiến trúc cổ của khu phố này là các ngôi nhà nhỏ bé với
mái
mái
tranh
tranh
hay mái
hay mái
ngói
ngói
, thường có sân chung, lô nhô nối
, thường có sân chung, lô nhô nối
tiếp nhau từ dãy phố này đến dãy phố khác. Khu phố này
tiếp nhau từ dãy phố này đến dãy phố khác. Khu phố này
cũng đã từng là đề tài của nhiều văn nghệ sĩ làm nên
cũng đã từng là đề tài của nhiều văn nghệ sĩ làm nên
những giá trị
những giá trị
văn hóa
văn hóa
ngày nay của Hà Nội. Ngày nay
ngày nay của Hà Nội. Ngày nay
nhiều khu phố đã xuống cấp, phải trùng tu để nâng cấp
nhiều khu phố đã xuống cấp, phải trùng tu để nâng cấp
lại.
lại.

Khu phố cổ cũng là nơi buôn bán sầm uất nhất Hà Nội và
Khu phố cổ cũng là nơi buôn bán sầm uất nhất Hà Nội và
là nơi có nhiều khách du lịch đến thăm.
là nơi có nhiều khách du lịch đến thăm.




Phố Hàng Bạc
Phố Hàng Bạc



N
N
ằm trong
ằm trong
khu phố cổ Hà Nội
khu phố cổ Hà Nội
, là nơi
, là nơi
tập trung những người
tập trung những người
thợ kim hoàn
thợ kim hoàn


giỏi tạo ra nhiều
giỏi tạo ra nhiều
đồ trang sức
đồ trang sức
tinh sảo
tinh sảo
và đẹp, nổi tiếng trong và ngoài
và đẹp, nổi tiếng trong và ngoài
Việt Nam
Việt Nam
. Những đặc điểm nổi bật
. Những đặc điểm nổi bật
của sản phẩm là tạo dáng nghệ thuật,
của sản phẩm là tạo dáng nghệ thuật,
tạo văn (nét chìm, nét nổi) tinh xảo và
tạo văn (nét chìm, nét nổi) tinh xảo và
sinh động.Giữa
sinh động.Giữa
1460
1460


1497
1497
, đây là
, đây là
nơi sinh sống và buôn bán chủ yếu của
nơi sinh sống và buôn bán chủ yếu của
các thợ kim hoàn. Vào
các thợ kim hoàn. Vào
thế kỷ 19
thế kỷ 19
, dù
, dù
việc buôn bán ở đây không còn phát
việc buôn bán ở đây không còn phát
triển như trước do kinh thành đã
triển như trước do kinh thành đã
chuyển về
chuyển về
Huế
Huế
, người ta vẫn có thể
, người ta vẫn có thể
tìm thấy ở đây nhiều cửa hàng bán đồ
tìm thấy ở đây nhiều cửa hàng bán đồ
nữ trang
nữ trang
bằng
bằng
bạc
bạc
.
.






Phố Hàng Quạt "1912"
Phố Hàng Quạt "1912"



Phố Hàng Quạt hiện nay là một phần phố Eventails
Phố Hàng Quạt hiện nay là một phần phố Eventails
cũ thời Pháp thuộc, đoạn giới hạn từ Lương Văn Can
cũ thời Pháp thuộc, đoạn giới hạn từ Lương Văn Can
đến Hàng Nón.
đến Hàng Nón.

Phố này thuộc đất thôn Tố Tịch và Thuận Mỹ, tổng Tiền
Phố này thuộc đất thôn Tố Tịch và Thuận Mỹ, tổng Tiền
Túc, huyện Thọ Xương cũ
Túc, huyện Thọ Xương cũ





Hàng Quạt nửa phía đông, gồm nhiều nhà vừa làm vừa
Hàng Quạt nửa phía đông, gồm nhiều nhà vừa làm vừa
bán quạt của dân Đào Xá, tỉnh Hải Hưng.
bán quạt của dân Đào Xá, tỉnh Hải Hưng.



Ở phía tây, có tên là phố Hàng Đàn có nhiều nhà
Ở phía tây, có tên là phố Hàng Đàn có nhiều nhà
làm và bán các loại đàn. Trước kia ở phố Hàng Đàn này
làm và bán các loại đàn. Trước kia ở phố Hàng Đàn này
gần như không có nhà nào có cửa hàng lớn, mà chỉ có
gần như không có nhà nào có cửa hàng lớn, mà chỉ có
những gia đình thợ thủ công sống về nghề mộc.
những gia đình thợ thủ công sống về nghề mộc.




Phố Hàng Đào
Phố Hàng Đào

Hàng Đào vẫn được coi là phố chính của Hà Nội. Phố Hàng Đào là nơi buôn bán
Hàng Đào vẫn được coi là phố chính của Hà Nội. Phố Hàng Đào là nơi buôn bán
lụa là vóc nhiễu với nhiều màu sắc đẹp đẽ, và người Hàng Đào vẫn được tiếng là
lụa là vóc nhiễu với nhiều màu sắc đẹp đẽ, và người Hàng Đào vẫn được tiếng là
người thanh lịch, con người của “kinh kỳ” kiểu cách đến thành cầu kỳ hào
người thanh lịch, con người của “kinh kỳ” kiểu cách đến thành cầu kỳ hào
nhoáng.
nhoáng.

Là phố buôn bán có từ lâu đời và buôn bán những thứ hàng đắt tiền, Phố Hàng
Là phố buôn bán có từ lâu đời và buôn bán những thứ hàng đắt tiền, Phố Hàng
Đào có nhiều nhà giàu, vốn liếng to. Có những gia đình sinh sống qua nhiều thế
Đào có nhiều nhà giàu, vốn liếng to. Có những gia đình sinh sống qua nhiều thế
hệ ở phố Hàng Đào. Những gia đình nhà nho quan lại quý tộc thường thông gia
hệ ở phố Hàng Đào. Những gia đình nhà nho quan lại quý tộc thường thông gia
với nhau; nhà giàu kén rể làm quan để thêm danh giá, cũng như người ta đã có
với nhau; nhà giàu kén rể làm quan để thêm danh giá, cũng như người ta đã có
danh vị muốn có vợ nhà giàu. Cho cả mãi đến những năm thập niên 30 - 40 mới
danh vị muốn có vợ nhà giàu. Cho cả mãi đến những năm thập niên 30 - 40 mới
đây, con gái Hàng Đào còn truyền nhau khẩu hiệu: “Phi cao đẳng bất thành phu
đây, con gái Hàng Đào còn truyền nhau khẩu hiệu: “Phi cao đẳng bất thành phu
phụ”, con gái Hàng Đào khá đông trở thành bà Phủ bà huyện, vợ bác sĩ kỹ sư,
phụ”, con gái Hàng Đào khá đông trở thành bà Phủ bà huyện, vợ bác sĩ kỹ sư,
dược sĩ, xoàng thì cũng là bà tham bà phán. Mà con gái Hàng Đào vẫn được tiếng
dược sĩ, xoàng thì cũng là bà tham bà phán. Mà con gái Hàng Đào vẫn được tiếng
là xinh đẹp, ăn mặc lịch sự, thêm là con nhà gia thế.
là xinh đẹp, ăn mặc lịch sự, thêm là con nhà gia thế.





Hàng Đào thời kỳ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 còn là
Hàng Đào thời kỳ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 còn là
phố chỉ buôn tơ. Nghề buôn tơ sống cốt tinh mắt đánh
phố chỉ buôn tơ. Nghề buôn tơ sống cốt tinh mắt đánh
giá được chất lượng khi tơ chưa khô, mua thế nào để có
giá được chất lượng khi tơ chưa khô, mua thế nào để có
lãi; các bà mới giàu kinh nghiệm. Những nhà buôn thuần
lãi; các bà mới giàu kinh nghiệm. Những nhà buôn thuần
tơ không mở cửa hàng. Hàng mua cất trong nhà, người
tơ không mở cửa hàng. Hàng mua cất trong nhà, người
các làng Hà Đông mua về dệt, vào tận trong nhà xem
các làng Hà Đông mua về dệt, vào tận trong nhà xem
hàng ăn giá. Cửa hàng tấm cũng đơn giản: ngả cánh cửa
hàng ăn giá. Cửa hàng tấm cũng đơn giản: ngả cánh cửa
lùa kê lên mễ, bên ngoài bày vài cái thạp chè cũ, trên treo
lùa kê lên mễ, bên ngoài bày vài cái thạp chè cũ, trên treo
những giải lụa màu sặc sỡ. Bên trên cửa có chiếc màn vải
những giải lụa màu sặc sỡ. Bên trên cửa có chiếc màn vải
che nắng. Quanh tường là tủ đựng hàng, trong xếp những
che nắng. Quanh tường là tủ đựng hàng, trong xếp những
cuốn vác nhiễu giả ( chỉ có lượt ngoài trong là lõi giấy)
cuốn vác nhiễu giả ( chỉ có lượt ngoài trong là lõi giấy)
làm quản cáo, còn hàng thật thì đựng trong những bao
làm quản cáo, còn hàng thật thì đựng trong những bao
sơn để ở trong cùng, có khách hỏi mua mới lấy ra. Các
sơn để ở trong cùng, có khách hỏi mua mới lấy ra. Các
bà các cô bán hàng ngồi trên bục bên trong
bà các cô bán hàng ngồi trên bục bên trong
.
.




HÀNG GAI
HÀNG GAI

Đến Hàng Gai. Phố Hàng Gai là một phố lớn của Hà Nội,
Đến Hàng Gai. Phố Hàng Gai là một phố lớn của Hà Nội,
đi từ quảng trường "Đông Kinh Nghĩa Thục" đến Hàng
đi từ quảng trường "Đông Kinh Nghĩa Thục" đến Hàng
Hài, Hàng Bông. Cây gai là một cây lá dùng làm bánh gai,
Hài, Hàng Bông. Cây gai là một cây lá dùng làm bánh gai,
vỏ có sợi tốt và bền - tồt hơn đay. Bạc giấy làm bằng vỏ
vỏ có sợi tốt và bền - tồt hơn đay. Bạc giấy làm bằng vỏ
gai là tốt nhất. Cây gai làm những thứ chiếm một khoảng
gai là tốt nhất. Cây gai làm những thứ chiếm một khoảng
lớn trong cuộc đời trước nay. Trước hết, sợi gai làm võng.
lớn trong cuộc đời trước nay. Trước hết, sợi gai làm võng.
Cái võng của "cáng", cái võng đung đưa ở mỗi nhà, để ru
Cái võng của "cáng", cái võng đung đưa ở mỗi nhà, để ru
trẻ ngủ và để các cụ già ngả lưng cái "võng trần" của đám
trẻ ngủ và để các cụ già ngả lưng cái "võng trần" của đám
rước các quan. Cái võng nó đẻ ra mục "móc võng" của
rước các quan. Cái võng nó đẻ ra mục "móc võng" của
Hàng Tiện, mục "đanh võng" ở Lò Rèn. Rồi tử cái lưới,
Hàng Tiện, mục "đanh võng" ở Lò Rèn. Rồi tử cái lưới,
cái vó đánh cá, đến cái túi đi chợ, như cái làn bây giờ .
cái vó đánh cá, đến cái túi đi chợ, như cái làn bây giờ .
Đến mục thừng chão, từ cái dây "tam cố" đến dây chuối,
Đến mục thừng chão, từ cái dây "tam cố" đến dây chuối,
dây gai. ấy thế mà từ bấy đến giờ , chúng ta không thấy
dây gai. ấy thế mà từ bấy đến giờ , chúng ta không thấy
hàng bán gai nào ở phố Hàng Gai nữa.
hàng bán gai nào ở phố Hàng Gai nữa.
Không biết từ lúc
Không biết từ lúc
nào, các hàng bán gai đã phải lùi đến phố hàng Bát Đàn
nào, các hàng bán gai đã phải lùi đến phố hàng Bát Đàn






Hàng Cân
Hàng Cân

Hàng Cân là một phố ngắn đo được độ một trăm mét. Hàng
Hàng Cân là một phố ngắn đo được độ một trăm mét. Hàng
Cân là tên mới có hồi đầu thuộc Pháp ( rue des Balances).
Cân là tên mới có hồi đầu thuộc Pháp ( rue des Balances).
Trước kia, đoạn đầu phía bắc phố này ta thường gọi là Hàng
Trước kia, đoạn đầu phía bắc phố này ta thường gọi là Hàng
Sơn dưới, chỗ phố Chả Cá hiện nay là Hàng Sơn trên ( người
Sơn dưới, chỗ phố Chả Cá hiện nay là Hàng Sơn trên ( người
Pháp gọi là rue de la Laque).
Pháp gọi là rue de la Laque).



Khi còn sông Tô Lịch, thuyền chở sơn Phú Thọ về Hà Nội,
Khi còn sông Tô Lịch, thuyền chở sơn Phú Thọ về Hà Nội,
ghé ở khúc này, hai bên bờ có nhiều nhà buôn sơn. Sông Tô
ghé ở khúc này, hai bên bờ có nhiều nhà buôn sơn. Sông Tô
Lịch bị lấp thì thuyền buôn sơn ghé ở bến Lò Sũ và sơn bán
Lịch bị lấp thì thuyền buôn sơn ghé ở bến Lò Sũ và sơn bán
nhiều ở phố Cầu Gỗ, Hàng Bè, Hàng Dầu. ở phố này, xuất
nhiều ở phố Cầu Gỗ, Hàng Bè, Hàng Dầu. ở phố này, xuất
hiện một số cửa hàng làm và bán cân nên gọi là phố Hàng
hiện một số cửa hàng làm và bán cân nên gọi là phố Hàng
Cân.
Cân.

Phố Hàng Cân có quang cảnh khác với Hàng Ngang, Hàng
Phố Hàng Cân có quang cảnh khác với Hàng Ngang, Hàng
Bồ và phố Phúc Kiến ( nay là phố Lãn Ông) cùng mấy phố
Bồ và phố Phúc Kiến ( nay là phố Lãn Ông) cùng mấy phố
chung quanh liền đấy.
chung quanh liền đấy.




Hàng Thùng
Hàng Thùng

Phố Hàng Thùng có chiều dài hai
Phố Hàng Thùng có chiều dài hai
trăm hai mươi mét, đã thay đổi tên
trăm hai mươi mét, đã thay đổi tên
gọi nhiều lần: Rue Foutcheou ( phố
gọi nhiều lần: Rue Foutcheou ( phố
Phúc Châu), sau họ chia đôi, phần
Phúc Châu), sau họ chia đôi, phần
phía đông là phố Rondony và phần
phía đông là phố Rondony và phần
phía tây là phố Hàng Thùng ( Rue
phía tây là phố Hàng Thùng ( Rue
des Seaux). Sở dĩ họ gọi riêng ra
des Seaux). Sở dĩ họ gọi riêng ra
như thế vì nửa phố bên ngoài cửa ô
như thế vì nửa phố bên ngoài cửa ô
Đông Yên giáp Bờ Sông là nơi bán
Đông Yên giáp Bờ Sông là nơi bán
gỗ cây, gỗ phiến cùng với chợ tre
gỗ cây, gỗ phiến cùng với chợ tre
nửa ở giáp Hàng Tre, còn đoạn phố
nửa ở giáp Hàng Tre, còn đoạn phố
bên trong cửa ô có nghề ghép thùng
bên trong cửa ô có nghề ghép thùng
bằng tre, nguyên liệu là tre nứa vầu
bằng tre, nguyên liệu là tre nứa vầu
mua ở dưới bè ngoài sông;
mua ở dưới bè ngoài sông;







Hàng Thùng là tên gọi thông thường cũ của ta. Tên Hàng Thùng vẫn tồn tại,
Hàng Thùng là tên gọi thông thường cũ của ta. Tên Hàng Thùng vẫn tồn tại,
là vì cho mãi đến những năm ba mươi, ở Hà Nội nhiều nhà không đặt máy nước
là vì cho mãi đến những năm ba mươi, ở Hà Nội nhiều nhà không đặt máy nước
trong nhà, nước ăn nước rửa đều lấy ở giếng đào trong sân hoặc thuê người lấy
trong nhà, nước ăn nước rửa đều lấy ở giếng đào trong sân hoặc thuê người lấy
ở vòi nước công cộng hay thuê gánh từ sông về; nước sông phải đánh phèn chua
ở vòi nước công cộng hay thuê gánh từ sông về; nước sông phải đánh phèn chua
mua ở phố Hàng Phèn. Thùng gánh nước làm bằng tre nứa ghép rồi gắn sơn
mua ở phố Hàng Phèn. Thùng gánh nước làm bằng tre nứa ghép rồi gắn sơn
sống. Về sau người Hà Nội dùng đèn thắp sắng bằng dầu hoả, những thùng sắt
sống. Về sau người Hà Nội dùng đèn thắp sắng bằng dầu hoả, những thùng sắt
tây đựng dầu cũ được đóng đai làm thùng sắt tây bán ở phố Hàng Thiếc. Nghề
tây đựng dầu cũ được đóng đai làm thùng sắt tây bán ở phố Hàng Thiếc. Nghề
làm thùng tre không kiếm ăn được, những cửa hàng làm và bán thùng tre ít dần
làm thùng tre không kiếm ăn được, những cửa hàng làm và bán thùng tre ít dần
rồi mất hẳn.
rồi mất hẳn.

Phố Rondony ( nửa phía đông Hàng Thùng) từ trước vẫn có nhiều cửa hàng gỗ,
Phố Rondony ( nửa phía đông Hàng Thùng) từ trước vẫn có nhiều cửa hàng gỗ,
nghề này phát triển mạnh và nhà buôn làm giàu nhanh chóng, cửa hàng gỗ lan
nghề này phát triển mạnh và nhà buôn làm giàu nhanh chóng, cửa hàng gỗ lan
vào nửa phố phía trong cửa ô. Ngoài gỗ phiến, gỗ tấm người ta làm cả đồ gỗ
vào nửa phố phía trong cửa ô. Ngoài gỗ phiến, gỗ tấm người ta làm cả đồ gỗ
thành phẩm như giường tủ bàn ghế chạn bát và bán cả áo quan. Người có tiền
thành phẩm như giường tủ bàn ghế chạn bát và bán cả áo quan. Người có tiền
cải tạo những nhà cổ xây nhà mới cao rộng đẹp hơn.
cải tạo những nhà cổ xây nhà mới cao rộng đẹp hơn.



Sau năm tháng 8 năm 1945, Hàng Thùng gồm cả hai đoạn và có tên là
Sau năm tháng 8 năm 1945, Hàng Thùng gồm cả hai đoạn và có tên là
phố Bình Chuẩn; đến năm 1948 trở lại tên cũ là phố Hàng Thùng
phố Bình Chuẩn; đến năm 1948 trở lại tên cũ là phố Hàng Thùng







Hàng Hòm
Hàng Hòm



Phố Hàng Hòm
Phố Hàng Hòm
dài một trăm hai mươi
dài một trăm hai mươi
mét ở trên đất cũ thôn
mét ở trên đất cũ thôn
Cổ Vũ. Vào khoảng
Cổ Vũ. Vào khoảng
giữa thế kỷ 18, một số
giữa thế kỷ 18, một số
người làng Hà Vĩ (phủ
người làng Hà Vĩ (phủ
Thường Tín - Hà
Thường Tín - Hà
Đông) có nghề cổ
Đông) có nghề cổ
truyền làm đồ gỗ sơn,
truyền làm đồ gỗ sơn,
ra Hà Nội lập nghiệp,
ra Hà Nội lập nghiệp,
đến ở phố này.
đến ở phố này.