LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "mở rộng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng tmcp quân đội, chi nhánh bắc hải, tp. hải phòng": http://123doc.vn/document/1049492-mo-rong-hoat-dong-cho-vay-doi-voi-cac-doanh-nghiep-vua-va-nho-tai-ngan-hang-tmcp-quan-doi-chi-nhanh-bac-hai-tp-hai-phong.htm
hàng của những thợ vàng. Nghề ngân hàng cũng được bắt đầu từ những người cho
vay nặng lãi. Một số người cho vay nặng lãi đã thực hiện cả nghiệp vụ đổi tiền,
giữ hộ và thanh toán hộ.
Những người kinh doanh tiền tệ đầu tiên đã dùng vốn tự có để cho vay,
nhưng điều đó đã nhanh chóng được thay đổi. Từ hoạt động thực tiễn các chủ
Ngân hàng nhận thấy thường xuyên có người gửi tiền vào và có người lấy tiền ra,
song tất cả người gửi không rút tiền một lúc nên đã tạo số dư thường xuyên ở
Ngân hàng. Do tính chất vô danh của tiền, chủ ngân hàng có thể sử dụng tạm thời
một phần tiền gửi của khách hàng để cho vay. Hoạt động cho vay tạo nên lợi
nhuận lớn cho ngân hàng, do vậy các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu hút tiền
gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền. Bằng cách cung cấp các tiện
ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càng nhiều tiền gửi, là điều kiện
để mở rộng cho vay và hạ lãi suất cho vay.
Hình thức ngân hàng đầu tiên – ngân hàng của các thợ vàng, hoặc ngân hàng
của những kẻ cho vay nặng lãi thực hiện cho vay với các cá nhân chủ yếu là những
người giàu: quan lại, địa chủ… nhằm mục đích phục vụ tiêu dùng. Nhiều chủ ngân
hàng lớn còn mở rộng cho vay đối với vua chúa, nhằm tài trợ một phần nhu cầu
chi tiêu cho chiến tranh. Hình thức cho vay chủ yếu là thấu chi cho phép khách
hàng chi nhiều hơn số tiền gửi tại ngân hàng, một hình thức cho vay có nhiều rủi
ro. Do lợi nhuận từ cho vay rất cao nhiều chủ ngân hàng đã lạm dụng ưu thế của
chứng chỉ tiền gửi (lưu thông thay vàng hoặc bạc), phát hành chứng chỉ tiền gửi
khống để cho vay. Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân hàng đến chỗ mất khả năng
thanh toán và phá sản. Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động
thanh toán, ảnh hưởng xấu đến hoạt động buôn bán. Hơn nữa lãi suất cao nên
những nhà buôn không thể sử dụng nguồn vốn này. Trước tình hình có nhiều nhà
buôn tự thành lập ngân hàng, gọi là ngân hàng thương mại. Như vậy ngân hàng
thương mại được hình thành xuất phát từ vận động của tư bản thương nghiệp, và
gắn liền với quá trình luân chuyển của tư bản thương nghiệp. Ngân hàng thương
mại cũng thực hiện các hoạt động truyền thống của ngân hàng như huy động tiền
gửi, thanh toán, cất giữ hộ và cho vay. Tuy nhiên , điểm khác nhau giữa ngân hàng
5
thương mại và ngân hàng thợ vàng trước đó là ngân hàng thương mại chủ yếu cho
nhà buôn vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu. Đây là cácc khoản vay
ngắn hạn, dựa trên quá trình luân chuyển của hàng hoá với lãi suất phải thấp hơn
lợi nhuận tạo ra cho phép sử dụng tiền vay. Để đảm bảo an toàn, ngân hàng
thương mại ban đầu không cho vay đối với người tiêu dùng, không cho vay trung
và dài hạn, không cho vay đối với nhà nước. Sự phá sản của nhiều ngân hàng
thương mại đã gây tổn thất lớn cho người gửi tiền là nguyên nhân dẫn đến hình
thành ngân hàng tiền gửi. Ngân hàng này không cho vay chỉ thực hiện giữ hộ,
thanh toán hộ để lấy phí. Đồng thời tại mỗi nước, trong điều kiện lịch sử cụ thể đã
hình thành nên nhiều loại ngân hàng khác nhau như ngân hàng tiết kiệm, ngân
hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, Ngân hàng Trung ương (Ngân hàng Nhà nước)
… tạo nên hệ thống ngân hàng. Trong đó trừ ngân hàng trung ương có chức năng
xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các ngân hàng còn lại dù có
một số nghiệp vụ khác nhau song đều chung đặc điểm là thực hiện kinh doanh tiền
tê.
Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, hoạt động ngân hàng đã có
những bước tiến rất nhanh. Trước hết đó là sự đa dạng các loại hình ngân hàng và
các hoạt động ngân hàng. Từ các ngân hàng tư nhân, quá trình tích tụ và tập trung
vốn trong ngân hàng đã dẫn đến hình thành ngân hàng cổ phần. Quá trình gia tăng
vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng
thuộc sỏ hữu nhà nước, các ngân hàng liên doanh, các tập đoàn ngân hàng phát
triển mạnh trong những năm cuối thế kỷ 20. Nhiều nghiệp vụ truyền thống vẫn
được giữ bên cạnh các nghiệp vụ mới đang ngày càng phát triển. Ngân hàng
thương mại từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng cho vay trung và
dài hạn, cho vay để đầu tư vào bất động sản. Nhiều ngân hàng mở rộng cho vay
tiêu dùng. Kinh doanh chứng khoán, cho thuê… Các hình thức huy động cũng
ngày càng phong phú. Các loại hình tiền gửi khác nhau được đưa ra nhằm đáp ứng
tối đa nhhu cầu của khách hàng. Bên cạnh các hình thức huy động tiền gửi, các
ngân hàng đã mở rộng các hình thức vay như vay ngân hành trung ương, vay các
ngân hàng khác. Công nghệ ngân hàng đã góp phần làm thay đổi các hoạt động cơ
bản của ngân hàng. Thanh toán điện tử đang thay thế dần thanh toán thủ công, đẩy
6
nhanh tốc độ, tính thuận tiện, an toàn trong thanh toán. Các loại thẻ đang thay thế
dần tiền giấy và dịch vụ ngân hàng 24 giờ, dịch vụ ngân hàng tại nhà đang tạo ra
các tiện ích ngày càng lớn cho dân chúng. Quá trình phát triển của các ngân hàng
không những làm gia tăng số lượng các ngân hàng mà còn làm tăng qui mô của
mỗ ngân hàng. Tích tụ và tập trung vốn đã tạo các công ty ngân hàng cực lớn với
số vốn tự có hàng chục tỷ đôla Mỹ, tổng tài sản hàng trăm tỷ đôla Mỹ, đủ sức để
tài trợ cho những ngành công nghiệp và dịch vụ mũi nhụn toàn cầu. Quá trình phát
triển của các ngân hàng đang tạo ra mối liên hệ rang buộc ngày càng chặt chẽ, sự
phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các ngân hàng. Các hoạt động ngân hàng
xuyên quốc gia và đa quốc gia đã và đang thúc đẩy hình thành các hiệp hội, các tổ
chức liên kết các ngân hàng nhằm tạ ra các chính sách chung, hoặc tương thích để
kiểm soát chung, để kết nối và tạo sự thống nhất trong điều hành và vận hành hệ
thồng ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và quốc tế.
Lịch sử phát triển ngân hàng cũng đã chứng kiến nhiều khủng hoảng và
hoảng loạn ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và thế, gây tổn thất lớn cho nền
kinh tế và mất ổn định chính trị. Có thể nói, các vụ sụp đổ ngân hàng cũng là một
khâu tất yếu trong tiến trình phát triển của ngân hàng. Các nhà quản lý đã và đang
không ngừng cải tiến chính sách quản lý để hạn chế sự sụp đổ và mở đường cho
sự phát triển của khu vực ngân hàng.
Khái niệm ngân hàng và ngân hàng thương mại: Qua xem xét
quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng, dựa trên các loại hình dịch vụ
được cung cấp bởi chúng ta có khái niệm tổng quát nhất về ngân hàng và Ngân
hàng thương mại.Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán
và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh
nào trong nền kinh tế. Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp
nhân hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chính là huy động tiền gửi
dưới các hình thức khác nhau của khách hàng, trên cơ sở nguồn vốn huy động này và
vốn chủ sở hữu của ngân hàng để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư, chiết khấu
đồng thời thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, môi giới, tư vấn và một số dịch vụ khác
cho các chủ thể trong nền kinh tế.
7
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại.
Theo khái niệm ở trên về ngân hàng, cho thấy ngân hàng là một tổ chức tài
chính cung cấp một danh mục đa dạng các dich vụ tài chính đa dạng nhất, thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất. Tuy nhiên, một cách tổng quat ta có thể xem
xét ngân hàng với ba hoạt động cơ bản bao gồm: Hoạt động huy động vốn, hoạt
động sử dụng vốn và các hoạt động trung gian
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và
cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương
mại – đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của ngân hàng.
Với chức năng là trung gian tài chính trong hệ thống kinh tế, là cầu nối giữa những
người có vốn nhàn rỗi nhưng chưa tìm được cơ hội đầu tư với những người có kế
hoạch đầu tư hiệu quả nhưng gặp khó khăn về vốn, Ngân hàng tập trung các khoản
tiền nhàn rỗi trong dân cư và phân phối chúng tới các tổ chức, cá nhân có nhu cầu
vay vốn. Lợi nhuận của ngân hàng chính là phân chênh lệch giữa tiền lãi thu được
từ các khoản cho vay sau khi trừ đi tiền lãi phải trả cho các khoản tiền gửi được
huy động tại ngân hàng cùng các khoản chi phí phục vụ hoạt động kinh doanh của
ngân hàng. Đây là hình thức chủ yếu trong hoạt động huy động vốn của các ngân
hàng, ngoài ra còn có những kênh dẫn vốn khác giúp ngân hàng đạt được lượng
vốn cần huy động để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình.
Vốn chủ sở hữu: Để bắt đầu hoạt động chủ ngân hàng phải có một
lượng vốn nhất định. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành
nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn này bao gồm: Vốn hình thành
ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình kinh doanh như phần lợi nhuận giữ lại
phát hành thêm cổ phần, góp thêm. Tuỳ theo loại hình khác nhau các ngân hàng có
vốn hình thành khác nhau, với ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước vốn ban đầu do
ngân sách nhà nước cấp, nếu là ngân hàng cổ phần vốn ban đầu do các cổ đông
đóng góp qua việc mua cổ phần cổ phiếu, Ngân hàng liên doanh là do các bên liên
doanh góp, ngân hàng tư nhân nguồn vốn ban đầu là của cá nhân bỏ ra (ngân hàng
gia đình). Trong quá trình hoạt động kinh doanh tiền tệ cũng giống như các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thương mại, Ngân
8
hàng giữ lại một phần lợi nhuận để tái đầu tư mở rộng hoạt động làm tăng qui mô
vốn chủ sở hữu.
Nguồn tiền gửi: Huy động vốn từ nguồn tiền gửi của khách hàng
chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại.
Để thực hiện nghịêp vụ này ngân hàng mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và
thanh toán hộ cho các tổ chức, các doanh nghiệp, các cá nhân trong dân cư. Tiền
gửi thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền huy động, thông thường
nguồn này chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn của Ngân hàng. Đặc điểm chung
nguồn tiền gửi là ngân hàng phải thanh toán khi khách hàng yêu cầu ngay cả khi
đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn, với việc phải dự trữ bắt buộc làm cho chi
phí trả cho tiền gửi thường cao hơn lãi phải trả.Các ngân hàng ngày càng thực hiện
nhiều hình thức huy động để gia tăng lượng tiền gửi.
+ Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): Doanh nghiệp, tổ chức, và các cá
nhân gửi tiền của họ vào ngân hàng nhằm phục vụ nhu cầu thanh toán hàng ngày.
Ngân hàng đứng ra giữ hộ và thanh toán hộ khi phát sinh việc thanh tóan dựa trên
số dư thực tế của khách hàng. Với các khoản tiền gửi thanh toán, khách hàng chí
nhận được mức lãi suất rất thấp (hoặc lãi suất bằng không) nhưng khả năng thanh
toán của họ thì luôn được đảm bảo khi có nhu cầu chi trả. Ngày nay, các ngân
hàng còn cho phép thực hiện chi trả vượt số dư của các khoản tiền gửi thanh toán
trong một giới hạn nhất định đáp ứng việc khách hàng có nhu cầu chi tiêu đột
xuất.
+ Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, của các tổ chức xã hội: Người gửi
không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp
dụng đối với loại tiền gửi này. Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để
rút tiền. Tuy việc thanh toán không thuận lợi so với tiền gửi thanh toán nhưng tiền
gửi kỳ hạn được hưởng lãi suất cao hơn tuỳ theo kỳ hạn gửi tiền.
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
trong dân cư ở một thời điểm nhất định nào đó có những khoản tiền nhàn rỗi (các
khoản tiền tiết kiệm) nhưng chưa có cơ hội đầu tư hiệu quả mang lại lợi nhuận.
Trong trường hợp này lựa chọn tốt nhất là họ gửi số tiền tiết kiệm của mình vào
ngân hàng nhằm mục đích bảo toàn và sinh lời, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn bởi
9
tiền có giá trị theo thời gian một đồng ngày hôm nay lớn hơn một đồng ngày mai
do chịu ảnh hưởng của lạm phát. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm,
ngân hàng đưa ra các hình thức huy động đa dạng, mức lãi suất hấp dẫn khuyến
khích dân cư không giữ tiền mặt hay vàng tại nhà mà gửi tại ngân hàng (như tiền
gửi với các kỳ hạn khác nhau, tiết kiệm bằng ngoại tệ, bằng vàng, gửi tiết kiệm
trúng thưởng vàng hay nhận ngay tiền mặt…). Ngân hàng có thể mở cho mỗi
người tiết kiệm nhiều chương mục tiết kiệm (hoặc là sổ tiết kiệm) cho mỗi kỳ hạn
và mỗi lần gửi khác nhau. Sổ tiết kiệm không để thanh toán tiền hàng và dịch vụ
song có thể thế chấp để vay vốn.
+ Ngoài ra ngân hàng còn có thể huy động vốn từ nguồn tiền gửi của các
ngân hàng khác với mục đích thanh toán hộ hoặc một số mục đích khác. Tuy
nhiên, nguồn này thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tổng vốn huy động của
ngân hàng.
Nguồn đi vay: Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng
tiền gửi là nguồn huy động quan trọng nhất. Mặc dù vậy, ngân hàng thường phải
đối mặt với những tình huống phát sinh bất thường, lúc đó ngân hàng thường vay
mượn thêm. Các nguồn vay thường có thời hạn và qui mô xác định trước tạo thành
nguồn ổn định cho ngân hàng. Tuy nhiên, do mức độ rủi ro cao hơn nên lãi suất
cho tiền vay lớn hơn so với lãi suất trả cho các khoản tiền gửi có cùng kỳ hạn.
Ngân hàng có thể vay NHNN, vay các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường
vốn…
+ Vay NHNN (Vay ngân hàng TW): Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu
cầu cấp bách của ngân hàng thương mại. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (dự trữ
bắt buộc, dự trữ thanh toán), ngân hàng thương mại thường vay NHNN với hình
thức chủ yếu là tái chiết khấu các thương phiếu đã được các ngân hàng thương mại
chiết khấu trở thành tài sản của họ. Nghiệp vụ này làm thương phiếu của NHTM
giảm đi và dự trữ, tiền mặt hoặc tiền gửi tại NHNN tăng lên. Trong điều kiện chưa
có thương phiếu, NHNN cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức
tín dụng.
+ Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn
nhau hoặc vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Các
10
ngân hàng thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản,
đáp ứng nhu cầu dử trữ và chi trả cấp bách tìm kiếm các ngân hàng khác đang có
dự trữ vượt yêu cầu do có sự gia tăng các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay
– các ngân hàng này sẽ sẵn sàng cho vay với một mức lãi suất cao.
+ Vay trên thị trường vốn: Bằng hình thức phát hành các giấy nợ như kỳ
phiếu, tín phiếu, trái phiếu trên thị trường vốn ngân hàng sẽ có thể bổ sung lượng
vốn vay trung – dài hạn cần thiết để đáp ứng nhu cầu cho vay, đầu tư trung dài
hạn. Tuy nhiên, việc phát phát hành các giấy nợ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, phụ
thuộc vào uy tín của ngân hàng, sự phát triển của thị trường tài chính, và ngân
hàng sẽ phải chi trả cho các khoản vay một mức lãi suất cao hơn so với các khoản
vay cùng kỳ hạn thông thường do phải chịu một số khoản phí đi kèm với việc phát
hành giấy nợ.
Các nguồn khác: Ngoài các kênh huy động kể trên, ngân hàng có
thể gia tăng lượng vốn huy động bằng một số nguồn khác như nguồn uỷ thác,
nguồn trong thanh toán,các khoản thuế chưa nộp, chậm trả lượng cho cán bộ công
nhân viên… Phần lớn các nguồn này không phải trả lãi, tuy nhiên chi phí để có và
duy trì là rất đáng kể.
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn:
Như đã phân tích ở trên, ngân hàng cũng là một doanh nghiệp, với lĩnh vực
kinh doanh và hàng hoá đặc biệt, ngân hàng kinh doanh tiền tệ. Thu nhập của ngân
hàng chủ yếu thu được từ việc cho các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức vay
tiền. Để đảm bảo về lợi nhuận, tiền lãi thu được từ các khoản cho vay phải lớn hơn
lãi suất chi trả cho các khoản tiền mà ngân hàng phải huy động đồng thời phải bù
đắp được các khoản chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh. Ngoài
việc cho vay, ngân hàng còn tiến hành các hoạt động đầu tư sinh lời. Do vậy, hoạt
động sử dụng vốn của ngân hàng là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau
trong đó cho vay và đầu tư là hai loại tài sản lớn và quan trọng. Cho vay và đầu tư
là hoạt động sử dụng vốn quan trọng nhất quyết định đến khả năng tồn tại và phát
triển của ngân hàng thương mại. Đây là các hoạt động cấu thành bộ phận chủ yếu
và quan trọng Tài sản của Ngân hàng, thành phần tài sản của Ngân hàng bao gồm:
Dự trữ, cho vay, đầu tư, và các tài sản có khác.
11
Dự trữ: Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời
song cần được đảm bảo an toàn để giữ được lòng tin của khách hàng. Muốn có sự
tin cậy từ phía khách hàng, trước hết ngân hàng phải đảm bảo về khả năng thanh
toán: Đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng. Muốn vậy ngân hàng phải
giữ lại một tỷ lệ nhất định phần vốn huy động không sử vào các hoạt động như
cho vay hay đầu tư để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán khi có bất kỳ một nhu
cầu rút tiền nào từ phía khách hàng. Phần vốn để lại này gọi là dự trữ của ngân
hàng. Ngân hàng Nhà nước qui định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng
thương mại ở từng thời kỳ nhất định. Ngoài phần dự trữ bắt buộc theo qui định của
pháp luật, các ngân hàng còn thực hiện để lại phần dự trữ dôi da để tăng cường
khả năng thanh khoản của mình. Ở Việt Nam, do thị trường tài chính còn chưa
phát triển mạnh, do vậy phần dự trữ của các ngân hàng chỉ bao gồm tiền gửi tại
NHNN và lượng tiền mặt trong két, tuy nhiên ở các nước có thị trường tài chính
phát triển mạnh như Mỹ, Anh, Nhật… ngoài lượng tiền mặt trong két và tiền gửi
tại Ngân hàng TW, phần dự trữ của các ngân hàng còn bao gồm các chứng khoán
có độ thanh khoản cao mà các NHTM nắm giữ như tín phiếu kho bạc, và các
chứng khoán do Chính phủ phát hành.
Hoạt động cho vay: Cho vay là hoạt động đặc trưng của các
NHTM, cho vay hay tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu
tài sản của Ngân hàng. Hoạt động cho vay mang lại phần lớn thu nhập cho ngân
hàng. Hoạt động cho vay của ngân hàng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác
nhau như theo thời hạn cho vay, phân chia theo tài sản đảm bảo, phân chia theo
ngành kinh tế và theo mức độ rủi ro.
+ Theo thời hạn cho vay hoạt động cho vay của ngân hàng được chia thành
cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn. Cho vay ngắn hạn có
thời hạn cho vay nhỏ hơn 12 tháng, cho vay trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5
năm, cho vay dài hạn có thời hạn trên 5 năm. Tỷ trọng của từng loại là khác nhau,
thông thường tỷ trọng cho vay ngắn hạn cao hơn cho vay trung – dài hạn do cho
vay trung dài hạn có rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt và khan hiếm hơn, thời gian
quay vòng vốn lâu hơn so với cho vay ngắn hạn.
12
+ Theo tài sản đảm bảo hoạt động cho vay của ngân hàng được chia thành
cho vay có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố và cho vay không có tài sản
đảm bảo (cho vay tín chấp). Thông thường ngân hàng có quyền quản lý các tài sản
của khách hàng thế chấp để đảm bảo cho các khoản cho vay, giá trị của các khoản
cho vay thường thấp hơn giá trị của tài sản đảm bảo. Khi xảy ra rủi ro đối với
khoản cho vay, khách hàng không thể hoàn trả lại số tiền tiền vay, ngân hàng có
quyền bán tài sản để thu hồi nợ xấu. Để hạn chế rủi ro, ngân hàng yêu cầu khách
hàng mua bảo hiểm cho tài sản thế chấp khi ký kết hợp đồng tín dụng. Ngoài ra,
ngân hàng còn thực hiện việc cho vay mà không đòi hỏi khách hàng phải thế chấp
tài sản hay cầm cố sổ tiết kiệm đối với các khách hàng quen thuộc và tin cậy, đây
là hình thức cho vay tín chấp, các khoản vay được đảm bảo bằng uy tín và mối
quan hệ của khách hàng vay tiền với ngân hàng. Thường ngân hàng rất hạn chế
việc cho vay tín chấp, do vậy loại này thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
+ Theo ngành kinh tế được phân chia theo đối tượng khách hàng trong các
ngành nghề kinh tế khác nhau, bao gồm: Cho vay sản xuất kinh doanh công
nghiệp, cho vay sản xuất nông nghiệp, cho vay đối với các ngành nghề sản xuất
kinh doanh thương mại và dịch vụ. Tỷ trọng của từng loại là khác nhau ở những
thời điểm khác nhau phụ thuộc vào định hướng chính sách của ngân hàng ở thời
kỳ đó.
+ Theo mức độ rủi ro các khoản vay bao gồm khoản có độ rủi ro thấp, trung
bình, và cao. Việc phân loại theo tiêu thức rủi ro, giúp ngân hàng quản lý tốt hơn
các khoản cho vay hạn chế được rủi ro tín dụng.
Hoạt động đầu tư: Để đa dạng hoá danh mục tài sản sinh lời, ngoài
hoạt động cho vay là hoạt động chính ngân hàng còn tìm kiềm các cơ hội đầu tư,
thực hiện đầu tư vào nhiều loại sản khác nhau với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và
một số mục đích khác.
+ Đầu tư chứng khoán: Với mục tiêu thanh khoản, đa dạng dạng hoá tài sản
và mục đích lợi nhuận, ngân hàng nắm giữ nhiều loại chứng khoán khác nhau.
Chứng khoán của Chính phủ do KBNN phát hành bao gồm: Chứng khoán ngắn
hạn, Chứng khoán trung và dài hạn. Xét về tính thanh khoản, đây là loại chứng
khoán có độ thanh khoản cao nhất, ít rủi ro nhất đồng thời là loại tài sản có tính
13
sinh lời thấp nhất. Với đặc điểm như vậy, Chứng khoán của Chính phủ được ngân
hàng nắm giữ vì mục tiêu thanh khoản và là tài sản đệm cho ngân quỹ, như đã
trình bày ở trên do thị trường tài chính Việt Nam chưa thực sự phát triển nên việc
coi chứng khoán do Chính phủ phát hành là tài sản bổ sung ngân quỹ còn nhiều
hạn chế. Chứng khoán của các ngân hàng khác, của các công ty tài chính và các
công ty khác bao gồm cổ phiếu và các giấy nợ do các tổ chức này phát hành có thu
nhập cao hơn, tuy nhiên mức độ rủi ro của các loại này cũng rất cao. Xét về tính
sinh lời, đây là những loại hấp dẫn thu hút sự đầu tư của các ngân hàng.
+ Đầu tư bất động sản: Đầu tư vào bất động sản luôn chứa đựng rất nhiều rủi
ro, do vậy việc đầu tư này của các ngân hàng thương mại chịu sự giám sát quản lý
rất chặt chẽ của NHNN. Do tính rủi ro của việc đầu tư vào bất động sản là rất lớn
ảnh hưởng trực tiếp đến tính thanh khoản của ngân hàng nên việc đầu tư bất động
sản luôn chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tổng tài sản của ngân hàng, để thực hiện
việc đầu tư đòi hỏi ngân hàng phải có một đội ngũ cán bộ, chuyên viên có năng
lực, nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
+ Đầu tư liên kết (góp vốn): Ngân hàng có thể tham gia góp vốn với các tổ
chức khác như các ngân hàng, các công ty tài chính, công ty bảo hiểm và các công
ty khác.
Tài sản có khác: Bao gồm nhà cửa và trang thiết bị của ngân hàng
phục vụ cho quá trình kin doanh của ngân hàng và cho thuê, các khoản ứng trước
cho cán bộ công nhân viên,… Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản song các
tài sản này ảnh hưởng tới vị thế, năng suất lao động của ngân hàng
1.1.2.3. Hoạt động trung gian
Nói đến ngân hàng là nói đến một tổ chức tài chính với một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất, thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất đối với
nền kinh tế quốc dân. Nói chung, các ngân hàng thu lợi bằng cách bán những tài
sản nợ có một số đặc tính về tính lỏng, rủi ro, lợi tức và dùng tiền thu được để mua
những tài sản có một số đặc trưng khác. Như thế, ngân hàng cung cấp một dịch vụ
chuyển một loại tài sản thành một loại tài sản khác cho công chúng. Quá trình
chuyển các tài sản và cung cấp một loạt dịch vụ (thanh toán, ghi chép sổ sách,
phân tích tín dụng,…) giống bất cứ quá trình sản xuất nào khác. Nếu ngân hàng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét