I. Tổng quan về kế toán Đức
Chế độ kế toán Đức nói chung được quy định trong luật thương mại Đức
('Handelsgesetzbuch'-HGB-), áp dụng cho tất cả các hình thức pháp lý của nền kinh tế
như các công ty, quan hệ đối tác và các tổ chức khép kín. Nguyên tắc kế toán quan
trọng được hệ thống hóa trực tiếp trong Luật Thương mại Đức, chẳng hạn như nguyên
tắc thận trọng, nguyên tắc thực hiện, hoặc nguyên tắc kịp thời. Những nguyên tắc đó
có tầm quan trọng cơ bản đến hệ thống nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung ở
Đức ('Grundsätze ordnungsmäßiger Buchführung, Đức GAAP). Thuật ngữ “Đức
GAAP” vẫn rộng hơn. Nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung ở Đức (Đức
GAAP) là các chuẩn mực kế toán dựa trên các nguyên tắc cơ bản. Nó bao gồm tất
cả các quy tắc pháp lý, nguyên tắc, tiêu chuẩn, định mức phải được áp dụng bởi công
ty trong việc chuẩn bị báo cáo tài chính của nó. Trong đó có nguyên tắc kế toán thích
hợp (GOB) được hệ thống hóa và không được hệ thống hóa. Cơ sở của GOB hệ
thống hóa và phần lớn các chuẩn mực kế toán là Luật thương mại Đức (HBG). Do
kết quả của việc thiếu những chi tiết yêu cầu pháp lý đối với các vấn đề kế toán cụ
thể nên tài liệu bổ sung và các quyết định của tòa án nhằm diễn giải các vấn đề kế
toán đã được làm một bộ phận cơ bản của hệ thống kế toán Đức. Đức GAAP đã
phát triển theo thời gian và được điều chỉnh dần dần với những thay đổi trong môi
trường kế toán.
Báo cáo tài chính theo Đức GAAP không chỉ cung cấp thông tin cho các nhà
đầu tư mà nó còn có chức năng là căn cứ để xác định phân chia lợi nhuận nhằm
bảo vệ các chủ nợ của công ty. Việc bảo vệ chủ nợ là mục tiêu chủ yếu ở Đức. Do
đó Đức GAAP tập trung duy trì vốn vì các chủ nợ quan tâm chủ yếu đến lợi nhuận
giữ lại của công ty để tạo dựng và tăng cường khả năng hoàn khả khi nợ đến hạn.
Từ khi việc duy trì vốn được lấy từ các chủ nợ, Đức GAAP đã bao gồm nhiều
nguyên tắc được hợp thành hệ thống kế toán thận trọng. Một tính năng quan trọng
của hệ thống này là nguyên tắc tính chất không cân xứng, nó được phân chia thành:
nguyên tắc thực hiện và nguyên tắc dự phòng giảm giá. Nguyên tắc thực hiện đảm
bảo rằng chỉ có khoản tiền lãi đã thực hiện được ghi nhận là lợi nhuận. Nguyên tắc
dự phòng giảm giá yêu cầu ghi nhận các khoản lỗ chưa phát sinh. Ví dụ: Tài sản
trị giá 1 triệu bảng và qua thời gian thì giá trị hợp lý cảu tài sản tăng lên là 2 triệu
bảng, nhưng nó vẫn được ghi nhận là chi phí trên bảng cân đối. Nếu giá trị tài sản
bị suy giảm còn 0.5 triệu bảng thì nó sẽ được thể hiện trên bảng cân đối làm giảm
giá trị đồng thời làm suy giảm lợi nhuận. Do đó, việc tăng và giảm giá trị được xử
lí khác nhau theo Đức GAAP tuân theo chi phí thấp hơn hoặc nguyên tắc thị
trường một cách nghiêm ngặt.
Đánh giá Đức GAAP từ góc độ kế toán quốc tế thì nó không phổ biến vì các
đặc điểm sau đây của Đức GAAP:
• Nhiều chủ nợ định hướng và vì vậy nó nhấn mạnh quá nhiều vào nguyên
tắc thận trọng.
• Kế toán thuế ảnh hưởng đến kế toán thương mại và làm sai lệch mục đích
của bảng cân đối kế toán.
• Tạo ra lợi nhuận ổn định giả tạo bằng cách tạo dựng và giảm thiểu nguồn
dự trữ, cách làm này sẽ khó xác định được công ty đang bị khủng hoảng
và nó chỉ duy trì được trong một thời gian cho đến khi nguồn dự trữ được
sử dụng hết.
II. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của Hệ thống kế toán
Đức
2.1. Môi trường chính trị và pháp lý
Có hai loại chính của hệ thống pháp luật được sử dụng trên toàn thế giới:
luật thông thường (thông luật) và luật dân sự ( dân luật).
Thứ nhất: Thông luật bắt đầu ở Anh vào những năm 1906, sau đó lan rông ra
các nước Mỹ, Ireland, Ấn Độ, Úc,…
Các nước thông luật án lệ là nguồn cơ bản, coi trọng chứng cứ nên luật sư
thẩm phán rất được coi trọng. Thẩm phán vừa là người xét xử vừa là người sáng
tạo ra pháp luật. Các nước theo thông luât có xu hướng lập ra và tuân theo những
quy chế và những qui tắc phù hợp với thực tiễn hơn. Đề cao tổ chức nghề nghiệp
và tổ chức nghề nghiệp có vai trò quan trọng trong việc ban hành luật. Từ đó ta
thấy đặc điểm của hệ thống kế toán ở những nước thông luật thì thông tin sẽ phản
ánh chính xác, thực tiễn, linh hoạt và cụ thể hơn. Pháp luật ở các nước thường có
luật doanh nghiệp, trong đó thiết lập các thông số cơ bản quy phạm pháp luật điều
chỉnh các doanh nghiệp kinh doanh.
Thứ hai, dân luật xuất phát từ luật cổ La Mã vào thế kỷ thứ VI và được Châu
Âu phát triển từ thế kỷ thứ XII. Đối với các nước dân luật thì cơ quan hành pháp,
lập pháp có vai trò quan trọng. Tòa án dựa vào pháp luật để giải quyết mọi vấn đề.
Do vậy thông tin không phản ánh được một cách trung thực nhất, không mang tính
thực tiễn và kém linh hoạt. Kế toán viên phải tuân thủ nghiêm ngặt theo luật đã ban
hành. Tuy nhiên nó có tính khái quát va tính ổn định cao.
Đức là một ví dụ điển hình cho quốc gia theo hệ thống dân luật. Luật kế
toán Đức thông qua vào năm 1985 chỉ dài 47 trang và chỉ liên quan đến các vấn đề
như cho thuê, dịch vụ ngoại tệ và báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Khi không được
hướng dẫn trong luật, các công ty Đức tham khảo các nguồn khác, trong đó có
pháp luật về thuế, ý kiến của các ngành nghề kiểm toán của Đức, và các tiêu chuẩn
do Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Đức, để quyết định kế toán làm thế nào.
Ở các nước thông luật, trong đó có khả năng là một tổ chức nghề nghiệp
phát triển chuẩn mực kế toán, quy định chi tiết hơn nữa được phát triển. Để minh
họa điều này, hãy xem xét các quy định liên quan đến kế toán cho thuê thành lập
bởi FASB tại Hoa Kỳ. Ở Hoa Kỳ, cho thuê được hướng dẫn bổ sung thiết lập quy
tắc cho các tình huống cụ thể như bán hàng với hợp đồng thuê lại, bán hàng kiểu
cho thuê bất động sản. Ngược lại, ở các nước dân luật như Đức chỉ liên quan đến
hợp đồng, chỉ đơn giản nói rằng các khoản nợ phải được ghi lại.
2.2.Yếu tố môi trường kinh tế
Các nhân tố thuộc về môi trường kinh tế có tác động trực tiếp đến quá trình hình
thành và phát triển hệ thồng kế toán tại các quốc gia. Một trong những nhiệm vụ
quan trọng của kế toán là phải thể hiện được các thông tin phục vụ cho quá trình ra
quyết định về kinh tế. Do vậy, hệ thống kế toán của một quốc gia được thiết lập
dựa trên sự hòa hợp giữa những đặc thù trong môi trường kinh doanh của quốc gia
đó, bao gồm một số nội dung lớn sau đây:
a) Nguồn cung cấp tài chính
Nguồn cung cấp tài chính sẽ quyết định đối tượng chủ yếu sử dụng thông tin tài
chính và đặc điểm của thông tin tài chính được cung cấp. Có hai nguồn cung cấp
thông tin tài chính chủ yếu là:
• Thứ nhất, các quốc gia có nguồn cung cấp tài chính từ thị trường vốn. Trong đó,
các nhà đầu tư xem báo cáo tài chính như một nguồn thông tin quan trọng để
theo dõi tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh , mục đích sử dụng vốn cũng
như tiềm năng phát triển của doanh nghiệp. Do vậy ,kế toán phải chịu áp lực về
việc công bố thông tin,b áo cáo tài chính phải trung thực, hợp lý và đầy đủ.
• Thứ hai, Các quốc gia có nguồn cung cấp tài chính chủ yếu là Nhà nước, ngân
hàng hoặc các dòng họ. Các đối tượng này hoàn toàn có khả năng tiếp cận để thu
thập và kiểm tra thông tin tài chính tại doanh nghiệp thông qua liên lạc cá nhân
hoặc truy cập trực tiếp các báo cáo. Do vậy, doanh nghiệp thường công bố những
thông tin không quan trọng. Khi đó các nhà đầu tư bên ngoài phải đối mặt với sự
thiếu minh bạch tuy nhiên việc làm này cũng ngăn cản sự gia nhập ngành từ các
mối đe dọa cạnh tranh và bảo vệ mối quạn hệ giữa NĐT với DN.
Ở Đức, hệ thống tài chính do ngân hàng chi phối. Các ngân hàng đóng vai
trò hàng đầu trong việc huy động tiết kiệm, bố trí vốn, giám sát các quyết đinh đầu
tư của các nhà quản lý doanh nghiệp. Do vậy, cấu trúc của các doanh nghiệp- công
ty nhỏ phổ biến ở Đức dựa trên các khoản tín dụng được cấp từ ngân hàng .Hệ
thống kế toán được xây dựng theo mô hình GAAP không chỉ cung cấp thông tin
cho các nhà đầu tư mà còn là cở sở để xác định lợi nhuận chia và bảo vệ chủ nợ.
Nguyên tắc thận trọng có thể coi là nguyên tắc thống trị mô hình này và với mục
tiêu chính là bảo vệ chủ nợ.
b) Mối quan hệ giữa thuế và kế toán
Ảnh hưởng của chính sách thuế đối với hệ thống kế toán được thể hiện như sau:
- Chuẩn mực kế toán do doanh nghiệp tư nhân thiết lập: Thu nhập chịu thuế và lợi
nhuận kế toán thường khác nhau. Hệ thống kế toán có tính linh hoạt, không chịu
ảnh hưởng của chính sách kế toán.
- Chuẩn mực kế toán chịu nhiều sự chi phối của nhà nước: Thu nhập chịu thuế và
lợi nhuận kế toán thường giống nhau.
Mối liên hệ giữa kế toán và thuế ở Đức được thực hiện dựa trên nguyên tắc
thận trọng. Ảnh hưởng của thuế trên báo cáo tài chính là đối tượng của nghiên cứu
được thực hiện bởi Gee et al. (2010), tác giả đã phân tích so sánh giữa Đức và
Vương quốc Anh. Hai nước được chọn để phân tích bởi vì nó thường được sử dụng
trong các tài liệu như những hình mẫu của đối lập truyền thống trong mối quan hệ
giữa kế toán và thuế. Kết quả phân tích chương trình cho thấy ảnh hưởng của thuế
trong báo cáo tài chính hợp nhất ở Đức đã giảm và ảnh hưởng này cũng trùng với
Vương quốc Anh. Các tác giả cũng nói rằng với luật sửa đổi HBG trong năm 2010,
ảnh hưởng của thuế đối với kế toán về báo cáo tài chính chưa hợp nhất ở Đức đã
giảm so với tình hình vào đầu năm 1990.
Cụ thể là tại Đức, thuế TNDN ở Đức là 15% và đó cũng là 5% thuế liên đới. Sự
phù hợp giữa chính sách thuế và báo cáo thuế là không bắt buộc, miễn là được
trình bày hợp lý trong các báo cáo tài chính. Việc xác định giá trị hàng tồn kho cho
mục đích thuế là tùy thuộc giá trị nào thấp hơn giữa giá thực tế, giá thay thế và giá
trị thuần có thể thực hiện được. Đối với dòng chi phí, LIFO được cho phép trong
khi FIFO là không được phép, trừ khi giả định được sử dụng là phù hợp với thực
tế. Tăng vốn từ tài sản cố định sẽ được xem như là thu nhập thông thường và bị
đánh thuế theo mức thuế TNDN hiện hành.
c) Tổ chức nghề nghiệp
Ở những quốc gia mà tổ chức nghề nghiệp mới ra đời như Đức, Pháp… Nhà
nước giữ vai trò quyết định trong những vấn đề về kế toán. Hệ thống kế toán có
tính linh hoạt thấp, có hướng bảo thủ.
2.2. Yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến hệ thống kế toán Đức
Dựa theo mô hình của
Hofstede các chỉ số đánh giá ở Đức
năm 2009 như sau:
• Ở Đức chỉ số PDI rất
thấp(35) nghĩa là các nhà
quản trị cấp cao sẽ có ít
quyền áp đặt hơn và thứ bậc
trong tổ chức không mang lại
những đặc quyền đặc lợi như
ở các nước có chỉ số PDI cao.
Trong các tổ chức ở nước này cấp dưới có quyền tham gia đóng góp nhiều
vào việc lên kế hoạch và điều hành.Bên cạnh đó, việc dự thảo ngân sách đa
số được thực hiện theo chiều dưới lên.
• Là quốc gia theo chủ nghĩa cá nhân nên chỉ số IDV của Đức khá cao. Người
Đức coi trọng quyền lợi trách nhiệm cá nhân hơn là sự trung thành với tổ
chức. Mục tiêu cá nhân quan trọng hơn mục tiêu tập thể.Vì vậy các thành
viên trong tổ chức thường cố gắng tự chủ trong quá trình xử lí ngân sách.
• Chỉ số MAS cao cho thấy xã hộ Đức hướng tới thành tích, sự cạnh tranh và
thành công nghề nghiệp.Vì vậy người Đức muốn các thành viên trong tổ
chức hành động theo khuôn khổ hơn là thỏa thuận và linh hoạt. Các nhà kế
toán Đức cũng có xu hướng thẳng thắn hơn trong việc cung cấp thông tin và
sử dụng các tiêu chí kĩ thuật nhiều hơn. Trong văn hóa của người Đức, họ
quan niệm việc tuân thủ luật lệ nghiêm khắc trong công việc sẽ tạo ra hiệu
suất như mong muốn và kết quả kì vọng.Vậy nên ở Đức hệ thống hệ thống
quản trị kế toán chi tiết tạo ra nhiều trung tâm chi phí giúp nhà quản trị cũng
như nhân viên có các hành vi theo kì vọng.
• Chỉ số UAV cao cho thấy người Đức không thích các tình tiết mơ hồ, không
chắc chắn.Vì vậy họ cố gắng giảm sự không chắc chắn đó tới mức có thể.
Họ tối thiểu hóa các quyết định mang tính chủ quan cá nhân mà sử dụng các
quyết định mang tính khách quan.Các tiêu chí được tiêu chuẩn hóa và báo
cáo tài chính được chi tiết hóa. Các nhà quản trị rất quan tâm đến việc hạch
toán , dự báo và cập nhật các dự báo. Để hạn chế sự không chắc chắn các
doanh nghiệp Đức sẵn sàng thuê các kế toán quản trị có trình độ cao để vận
hành hệ thống kế toán rất chi tiết và toàn diện. Nhằm đảm bảo việc cung cấp
đầy đủ thông tin liên quan đến mục tiêu quản trị, có nhiều khoản chi phí
được hạch toán lên các nhà quản trị mà không thể thể hiện trên báo cáo tài
chính như chi phí bảo trì vốn hóa dự tính.
• Chỉ số LOT của Đức rất thấp(31) cho thấy họ theo khuynh hướng ngắn
hạn.Họ quan tâm nhiều hơn đến sự chính xác nhiều hơn trong các kết quả
ngắn hạn. Đồng thời việc tuân thủ thời gian và cung cấp các thông tin tài
chính thường xuyên cũng được nhân mạnh. Điều này giải thích cho sự phổ
biến của GPK- hệ thống chú trọng việc hỗ trợ các quyết định ngắn hạn và
việc hạch toán các khoản chi phí cho các trung tâm chi phí. Hệ thống này
phân tách chi phí trực tiếp và biến phí ra khỏi các khoản định phí.
III. So sánh kế toán Đức và kế toán quốc tế
Tiêu chí
so sánh
IFRS Đức GAAP
Phạm vi
áp dụng
Áp dụng bắt buộc cho nhóm
kế toán của các công ty niêm
yết công khai ở châu Âu. Bên
cạnh đó thì tất cả các thực thể
kinh doanh đều được phép áp
dụng (không bắt buộc).
Bắt buộc cho báo cáo tài chính
hàng năm và hợp nhất của
thương nhân và các tổ chức đã
đăng kí trong sổ đăng kí kinh
doanh, ngoại trừ các đối tượng
có nghĩa vụ áp dụng IFRS cho
các báo cáo tài chính hợp nhất
(Các đơn vị này vẫn phải tuân
theo một số quy tắc của Đức
GAAP).
Thành
phần
của báo
Báo cáo về vị thế tài chính,
báo cáo về toàn bộ thu nhập,
thuyết minh, báo cáo lưu
Bảng cân đối, lãi và lỗ, thuyết
minh. Các đơn vị quy mô lớn
và trung bình được yêu cầu bổ
cáo tài
chính
chuyển tiền tệ, báo cáo thay
đổi vốn chủ sở hữu, và báo
cáo quản trị cho báo cáo tài
chính hợp nhất ở Đức vì luật
pháp quốc gia.
sung báo cáo quản trị. Đối với
đơn vị chuẩn bị báo cáo tài
chính hợp nhất yêu cầu phải có
báo cáo lưu chuyển tiền tệ và
báo cáo thay đổi vốn chủ sở
hữu, còn riêng báo cáo tài
chính hàng năm của công ty
niêm yết công khai không phải
trình bày báo cáo tài chính hợp
nhất.
Giá gốc
hay giá
trị hợp
lý
Giá gốc là cơ sở chính của
chuẩn mực kế toán. tuy
nhiên , IFRS cho phép đánh
giá lại giá trị hợp lý của tài
sản vô hình, tài sản cố định,
các khoản bất động sản đầu
tư và hàng tồn kho đối với
các ngành công nghiệp nhất
định (ví dụ: các nhà môi giới
hàng hóa/các đại lý).
IFRS cũng đưa ra danh mục
các công cụ tài chính nhất
định và các tài sản sinh học
Giá gốc là quy ước kế toán
chính. Do vậy việc đánh giá lại
tài sản không được phép thực
hiện trong các doanh nghiệp.
Ngoại trừ các ngân hàng / tổ
chức tài chính, nơi mà tất cả
các công cụ tài chính phục vụ
cho hoạt động kinh doanh được
xác định theo giá trị hợp lý.
Và miễn áp dụng đối với các
tài sản bị tước quyền sở hữu
của tất cả các chủ nợ khác và
chỉ liên quan đến phạm vi của
nhất định phải được báo cáo
theo giá trị hợp lý
nghĩa vụ lương hưu hoặc khoản
nợ dài hạn tương đương.
Chúng cũng phải được hạch
toán theo giá trị hợp lý.
Áp dụng
hồi tố
của
khuôn
khổ kế
toán
Việc áp dụng điều chỉnh hồi
tố theo IFRS có hiệu lực tại
ngày lập báo cáo cho tất cả
các doanh nghiệp. Các thông
tin được chuẩn bị và trình bày
dưa trên cơ sở của IFRS. Gần
như tất cả các điều chỉnh
phải được áp dụng điều chỉnh
hồi tố ngay từ khi phát hiện ra
sai sót và được điều chỉnh
vào lợi nhuận để lại vào đầu
kì sau, và trình bày trên cơ sở
IFRS. Một số điều chỉnh
được thực hiện đối với lợi thế
thương mại hoặc vốn chủ sở
hữu.
Chưa có hướng dẫn cụ thể
Cơ sở so sánh IFRS German GAAP
Tài sản tài chính Tài sản tài chính là những tài
sản có giá trị không dựa vào nội
dung vật chất của nó (giống như
bất động sản gồm nhà cửa, đất
đai) mà dựa vào các quan hệ
trên thị trường. Nó bao gồm các
công cụ tài chính như cổ
phiếu, trái phiếu, tiền gửi ngân
hàng, tiền tệ và các giấy tờ có
giá khác.
GAAP không xác định rõ
Theo GAAP thì một công cụ tài chính
một bên nhận được một tài sản tài
chính và một bên kia có một trách
nhiệm tài chính
3.3. Ghi nhận doanh thu
IFRS German GAAP
-2 tiêu chuẩn của doanh thu chia
tất cả các khoản doanh thu thành 4
loại lớn:
+) Doanh thu bán hàng
+)Doanh thu cung cấp dịch vụ,
+)Doanh thu từ cho thuê tài sản,
+)Hợp đồng xây dựng
-Điều kiện để ghi nhận doanh thu
cho những trường hợp này bao
gồm khả năng thu được các lợi ích
kinh tế từ giao dịch, doanh thu và
chi phí được xác định 1 cách đáng
tin cậy. Điều kiện ghi nhận bổ sung
áp dụng cho mỗi trường hợp.
-Thu nhập chỉ được ghi nhận khi
phản ánh trên bảng cân đối kế
toán ( nguyên tắc giá gốc). Trong
trường hợp đặc biệt cổ tức có thể
được ghi nhận sớm hơn so với hệ
thống IFRS trong bản báo cáo tài
chính đơn lẻ.
-German GAAP yêu cầu phải xác
định doanh thu theo giá trị hợp lý
của các khoản đã thu hoặc sẽ thu
được.
-Nơi dòng tiền hoặc tương đương
tiền mặt bị trì hoãn, chiết khấu
giá trị hiện tại dưới German GAAP
- Về nguyên tắc việc áp dụng
phương pháp tỷ lệ phần trăm
hoàn thành đều bị cấm.
Bán
hàng
-Thu nhập từ việc bán hàng được
xác nhận khi:
+) Chắc chắn rằng lợi ích kinh tế sẽ
thu về.
+) Tổng thu nhập xác định đáng tin
cậy.
+) Các doanh nghiệp hưởng từ việc
chuyển nhượng rủi ro và tiền hoa
hồng cho chủ hàng hóa.
+) Việc giữ lại các doanh nghiệp
khác tiếp tục quản lý với mức độ
thường gắn liền với quyền sở hữu
hoặc quyền kiểm soát bán hàng
hóa.
+) Chi phí phải chịu hoặc phát sinh
các giao dịch đáng tin cậy.
-German GAAP không quy định
cụ thể về thời điểm tạo doanh thu
từ việc bán hàng hóa. Việc chuyển
lợi ích quyền sở hữu được coi là
một tiêu chí quan trọng để xác
định đúng thời điểm, nhưng
quyết định cuối cùng là dựa trên
cơ sở từng trường hợp cụ
thể.Nguyên tắc thận trọng –
doanh thu chỉ được ghi nhận khi
nó đã được thực hiện tại thời
điểm báo cáo.
-Doanh thu từ hàng hóa (và dịch
vụ) có thể được thực hiện, khi:
+) hàng hóa đã được chuyển
giao…
+) Nhà cung cấp được nhận tiền
thưởng.
-Nơi người mua có quyền trả lại,
doanh thu có thể được công nhận
hoặc sau khi đã hết quyền hạn
hoặc khi trả lại giao ước các
khoản phải thu. Nếu sự cung ứng
tạo ra trong trường hợp này, nó
phải đo lường được chắc chắn
giá trị hàng hóa.
Doanh
thu cung
cấp dịch
vụ
IFRS yêu cầu dịch vụ giao dịch
được tính theo phương pháp tỷ lệ
phần trăm hoàn thành khi kết quả
của cung cấp dịch vụ có thể ước
tính một cách đáng tin cậy.Doanh
thu có thể được gi nhận theo
phương pháp đường thằng nếu các
dịch vụ được thực hiện nhưng
không xác định được trong khoảng
thời gian nhất định.
Khi một giao dịch được cho là
không đáng tin cậy, doanh thu có
thể coi như bằng chi phí đã phát
sinh(không có lợi nhuận). Nếu kết
quả của giao dịch chắc chắn rằng
sự phục hồi chi phí là không thể,
doanh thu sẽ cần phải được hoãn
lại cho đến khi ước tính chính xác,
trong khi đó chi phí vẫn được ghi
-Dịch vụ giao dịch thường được
hạch toán theo phương thức
hoàn thành hợp đồng.
-Phương pháp hoàn thành hợp
đồng theo nguyên lý do chung.
Theo đó doanh thu chỉ có thể
được ghi nhận nếu đã phàn ánh
vào bảng cân đối kế toán
- Một ngoại lệ được áp dụng khi
được bồi thường là chắc chắn.
Trong trường hợp này một phần
thu nhập có thể được ghi nhận.
nhận.
IV. Xu hướng hòa hợp và hội tụ của kế toán Đức với thế giới
Trong hai thập kỷ qua, một sự thay đổi to lớn trong môi trường kế toán Đức
là điều hiển nhiên. Do ảnh hưởng của toàn cầu hóa và quốc tế hóa về môi trường
kinh doanh cùng sự gia tăng nhu cầu tiếp cận vốn thị trường bên ngoài nước Đức
thì việc thay thế Đức GAAP truyền thống là điều cần thiết. Chính sách của châu
Âu bắt đầu hướng tới các quy định kế toán hài hòa thông qua sự hội tụ yêu cầu của
các quốc gia đã không thành công trong việc đáp ứng nhu cầu của các công ty
muốn huy động vốn trên toàn Châu Âu hoặc chứng khoán trên thị trường quốc
tế. Bất kể thiếu các yêu cầu pháp lý để làm điều đó, nhiều thị trường vốn đã định
hướng các công ty chuyển hướng tới chuẩn mực kế toán quốc tế công nhận do điều
kiện kinh tế chung.
Năm 1998, Các nhà lập pháp ở Đức đã sớm cho phép các Công ty niêm yết lập báo
cáo tài chính theo IFRS thay vì Đức GAAP như trước đây.Tuy nhiên báo cáo tài
chính hợp nhất này chỉ dùng cho mục đích thông tin, nên không ảnh hưởng đến các
các vấn đề kế toán quốc gia khác. Đây là giải pháp tạm thời, sẽ có hiệu lực đến
31/12/2004. Vì vậy, công ty niêm yết trong nước Đức đã có tương đối nhiều thời
gian để áp dụng IFRS và xây dựng các nguồn lực cần thiết.
Đồng thời trong năm 1998, thành lập tổ chức tư nhân là Ủy ban chuẩn mực
kế toán Đức (ASCG) , Hội đồng chuẩn mực kế toán Đức (GASB) nhằm tư vấn cho
Bộ tư pháp về chế độ kế toán và đại diện cho Đức trong các cơ quan xây dựng tiêu
chuẩn quốc tế. Sự tham gia của một tổ chức tư nhân vào các vấn đề kế toán đã tạo
nên tính độc lập và sự linh hoạt cho việc lập báo cáo tài chính, đáp ứng nhu cầu
của người lập và người sử dụng BCTC.
Tháng 1/2005, Ủy Ban Giao Dịch Chứng Khoán Châu Âu đã yêu cầu tất cả
các công ty Châu Âu niêm yết trên thị trường Châu Âu phải lập BCTC hợp nhất
theo IFRS. Do sự ảnh hưởng của môi trường kế toán quốc tế, các quy định của EU,
cũng như bảo vệ cho các nhà đầu tư kịp thời ra các quyết định, những năm gần
đây, đã có nhiều thay đổi nhằm điều chỉnh giảm dần khoảng cách với chuẩn mực
quốc tế (IFRS). Quá trình xây dựng tư duy trong các mẫu thiết lập kế toán công và
tư nhân cùng với thể chế thực thi đã giúp cho việc thiết lập khung hệ thống kế toán
Đức ngày càng trở nên quốc tế hóa.
Trong thời gian tới, mục tiêu của các nhà lập pháp vẫn là tiếp tục phát triển
hệ thống kế toán Đức hướng tới một hệ thống thông tin kế toán theo định hướng
hài hòa các yêu cầu của IFRS. Theo thống kê cho thấy hiện nay cùng tồn tại hai
chế độ kế toán ở Đức là IFRS và GAAP. IFRS chỉ được yêu cầu với một số lượng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét