LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "chương 4- sự vận chuyển trong mô li-be": http://123doc.vn/document/572446-chuong-4-su-van-chuyen-trong-mo-li-be.htm
4
Nguồn (source – nơi cho, nơi xuất) là nơi sản xuất các chất
đồng hóa nhiều hơn là nhu cầu sử dụng của nơi này. Nguồn
chủ yếu ở cây là lá trưởng thành nhưng cũng có thể là do rễ
dựu trữ của cây lưỡng niên trong năm thứ hai.
Bể (sink – nơi nhận, nơi nhập) bao gồm các cơ quan không
quang hợp (rễ, củ, trái, hạt đang phát triển) hay cơ quan
không sản xuất đủ các sản phẩm quan hợp (như lá non). Có
hai loại bể là bể tiêu tụ và bể tích trữ.
Sự chuyển tiếp “nhập – xuất” ở lá
Các lá bắt đầu sự phát triển như một nơi nhập. Một lá song
tử diệp chỉ bắt đầu “xuất” khi rộng khoảng 25%, và hoàn thành
vai trò này khi rộng khoảng 40 – 50%. Sự xuất bắt đầu từ ngọn
tới gốc lá, và thật sự bắt đầu khi libe nạp đủ các chất đồng hóa
trong yếu tố sàng. Trong giai đoạn chuyển tiếp, vùng ngọn xuất,
trong khi vùng gốc lại nhập đường từ các lá cho.
KHÁI NiỆM VỀ “ NGUỒN” – “ BỂ”
CẤU TẠO CỦA LIBE
Libe có chức năng chủ yếu là dẫn truyền các
chất hữu cơ được tổng hợp từ lá đi khắp tất cả
các cơ quan khác nhau của cây.
Libe bao gồm:
- Mạch rây: được cấu tạo bởi các tế bào sống
chuyên hóa cao có cấu tạo rất đơn giản, không
có chất nguyên sinh, không nhân, không ti thể và
ít các cơ quan khác. Vách tế bào rây mỏng bằng
xenlulose, trên vách có vùng thủng lỗ đặc biệt gọi
là vùng rây
- Tế bào kèm: là những tế bào sống, dài, có
nhân, vách tế bào mỏng bằng xenlulose.
- Mô mềm libe: gồm những tế bào sống có vách
mỏng bằng xenlulose, có chức năng tích lũy tinh
bột, dầu và các sản phẩm khác.
- Sợi libe: gồm các tế bào hình thoi dài, vách
dày hóa gỗ hoặc không hóa gỗ, có chức năng
nâng đỡ.
Hình 1. Cấu tạo mạch rây của thân bí ngô
1. Mạch rây; 2. Phiến rây; 3. Dải liên kết;
4. Tế bào kèm.
Sự hình thành tế bào kèm là một dấu hiệu tiến hóa của các cây Hạt kín.
Hình ảnh libe chùm ngây
libe 1 bị ép dẹp, khó xác định. Libe 2 gồm những tế bào hình
chữ nhật, vách bằng xenlulose, sắp xếp thành dãy xuyên tâm
rõ.
THÀNH PHẦN DỊCH CỦA LIBE
Khi phân tích hóa học dịch nhựa cây, ta thu được
các dẫn liệu sau:
- Gluxit: Có khoảng 90% các chất tham gia vận
chuyển là gluxit, trong đó đường sacarozơ chiếm
đến 95-98% tổng số đường vận chuyển. Ngoài ra
còn có một lượng nhỏ đường glucozơ và fructozơ.
- Các chất hữu cơ khác: Ngoài gluxit là thành phần
chính còn có một số chất khác cũng tham gia vào
vận chuyển như một số axit amin (a.glutaric,
a.asparagic), một số axit hữu cơ (a. xitric, a.α-
cetoglutaric), các nguyên tố khoáng (P, K, Mg, Ca,
Na, Fe, Zn, Mn, Mo…), một số protein, a.nucleic, các
vitamin, enzym…
Có 2 loại: sợi libe sơ cấp và sợi libe thứ cấp.
Libe sơ cấp
Được hình thành từ tầng trước phát sinh của mô
phân sinh ngọn (mô phân sinh sơ cấp) gồm libe
trước và libe sau.
PHÂN LOẠI LIBE
+ Libe trước (Protophloem): có thành phần rây
chưa phân hóa đầy đủ, không có tế bào kèm. Tế
bào không nhân, nhiều chất tế bào, có không bào,
có các vùng rây trên phiến rây. Các thành phần
rây chỉ tồn tại cho đến khi libe thư cấp hoạt động.
PHÂN LOẠI LIBE
+ Libe sau ( Metaphloem): thành phần rây đã
phân hóa gồm các yếu tố: Tế bào kèm, mô mềm
libe, sợi libe. Tế bào có kích thước lớn, dài hơn
libe trước. Sau khi thành phần rây chết đi, libe sau
biến thành mô cứng (sợi).
Libe thứ cấp
Được hình thành từ mô phân sinh thứ cấp (tầng phát
sinh trụ) trong cấu tạo thứ cấp của cơ quan. Nó có
cấu tạo chuyên hóa bao gồm đầy đủ các thành
phần: mạch rây, tế bào kèm, sợi, mô mềm và các tia
libe.
PHÂN LOẠI LIBE
Ở vài thực vật dạng cỏ, các tế bào truyền
nằm cạnh yếu tố sàng, có vách và màng bọc
trong dể làm tăng bề vận chuyển.
Tia là các tế bào nhu mô nằm xuyên mô
mộc. Đó là con đường vận chuyển ngang của
các chất dinh dưỡng. Thiếu con đường này,
các tế bào ở xa libe hoạt động (như các tế
bào nhu mô trong mô mộc) sẽ bị cô lập và
chết.
TẾ BÀO TRUYỀN
TIA
MỘT SỐ KHÁI NiỆM LIÊN QUAN ĐẾN LIBE
Có bốn tính chất căn bản:
- Có tổ chức:xảy ra trong libe.
- Chọn lọc:chuyển các chất hữu cơ có nguồn gốc
từ quang hợp.
-
Định hướng:từ vùng cho đến vùng nhận.
- Trật tự:không thể bị xáo trộn hay đảo ngược.
TÍNH CHẤT CỦA SỰ CHUYỂN VỊ TRONG
LIBE
Sự chuyển triose-phosphat từ diệp lạp vào tế bào
chất: nhờ các protein vận chuyển.
Hai màng của bao diệp lạp rất khác nhau: màng ngoài hoàn
toàn thấm với các phân tử nhỏ (<13 kDa), nhờ sự hiện diện
của các protein như những ống nhỏ chứa đầy nước có tính
thấm rất ít chuyên biệt (khác với kênh ion); ngược lại, màng
trong có tính chọn lọc rất cao, hầu như không thấm các chất
hòa tan thích nước.
Do đó các sản phẩm quang hợp chỉ có thể qua màng trong
của diệp lạp nhờ các protein vận chuyển, đặc biết là các
protêin đối chuyển Pi / trioz-P (dehydroxyaceton-P-aldehyd
phosphoglycerid). Nhờ đó, các trioz-phosphat được chuyển ra
cytosol và được biến đổi thành sacaroz trong ngăn này.
SỰ VẬN CHUYỂN TỪ NHU MÔ VÀO MẠCH
SÀNG
Sự chuyển saccharose từ tế bào thịt lá tới yếu tố sàng
Chủ yếu theo con đường symplast (qua cầu liên bào).
Sacaroz di chuyển từ cytosol của tế bào thịt lá tới yếu tố sàng (các mạch
nhỏ nhất của lá) chủ yếu theo con đường symplast ( qua cầu liên bào). Ở
vài điểm gần yếu tố sàng, sacaroz có thể qua màng, ra vùng apoplast; và
từ apolast, sacaroz cũng có thể trở lại con đường symplast.
Sự nạp vào libe (nhập sàng = phloem loading)
Saccharose được chuyển vào yếu tố sàng theo mô hình đồng vận chuyển
( cơ chế hoạt động): ATPz màngg nguyên sinh chất bơm H+ ra khỏi tế
bào vào apoplast, tạo khuynh đọ diện hóa proton, lục dẫn này cho phếp
saccharose vào symplast của yếu tố sàng.
Các chất khác như acid amin và hormone thực vật (có nồng độ rất
thấp trong dịch libe so với saccharose) vào ống sàng bằng cách khuyếch
tán đơn giản qua lớp đôi phópholipid, sự khuyết tán dễ, hay theo
symplast.
SỰ VẬN CHUYỂN TỪ NHU MÔ VÀO MẠCH SÀNG
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét