Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế trên địa bàn tỉnh lạng sơn


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế trên địa bàn tỉnh lạng sơn": http://123doc.vn/document/1051200-mot-so-y-kien-nham-nang-cao-hieu-qua-chi-ngan-sach-nha-nuoc-cho-su-nghiep-y-te-tren-dia-ban-tinh-lang-son.htm


Luận văn tốt nghiệp
dịch vụ y tế thì mức độ chi NSNN cho sự nghiệp y tế là rất lớn. ở nớc ta việc
cung cấp dịch vụ y tế đợc tổ chức theo bốn cấp: Cấp một là Bệnh viện Trung -
ơng và các Bệnh viện chuyên khoa do Bộ y tế trực tiếp quản lý; cấp hai là các
Bệnh viện tỉnh; cấp ba là các phòng khám đa khoa khu vực là các Bệnh viện
huyện; cấp bốn là các trung tâm y tế xã.
Tuy vậy, trong nền kinh tế thị trờng Nhà nớc không phải là ngời duy
nhất cung cấp dich vụ y tế mà những khoản thanh toán bằng tiền túi của các
hộ gia đình tăng mạnh, do đó, mức độ chi NSNN cho sự nghiệp y tế giảm đi
rất nhiều khi Nhà nớc cung cấp dịch vụ y tế cho mọi đối tợng trong xã hội.
1.2-Vai trò và Nguyên tắc chi NSNN cho sự nghiệp y tế.
1.2.1-Vai trò.
Chi NSNN cho sự nhiệp y tế có ý nghĩa to lớn đối với quá trình phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia, bên cạnh đó chi NSNN cho sự nghiệp y tế còn
đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội và giải quyết
các vấn đề xã hội.
Hoạt động của ngành y tế có ảnh hởng lớn đến sức khoẻ của mỗi ng-
ời dân mà sức khoẻ là tiền đề tạo ra trí tuệ, tài sản quí giá nhất trong các tài
sản.Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia, quốc gia nào có
lợi thế về nguồn nhân lực ( Sức khoẻ và trình độ chuyên môn ) sẽ có lợi thế rất
lớn trong quá trình phát triển và xẽ phát triển nhanh hơn các quốc gia hạn chế
về điều kiện này. Tốc độ phát triển kinh tế xã hội phụ thuộc rất lớn vào trình
độ, năng lực chuyên môn của mỗi ngời lao động, đội ngũ lao động không nắm
vững khoa học công nghệ hiện đại, không có những phẩm chất nhân cách phù
hợp với công việc thì rất khó có thể nâng cao trình độ sản xuất và tốc độ phát
triển kinh tế. Qua đó ta thấy chi NSNN cho sự nghiệp y tế không chỉ là một
Học viện tài chính - 5 -
Luận văn tốt nghiệp
dịch vụ xã hội đơn thuần mà nó có tác động rất lớn đến sự phát triển của một
quốc gia. Xuất phát từ vai trò kinh tế to lớn của chi NSNN cho sự nghiệp y tế
đòi hỏi có sự quản lý sao cho thật phù hợp để với một khoản chi nhất định nh-
ng chất lợng và hiệu quả của hoạt động kinh tế mang lại là lớn nhất.
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế còn có một vai trò xã hội rất lớn và cũng
rất dễ nhận biết đó là thực hiện công bằng xã hội. Trong xã hội ta, sự phân
biệt giàu nghèo còn khá lớn đó cũng là một quy luật tất yếu của nền kinh tế
vận hành theo cơ chế thị trờng. Những ngời giàu thì khả năng thanh toán bằng
tiền túi của họ cho dịch vụ y tế là rất cao, điều kiện chăm sóc sức khoẻ tốt.
Bên cạnh đó còn một tầng lớp ngời nghèo có nguy cơ bị thiệt thòi không đợc
khám chữa bệnh khi ốm đau.
Theo số liệu điều tra mức sống dân c Việt nam có đợc chỉ ra rằng
những ngời sử dụng bệnh viện công chủ yếu thuộc nhóm 20% có thu nhập cao
nhất, còn những ngời sử dụng trạm y tế xã lại thuộc nhóm 20% nghèo nhất,
nguyên nhân của tình trạng này là hầu hết các bệnh viện đều đặt ở thành thị
thuận lợi hơn cho ngơì dân thành thị đến khám chữa bệnh, bên cạnh đó chi phí
trực tiếp của cá nhân cho việc sử dụng các dịch vụ ở bệnh viện là lớn nên th-
ờng những cá nhân có thu nhập khá hơn sử dụng.
Do việc mở rộng phạm vi của Bảo hiểm y tế đã củng cố thêm tình trạng
trên vì các cá nhân có BHYT thờng khá giả hơn những ngời không có BHYT,
cơ quan Bảo hiểm nói chung là thanh toán cho các chi phí bệnh viện chứ
không trả cho các chi phí khám bệnh tại các trạm y tế xã. Do đó, chi NSNN
cho sự nghiệp y tế là để đảm bảo cho mọi ngời dân đều đợc chăm sóc sức
khoẻ ở một mức độ cơ bản theo khả năng tối đa của NSNN. Thông qua các
chính sách để hỗ trợ u tiên cho ngời nghèo không có khả năng chi trả cho dịch
vụ y tế cũng chính là đảm bảo sự công bằng cho các thành viên trong xã hội.
Học viện tài chính - 6 -
Luận văn tốt nghiệp
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế còn nhằm duy trì, phát triển những chủ
trơng, chính sách và đờng lối của Đảng và Nhà nớc về chăm sóc sức khoẻ cho
nhân dân, hơn nữa đó cũng là chiến lợc để đạt đợc mục tiêu về phát triển Kinh
tế, xã hội của Đảng và Nhà nớc đã đề ra thông qua việc xác định cơ cấu, tỷ
trọng các khoản chi cho sự nghiệp y tế.
Qua chi NSNN cho nghiệp y tế, Nhà nớc kiểm tra đợc việc sử dụng
các khoản chi cho hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân nói riêng và chi
NSNN nói chung, từ hoạt động kiểm tra đó sẽ tạo lòng tin cho nhân dân, thu
hút đợc sự đóng góp của các tầng lớp trong xã hội, đẩy mạnh xã hội hoá sự
nghiệp y tế , phát huy một cách tối đa hiệu quả các khoản chi của NSNN cho
sự nghiệp y tế thực hiện một cách tốt nhất các mục tiêu đã đề ra .
Trên đây là một số vai trò cơ bản của chi NSNN cho sự nghiệp y tế,
song để phát huy tốt các vai trò này thì đòi hỏi công tác quản lý chi NSNN
cho sự nghiệp y tế phải đợc tăng cờng và hoàn thiện.
1.2.2-Nguyên tắc chi NSNN cho sự nghiệp y tế.
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là khoản chi thờng xuyên của NSNN
cho nên quá trình tổ chức quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế cũng phải tuân
theo nguyên tắc của các khoản chi thờng xuyên nhằm nâng cao hiệu quả chi,
tiết kiệm chi NSNN trong điều kiện NSNN còn eo hẹp , đó là:
Nguyên tắc quản lý theo dự toán :
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế phải đợc thực hiện theo dự toán,đây là
nguyên tắc bắt buộc của một chu trình Ngân sách. Mọi nhu cầu chi cho sự
nghiệp y tế phải đợc xác định trong dự toán kinh phí từ các đơn vị cơ sở.
Thông qua các bớc xét duyệt cuả các cơ quan quyền lực Nhà nớc từ thấp đến
cao, sau đó quyết định cuối cùng cho dự toán chi thờng xuyên thuộc về Quốc
Học viện tài chính - 7 -
Luận văn tốt nghiệp
hội. Quá trình tổ chức thực hiện chi cho sự nghiệp y tế cũng phải căn cứ vào
dự toán đã đợc duyệt mà phân bổ và sử dụng, khâu cuối cùng là khâu quyết
toán cũng phải lấy dự toán làm căn cứ đối chiếu và so sánh.
Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả:
Tiết kiệm, hiệu quả là nguyên tắc quan trọng của quản lý kinh tế tài
chính và quản lý các khoản chi thờng xuyên trong đó có chi cho sự nghiệp y
tế. NSNN luôn có giới hạn nhng yêu cầu chi cho các lĩnh vực không ngừng
tăng lên với tốc độ cao. Chi NSNN cho sự nghiệp y tế cũng vậy, cùng với sự
phát triển dân số, những nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân ngày càng
cao cùng với sự phát triển của nền khoa học đòi hỏi không ngừng phải trang bị
lại thiết bị y tế, cơ sở vật chất, . . . Đòi hỏi chi NSNN cho sự nghiệp y tế ngày
càng tăng. Trong khi đó Nhà nớc không thể tăng chi NSNN cho sự nghiệp y tế
cùng với một tốc độ nh vậy, do đó trong quá trình chi đòi hỏi phải quán triệt
nguyên tắc này để đáp ứng đợc nhu cầu chi tiêu thờng xuyên.
Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nớc:
Các khoản chi NSNN cho sự nghiệp y tế phải đợc thực hiện chi trực tiếp
qua Kho bạc Nhà nớc nhằm nâng cao việc kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi
cho sự nghiệp y tế. Thực hiện kiểm soát chi NSNN sẽ nâng cao trách nhiệm,
cũng nh phát huy vai trò của các ngành, các cấp, các cơ quan đơn vị có liên
quan đến công tác quản lý và sử dụng NSNN góp phần lập lại kỷ cơng tài
chính.
1.3-Nội dung chi NSNN cho sự nghiệp y tế.
Học viện tài chính - 8 -
n
i=1
Luận văn tốt nghiệp
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế bao gồm các nhóm mục: Chi cho con
ngời; chi cho nghiệp vụ chuyên môn; chi cho công tác quản lý hành chính; chi
cho mua sắm tài sản, sửa chữa lớn tài sản cố định hoặc xây dựng nhỏ.
*Chi cho con ngời:
Là khoản chi cho các nhu cầu về đời sống, sinh hoạt cho cán bộ, Y
Bác sỹ nhằm duy trì sự hoạt động bình thờng của các Bệnh viện, trung tâm y
tế, trạm xá . . . nhóm chi này trong kỳ kế hoạch đợc xác định dựa trên số cán
bộ công nhân viên bình quân dự kiến có mặt trong kỳ kế hoạch và mức chi
bình quân cho một cán bộ công nhân viên dự kiến trong kỳ kế hoạch:
C
CN
= (m
CN
x s
CN
)

Trong đó: C
CN
: Số kinh phí Công nhân viên dự kiến kỳ kế hoạch của
NSNN cho sự nghiệp y tế.
M
CN
: Mức chi bình quân một cán bộ, y bác sỹ kỳ kế hoạch
của ngành y tế.
S
CN
: Số Công nhân viên bình quân dự kiến có mặt năm kế
hoạch thuộc ngành y tế.
Cách xác định: M
CN
thờng đợc dựa vào mức chi thực tế của kỳ báo cáo,
đồng thời có tính đến những điều chỉnh có thể xảy ra về mức lơng phụ cấp và
một số khoản khác mà Nhà nớc dự kiến thay đổi.
Học viện tài chính - 9 -
Số cán bộ y,
bác sỹ có mặt
cuối năm báo
cáo
Số cán bộ y, bác
sỹ dự kiến tăng
bình quân năm kế
hoạch
Số cán bộ y, bác
sỹ dự kiến giảm
bình quân năm kế
hoạch
+

=
S
CN
i=1
n
Luận văn tốt nghiệp

*Chi cho nghiệp vụ chuyên môn.
Là khoản chi đáp ứng kinh phí cho việc mua sắm thuốc men, thiết bị y
tế, . . đáp ứng những nhu cầu về khám chữa bệnh và phòng bệnh. Số chi cho
nhóm mục này dự kiến kỳ kế hoạch là tổng số chi dự kiến của các mục chi kể
trên.
*Chi quản lý hành chính.
Các hoạt động hành chính nhằm duy trì sự hoạt động bình thờng của
bộ máy quản lý hành chính ngành y tế. Các khoản chi này gồm: chi trả tiền
điện, tiền nớc, chi phí thông tin liên lạc, chi hội nghị, chi công tác phí, . .Số
chi kinh phí quản lý hành chính thờng đợc dựa vào số cán bộ y, bác sỹ bình
quân và mức chi quản lý bình quân một cán bộ, y bác sỹ kỳ kế hoạch.
C
QL
= (m
QL
x s
CN
)

Trong đó: C
QL
: Chi phí quản lý hành chính của ngành y tế.
Học viện tài chính - 10 -
Số cán bộ y,
bác sỹ dự kiến tăng
bình quân
năm kế hoạch
=
Số cán bộ y, bác sỹ
dự kiến tuyển dụng
Số tháng làm việc
12
x
Số cán bộ y,
bác sỹ dự kiến tăng
bình quân
năm kế hoạch
=
Số cán bộ y, bác sỹ dự
kiến nghỉ theo chế độ
Số tháng làm việc
x
12
i=1
n
Luận văn tốt nghiệp
M
QL
: Mức chi quản lý hành chính bình quân một cán bộ
y,
bác sỹ dự kiến kỳ kế hoạch của ngành y tế.
S
CN
: Số cán bộ y, bác sỹ bình quân dự kiến có mặt trong năm
kế hoạch thuộc ngành y tế.
Căn cứ xác định M
QL
là dựa vào mức chi quản lý hành chính thực tế
bình quân một cán bộ y, bác sỹ kỳ báo cáo, khả năng nguồn vốn của NSNN
kỳ kế hoạch và yêu cầu chi tiêu tiết kiệm trong quản lý hành chính.
*Chi mua sắm, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ.
Là khoản chi nhằm mua sắm thêm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị
sử dụng của những tài sản cố định, những cơ sở vật chất đã xuống cấp ở các
đơn vị y tế nhng chủ yếu là mua sắm và sửa chữa. Số chi cho nhóm này đợc
căn cứ vào thực trạng tài sản đã sử dụng tại mỗi đơn vị thông qua các số liệu
quyết toán kinh phí kết hợp với điều tra thực tế. Một căn cứ nữa đó là dựa vào
khả năng của nguồn vốn NSNN dự kiến có thể dành cho mua sắm, sửa chữa
lớn và xây dựng nhỏ.
Mức chi cho mua sắm, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ đợc xác định
dựa vào tỷ lệ phần trăm trên nguyên giá Tài sản cố định hiện có tại mỗi đơn vị
y tế.
C
MS

= (NG x T)
Trong đó: C
MS
: Số chi cho mua sắm , sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ của
NSNN dự kiến kỳ kế hoạch cho ngành y tế.
Học viện tài chính - 11 -
Luận văn tốt nghiệp
NG: Nguyên giá tài sản cố định hiện có của ngành y tế.
T : tỷ lệ phần trăm đợc áp dụng để xác định kinh phí dự kiến
chi cho mua sắm, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ của ngành y tế.
1.4. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả chi NSNN cho sự nghiệp y tế.
Nhân tố con ngời giữ vai trò trung tâm trong quá trình phát triển ở mỗi
quốc gia, ở nớc ta yếu tố con ngời vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá
trình phát triền kinh tế xã hội, do vậy chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân có một
vai trò to lớn không thể phủ nhận. Trong quản lý chi NSNN nói riêng cũng nh
quản lý Tài chính Nhà nớc nói chung thì tính hiệu quả luôn đợc coi trọng, đặc
biệt trong quản lý chi NSNN tính tiết kiệm, hiệu quả là một nguyên tắc quan
trọng, do nguồn lực luôn luôn có hạn nhng nhu cầu chi thì vô hạn, từ thực tế
đó đòi hỏi công tác quản lý chi NSNN phải làm sao với một nguồn lực nhất
định nhng kết quả mang lại là lớn nhất, để có thể thực hiện đợc nh vậy thì tính
hiệu quả của các khoản chi phải luôn đợc coi trọng. Nâng cao hiệu quả của
các khoản chi thờng xuyên sẽ làm giảm chi NSNN cho chi thờng xuyên từ đó
sẽ tạo điều kiện đầu t nhiều hơn vào chi đầu t phát triển.
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là một bộ phận trong các khoản chi thờng
xuyên mà NSNN phải đảm bảo, do vậy nâng cao hiệu quả các khoản chi thờng
xuyên cũng đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu quả chi cho sự nghiệp y tế. Bên
cạnh đó, nâng cao hiệu quả chi NSNN cho sự nghiệp y tế - một trong những
lĩnh vực mà sự công bằng xã hội có thể nhìn nhận một cách rất rõ nét thì nó
cũng có vai trò rất lớn trong việc mang lại niềm tin cho nhân dân và sự nghiệp
y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân của Đảng và Nhà nớc ta.
Ngoài những vấn đề lý luận nh trên, thực tiễn cơ chế quản lý NSNN ở
nớc ta còn có những điểm cha thật hợp lý nh trong quá trình lập dự toán, chấp
Học viện tài chính - 12 -
Luận văn tốt nghiệp
hành, quyết toán NSNN cha sát với tình hình thực tế. Các đơn vị thụ hởng
NSNN luôn coi NSNN nh một quỹ chung cho nên luôn tìm cách nhận đợc thật
nhiều từ NSNN dẫn đến còn nhiều lãng phí trong quá trình sử dụng, có đơn vị
phải chạy kinh phí cuối năm. Hiệu quả chi tiêu cha đợc đánh giá đúng mức
do thiếu các chỉ tiêu đánh giá cụ thể, thông tin về hoạt động chi tiêu ở mức chi
tiết chỉ đợc tổng hợp và đối chiếu sau khi đã kết thúc năm ngân sách. Việc
phân bổ kinh phí của các chơng trình mục tiêu y tế quốc gia còn dàn đều và
cha tính đến đặc điểm bệnh tật của từng địa phơng.
Cơ cấu chi tiêu công cho sự nghiệp y tế còn cha công bằng do Nhà nớc
cấp cho các bệnh viện có phần nào u đãi hơn, nơi mà ngời có thu nhập cao sử
dụng nhiều. Trong khi đó những cơ sở y tế mà ngời nghèo hay sử dụng hơn
nh các trạm y tế xã thì trợ cấp từ NSNN hạn chế hơn.
Chi cho hoạt động chữa bệnh lớn hơn hoạt động phòng bệnh, phản ánh
phân bổ chi tiêu của các tỉnh cha thể hiện đợc các chính sách cho Trung ơng
đề ra. Nói tóm lại, những khoản chi NSNN cho sự nghiệp y tế cha thực sự đáp
ứng đợc những nhu cầu của xã hội về công tác khám chữa bệnh, công tác
phòng bệnh, yêu cầu hiện đại hoá công tác y tế. Nói một cách khác hiệu quả
chi NSNN cho sự nghiệp y tế trong giai đoạn hiện nay cha cao. Do vậy đòi hỏi
nâng cao hiệu quả chi NSNN cho sự nghiệp y tế là hết sức cần thiết và làm thế
nào để nâng cao hiệu quả chi NSNN cho sự nghiệp y tế nói riêng và chi NSNN
nói chung luôn là một câu hỏi lớn đối với các nhà quản lý Tài chính Nhà nớc.
Tóm lại, Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là một khoản chi nhằm đảm bảo
duy trì và phát triển sự nghiệp y tế. Khoản chi này có đặc điểm là luôn mang
tính ổn định khá rõ nét, xét về hiệu quả lâu dài thì mang tính tích luỹ trong t-
Học viện tài chính - 13 -
Luận văn tốt nghiệp
ong lai và phạm vi và mức độ chi phụ thuộc vào cơ cấu, tổ chức bộ máy
nghành y tế và sự lựa chọn của Nhà nớc trong việc cung cấp dịch vụ y tế cho
nhân dân.
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế có vai trò lớn trong việc phát triển kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia và góp phần thực hiện công bằng xã hội. Do đó, quản
lý các khoản chi này cũng phải tuân thủ các nguyên tắc chi đó là nguyên tắc
quản lý chi theo dự toán, nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả và nguyên tắc chi trực
tiếp qua Kho bạc Nhà nớc. Chi NSNN cho sự nghiệp y tế bao gồm nhiều nội
dung khác nhau, nh các khoản chi cho con ngời, các khoản chi cho nghiệp vụ
chuyên môn, các khoản chi quản lý hành chính và các khoản chi mua sắm, sửa
chữa lớn và xây dựng nhỏ. Xuất phát từ vai trò của chi NSNN cho sự nghiệp y
tế và tính phức tạp trong quản lý cũng nh những tồn tại của công tác quản lý
trong thời gian qua đòi hỏi phải không ngừng tăng cờng công tác quản lý chi
NSNN cho sự nghiệp y tế.
Học viện tài chính - 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét