LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đảng bộ miền nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục ở vùng giải phóng 1961 – 1975": http://123doc.vn/document/1055220-dang-bo-mien-nam-lanh-dao-su-nghiep-giao-duc-o-vung-giai-phong-1961-1975.htm
viên ở lại miền Nam tiếp tục sự nghiệp giáo dục, đồng thời đội ngũ giáo viên
ở miền Bắc chi viện thường xuyên ngày càng đông đảo cho vùng giải phóng
miền Nam. Ngoài ra, Đảng bộ miền Nam còn tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng
giáo viên tại chỗ ở các địa phương với sự phát triển hệ thống trường sư phạm
rộng khắp. Thực hiện sự nghiệp giáo dục cách mạng miền Nam trong điều
kiện chiến tranh ác liệt, Đảng bộ miền Nam linh họat bố trí địa điểm tổ chức
lớp học, tìm tòi hình thức, phương pháp, giáo dục thích hợp, xây dựng nội
dung chương trình phù hợp, nhằm từng bước giáo dục nâng cao trình độ cho
cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp
chống Mỹ cứu nước.
Việc nghiên cứu Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục cách
mạng ở vùng giải phóng nhằm rút ra những kinh nghiệm lịch sử, khẳng định
vai trò giáo dục cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là một yêu
cầu cấp thiết có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn. Từ những suy
nghĩ trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự
nghiệp giáo dục ở vùng giải phóng 1961 – 1975” làm luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ, với lòng yêu ngành khoa học Lịch sử Đảng, mong muốn góp phần vào
việc tổng kết lịch sử kháng chiến chống Mỹ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian gần đây có nhiều công trình của cá nhân, tập thể nghiên cứu
sự nghiệp giáo dục cách mạng của Đảng ở miền Nam trong kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ. Song những công trình này nghiên cứu sự lãnh đạo
của Đảng nói chung đối với sự nghiệp giáo dục và chỉ đề cập dưới dạng lịch
sử giáo dục, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể
5
Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục ở vùng giải phóng trong
kháng chiến chống Mỹ. Có thể kể một số công trình sau:
Đề tài trọng điểm cấp Bộ (đã in thành sách 2004 ) “Giáo dục cách
mạng ở miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 Những kinh nghiệm và bài học lịch
sử”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Nhiều tác giả (2002),“Giáo dục Nam bộ thời kỳ kháng chiến chống
Pháp 1945 – 1954”, Nxb Trẻ.
Phạm Minh Hạc (1992), “Sơ thảo giáo dục Việt Nam 1945 – 1992),”
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Hội khoa học kinh tế Việt Nam – Trung tâm Thông tin và Tư vấn phát
triển (2005), “Giáo dục Việt Nam 1945 – 2000”, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Có một số luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, nghiên cứu về giáo dục và
đào tạo nghiên cứu những giai đoạn khác nhau ở các địa phương Trung Bộ và
Nam Bộ:
Phạm Kim Dung (1998), “Đảng bộ Sa Đéc (Đồng Tháp) thực hiện
chiến lược giáo dục 1975 – 1986”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Trần Văn Dũng (2001), “Đảng bộ tỉnh Bình Định lãnh đạo sự nghiệp
giáo dục đào tạo 1991 – 2000”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Lê Vũ Hùng (2000), “Đảng bộ Đồng Tháp với chiến lược phát triển
giáo dục (1976-1986)”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Lê Văn Nê (2002) “Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo sự nghiệp phát triển
giáo dục – đào tạo (1986 – 2000)”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh
Ngoài ra, Lịch sử Đảng bộ các tỉnh miền Nam ít nhiều có đề cập đến
sự nghiệp giáo dục cách mạng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
6
Những công trình nghiên cứu trên là tài liệu quí giá, bổ ích, có giá trị khoa
học lịch sử mà luận văn đã kế thừa.
Nghiên cứu “Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục ở vùng
giải phóng 1961 – 1975” là vấn đề khá mới mẻ, hạn chế về nguồn tư liệu. Do
vậy, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ khó có thể trình bày đầy đủ toàn diện.
Thực tế, Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục giáo dục cách mạng
ở vùng giải phóng những năm 1961 – 1975 chắc chắn phong phú hơn nhiều
so với những kết quả luận văn nghiên cứu được.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn
Đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục là nội dung rộng lớn. Do vậy, luận
văn chỉ giới hạn nghiên cứu Đảng bộ miền Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục
những năm 1961 – 1975 ở vùng giải phóng, mà không nghiên cứu toàn bộ
quá trình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục của Đảng trên phạm vi cả nước, cũng
như cả thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
– Mục đích
Thông qua thời gian lịch sử cụ thể 1961 – 1975, luận văn làm rõ những
chủ trương, chính sách của Đảng bộ miền Nam trong việc lãnh đạo sự nghiệp
giáo dục cách mạng. Đặc biệt là quá trình thực hiện duy trì, phát triển giáo
dục cách mạng trong điều kiện kèm kẹp, đánh phá ác liệt của Mỹ-ngụy, đưa
sự nghiệp giáo dục cách mạng miền Nam hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của
mình.
– Nhiệm vụ
Trình bày sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ miền Nam thực hiện nhiệm
vụ giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng trong tổng thể sự lãnh cuộc kháng
7
chiến chống Mỹ cứu nước. Trên cơ sở đó, phân tích làm sáng tỏ những sáng
tạo của Đảng bộ miền Nam trong việc đề ra các chủ trương, giải pháp giáo
dục cách mạng miền Nam. Bước đầu đúc rút những kinh nghiệm của Đảng bộ
miền Nam trong quá trình lãnh đạo công tác giáo dục cách mạng ở vùng giải
phóng 1961 – 1975.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm đường lối của Đảng về
giáo dục- đào tạo, đảm bảo tính đảng, tính khoa học trong quá trình nghiên
cứu; kết hợp chặt chẽ phương pháp luận macxít và hiện thực lịch sử.
Luận văn thuộc khoa học lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng nên chủ
yếu sử dụng phương pháp lịch sử – lôgíc, ngoài ra còn kết hợp sử dụng
phương pháp phân tích – tổng hợp, so sánh – đối chiếu.
6. Đóng góp mới và ý nghĩa luận văn
Luận văn hệ thống lại những đường lối, chủ trương của Đảng bộ miền
Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng; làm rõ nội
dung lãnh đạo thông qua tổ chức bộ máy giáo dục, đào tạo đội ngũ giáo viên,
chỉ đạo tổ chức thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm của Đảng bộ miền Nam; phân
tích, đúc rút nhũng kinh nghiêm, làm rõ vai trò sự nghiệp giáo dục cách mạng
trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng phát triển kinh tế – xã hội
hiện nay ở Nam Bộ
Luận văn góp phần tổng kết những kinh nghiệm, phương pháp lãnh đạo
giáo dục cách mạng của Đảng bộ miền Nam trong điều kiện chiến tranh cách
mạng giải phóng dân tộc. Kết quả nghiên cứu của luận văn chỉ là bước đầu
chắc chắn còn nhiều hạn chế thiếu sót, nhưng cũng gợi mở những vấn đề cần
8
tiếp tục bổ sung, nghiên cứu sự nghiệp giáo dục cách mạng trong kháng chiến
chống Mỹ.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương 5 tiết.
Chương 1
ĐẢNG BỘ MIỀN NAM LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC Ở VÙNG
GIẢI PHÓNG 1961 – 1975
1.1. Kiên trì giữ vững và phát triển sự nghiệp giáo dục cách mạng
1.1.1 Thành tựu giáo dục cách mạng ở miền Nam (1945 –1954)
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công nước nhà độc lập, tự do, nhân
dân ta chưa hưởng trọn niềm vui được bao lâu thì ngày 23/9/1945 thực dân
Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta
lần thứ hai. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam phải tiến hành cuộc
kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Trong bộn bề của cuộc kháng
chiến, Trung ương Đảng vẫn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục “chú trọng mở
mang giáo dục kháng chiến, mở trường chuyên môn về nghiệp vụ, chính trị,
quân sự,…xúc tiến bình dân học vụ…[ĐCSVN Văn kiện Đảng toàn tập, t8,
tr.182]
Nhân dân miền Nam đi đầu trong cuộc kháng chiến trường kỳ trải qua
bao gian lao, thử thách, nhưng vẫn đứng vững và giành được nhiều thắng lợi.
Đến đầu 1947 phong trào kháng chiến lên cao vùng tự do mở rộng, những căn
cứ địa được củng cố vững chắc, nhiều khu dân cư đông đúc được hình thành ở
các chiến khu như Đồng Tháp, U Minh, chiến khu Đ. Chính quyền nhân dân,
9
Ủy ban kháng chiến hành chính và các đoàn thể cứu quốc được thành lập và
củng cố từ tỉnh đến xã, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục kháng chiến miền
Nam phát triển. Trước tình hình chuyển biến thuận lợi, tháng 8/1947 Ủy ban
kháng chiến hành chính Nam Bộ quyết định thành lập Sở giáo dục Nam Bộ
và Viện văn hóa kháng chiến Nam Bộ. Hai cơ quan này làm nhiệm vụ kháng
chiến trên lĩnh vực giáo dục nhằm xóa bỏ những tàn tích giáo dục ngu dân, nô
dịch của thực dân Pháp, xây dựng nền giáo dục cách mạng dựa trên ba
nguyên tắc: “dân tộc, khoa học và đại chúng”. Sở Giáo dục Nam Bộ tập hợp
lực lượng vận động nhà giáo yêu nước góp sức xây dựng nền giáo dục mới.
Viện văn hóa kháng chiến nghiên cứu xây dựng chương trình, phương pháp
giảng dạy các môn khoa học xã hội như chính trị, văn học, lịch sử, địa lý…
phù hợp với trình độ tiếp thu của quần chúng nhân dân trên cơ sở quán triệt
nguyên tắc chỉ đạo của Đảng vào việc xây dựng chương trình, thể hiện được
bản chất và mục đích của nền giáo dục cách mạng trong kháng chiến. Nhiệm
vụ chủ yếu của giáo dục kháng chiến miền Nam là chống mù chữ, nâng cao
trình độ văn hóa cho nhân dân, đồng thời phát triển giáo dục phổ thông trung
học đào tạo bồi dưỡng cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ nhiệm vụ
kháng chiến, kiến quốc. Có thể khái quát những thành tựu cơ bản của giáo
dục kháng chiến miền Nam trong chống Pháp 1945 – 1954:
– Công tác xây dựng chương trình, sách giáo khoa mới luôn được quan
tâm
Sở giáo dục Nam Bộ xây dựng chương trình, sách giáo khoa mới của
nước Việt Nam độc lập và biên soạn tài liệu giảng dạy đầu tiên cần thiết cho
sự khởi động bộ máy giáo dục ở các tỉnh miền Nam. Trong những ngày đầu
khó khăn, tập thể cán bộ Sở giáo dục Nam Bộ trước hết quyết tâm xây dựng
chương trình sách giáo khoa cho bậc tiểu học, sau đó đến bậc trung học phổ
10
thông. Phương pháp tiến hành việc soạn thảo chương trình, tài liệu, sách giáo
khoa là kết hợp những hiểu biết và kinh nghiệm sẵn có với những yêu cầu
mới của cách mạng, nội dung chương trình với nền giáo dục mới trong điều
kiện kháng chiến, kiến quốc; đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng thanh thiếu niên tinh
thần dân tộc, lòng yêu nước, ý chí căm thù giặc, giáo dục đạo đức mới kiên
quyết đấu tranh giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Do trong điều kiện kháng
chiến lớp học phải tổ chức ngắn hạn, nên xây dựng chương trình ngắn gọn
chủ yếu những nội dung cần thiết phục vụ sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
như chính trị, văn hóa kháng chiến, lịch sử cách mạng Việt Nam…
– Đội ngũ giáo viên được đào tạo cơ bản
Ngay từ những ngày đầu thành lập, Sở giáo dục Nam Bộ đã tính đến
khâu quan trọng là đào tạo xây dựng đội ngũ giáo viên, trước mắt đào tạo cấp
tốc những giáo viên làm cán bộ cho phong trào giáo dục các tỉnh miền Nam.
Trong thời gian ba tháng học viên được tập huấn về một số vấn đề cơ bản của
nghiệp vụ sư phạm và chính trị. Viện khoa học kháng chiến mở lớp sư phạm
đặc biệt cho gần 100 giáo sinh đã qua trình độ học vấn bậc tú tài, sau một năm
đào tạo trở thành đội ngũ giáo viên trung học trẻ, nhiệt thành với công tác
giảng dạy. Trường sư phạm Nam Bộ mở hai khóa đào tạo 25 giáo viên. Số
giáo viên được đào tạo phân bổ về trường trung học kháng chiến, các Ty giáo
dục tỉnh miền Nam. Những khóa sư phạm đã đào tạo được đội ngũ giáo viên,
cán bộ giáo dục có tinh thần cách mạng, năng lực chuyên môn cần thiết, tận
tụy với công việc, luôn phát huy tính tự lực, sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ
giảng dạy, làm lực lượng nồng cốt cho sự hình thành một loạt trường trung
học kháng chiến ở miền Nam.
– Phong trào bình dân học vụ phát triển rộng khắp ở miền Nam
11
Những năm kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954, phong trào bình dân
học vụ chống mù chữ diễn ra rộng khắp ở vùng tự do các địa phương miền
Nam. Cán bộ Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc các cấp tích cực
vận động mọi người đi học, các xã, ấp ở vùng tự do đều có lớp bình dân học
vụ với khí thế thi đua sôi nổi, lớp bình dân học vụ trang bị cho người học một
số kiến thức như 4 phép tính, vệ sinh ăn ở, chống mê tín dị đoan… Tính đến
năm 1954 phong trào bình dân học vụ ở miền Nam đã xóa mù chữ cho hơn 3
triệu người, 20% trong số này được học qua lớp dự bị bình dân (lớp 3) để
thoát nạn mù chữ một cách chắc chắn, có kiến thức cơ bản cần thiết phục vụ
kháng chiến, kiến quốc. Hằng nghìn cán bộ, đảng viên các cấp các ngành
được học hết văn hóa bậc tiểu học. Mọi nguời đi học bình dân học vụ là hành
động yêu nước, biết đọc chữ quốc ngữ là niềm tự hào của người dân.
– Trường trung học kháng chiến – giáo dục phổ thông phát triển
Công tác giáo dục phổ thông phát triển nhanh chóng hầu khắp các
tỉnh Nam Bộ. Từ 1948, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ và sự chỉ đạo
chặt chẽ của Sở giáo dục Nam Bộ nhiều trường trung học kháng chiến mở ra
ở các địa phương miền Nam như trường Thái Văn Lung, Lê Văn Trí, Huỳnh
Phan Hộ, Nguyễn Văn Tố, Tiền Phong… Tổng số học sinh các trường trung
học kháng chiến có khoảng 10 ngàn, nhiều cán bộ chủ chốt, công nhân quân
giới, chiến sĩ thi đua được bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hóa, khoa học bậc
trung học phổ thông cơ sở (lớp 7, 8).
Ngành giáo dục miền Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy Nam Bộ và Ủy ban kháng chiến
hành chính Nam Bộ hoạt động tích cực, chủ động đạt được những thành tựu
đáng kể. Những người trực tiếp tham gia công tác giáo dục với lòng yêu nước
nồng nàn và tư duy sáng tạo, nhiệt tình cách mạng khắc phục mọi khó khăn,
12
thiếu thốn hoàn thành nhiệm vụ được giao, xây dựng được mô hình kháng
chiến mở đầu cho nền giáo dục cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Trong điều
kiện khó khăn của cuộc kháng chiến, các thầy cô giáo yêu nước đã đặt những
viên gạch đầu tiên cho nền giáo dục mới với phương châm “học đi đôi với
hành”, “nhà trường gắn liền với sản xuất, chiến đấu và dân vận” Nhiều học
sinh được rèn luyện trong kháng chiến về sau trở thành những cán bộ nồng
cốt ở các địa phương và Trung ương, những kinh nghiệm dạy – học trong
kháng chiến chống Pháp ở miền Nam tiếp tục phát huy trong sự nghiệp giáo
dục cách mạng thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nguyên tắc giáo dục
“dân tộc, khoa học và đại chúng” trở thành đường lối cơ bản của giáo dục
kháng chiến miền Nam, được quán triệt thể hiện trong mọi hoạt động của
ngành, từ việc xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu, sách giáo khoa, đến
phương pháp dạy – học… Giáo dục kháng chiến miền Nam không ngừng đẩy
mạnh phong trào bình dân học vụ, xóa mù chữ cho nhân dân vùng tự do, từng
bước nâng cao dân trí, bồi dưỡng sức dân xây dựng nền giáo dục mới, góp
phần đưa kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi. Giáo dục phổ thông phát
triển, nhiều trường trung học kháng chiến được thành lập đã đào tạo hàng vạn
cán bộ, chiến sĩ phục vụ sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.
Những thành tựu giáo dục miền Nam trong kháng chiến chống Pháp
1945 – 1954 gây dựng nên mô hình giáo dục trong chiến tranh cách mạng,
mục đích động cơ dạy – học được xác định rõ ràng, quan hệ thầy trò với tình
thương và trách nhiệm hướng vào mục tiêu chung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
nâng cao dân trí cho nhân dân. Trong khó khăn thiếu thốn, ở xa Trung ương
không được chi viện và chỉ đạo chặt chẽ về chuyên môn, nhưng giáo dục
kháng chiến miền Nam đã vận dụng đường lối giáo dục của Đảng, tranh thủ
sự lãnh đạo, chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ và Ủy ban kháng chiến hành chính
Nam Bộ đưa giáo dục kháng chiến miền Nam ngày càng phát triển. Với
13
những thành tựu giáo dục kháng chiến miền Nam đạt được cho thấy những
cán bộ tiến hành công tác giáo dục đã vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, đăt
nền móng đầu tiên cho sự nghiệp giáo dục cách mạng miền Nam tiếp tục phát
triển ở giai đoạn sau.
1.1.2 Sức sống mạnh mẽ của nền giáo dục cách mạng ở miền Nam
(1955 – 1960)
Nối tiếp truyền thống giáo dục cách mạng trong kháng chién chống
Pháp, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ ủy Nam Bộ, phong trào bình dân học
vụ, dạy bổ túc văn hóa cho cán bộ, chiến sĩ tiếp tục duy trì, phát triển. Sau
Hiệp định Giơnevơ, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo hình thức đấu tranh chính trị là
chủ yếu, tất cả công tác của Đảng đều nhằm động viên tập hợp quần chúng,
chủ yếu đấu tranh chính trị. Giáo dục được quan tâm hơn lúc nào hết để động
viên nhân dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ. Các cơ sở giáo dục
ở miền Nam thành lập trong kháng chiến chống Pháp không còn tồn tại một
cách hợp pháp như trước nữa, nhưng đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh
trong vùng căn cứ đã thích ứng nhanh chóng với hoàn cảnh mới của cuộc đấu
tranh cách mạng, tiếp tục duy trì hoạt động giáo dục và có ảnh hưởng tích cực
đến các tầng lớp nhân dân. Các cán bộ, giáo viên sống cùng với nhân dân để
bảo toàn lực lượng, vận động nhân dân học tập vào ban đêm hoặc rút vào
rừng, các chiến khu để học tập. Sự nghiệp giáo dục bấy giờ gắn liền với công
tác tuyên truyền vận động quần chúng chống lại nền giáo dục phản động của
Mỹ-ngụy. Những giáo viên trong vùng bị chiếm xin chuyển vùng đổi tên họ
hợp pháp để ra hoạt động dạy học ở các trường tư thục, hoặc trường bán công
tạo điều kiện hoạt động cách mạng. Tuy các trường tư này sử dụng chương
trình, sách giáo khoa của ngụy quyền Sài Gòn, nhưng trong quá trình giảng
dạy họ đã lồng nội dung giáo dục cách mạng, đề cao lòng yêu nước tự hào
dân tộc. Nhờ hoạt động tích cực nên từ đầu năm 1955 ở miền Nam mở được
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét