Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

thực trạng hoạt động của ttnh ở việt nam - những tồn tại và giải pháp


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng hoạt động của ttnh ở việt nam - những tồn tại và giải pháp": http://123doc.vn/document/1052397-thuc-trang-hoat-dong-cua-ttnh-o-viet-nam-nhung-ton-tai-va-giai-phap.htm


Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
giao dịch ấn định. Vì tại phiên giao dịch này có sự hiện diện của các nhà
chức trách tiền tệ, đồng thời tỷ giá đợc xác định tại phiên giao dịch này đợc
công bố và chính thức là cơ sở tham chiếu có tính chất pháp định cho nhiều
trờng hợp trong giao dịch. Chính yếu tố có tổ chức này cùng với việc yết giá
duy nhất đối với từng đồng tiền (nhng không có nghĩa là chỉ có một tỷ giá
duy nhất) áp dụng các lệnh mua- bán đợc đa ra trớc một giờ nhất định, đã
khiến nhiều doanh nghiệp yêu cầu Ngân hàng của họ giải quyết các dịch vụ
liên quan đến ngoại tệ cho họ tại phiên ấn định để họ đợc hởng tỷ giá chính
thức để dễ áp dụng và cũng dễ kiểm soát.
Căn cứ vào thực tế của mỗi nớc có cách tổ chức thị trờng này một cách
riêng biệt, tuy nhiên có những nét đặc trng cơ bản của phiên ấn định nh sau:
- - Phiên giao dịch ấn định bao gồm các thành viên là các Ngân hàng th-
ơng mại và có sự tham gia chính thức của NHTƯ, tiến hành giao dich
với từng ngoại tệ.
- - Tỷ giá đợc yết giá theo hình thức gián tiếp với đồng tiền của nớc tổ
chức phiên. Trong phiên giao dịch mỗi loại ngoại tệ đợc xác định một tỷ
giá đợc gọi là tỷ giá ấn định, từ tỷ giá này trong giao dịch sẽ tính đợc
tỷ giá mua- bán bằng cách áp dụng biên độ biến động riêng cho từng
loại ngoại tệ.
- Giới hạn các đồng tiền đợc giao dịch tại phiên ấn định, không phải đồng
tiền nào cũng đợc giao dịch tại thị trờng này.
4.2.2. Thị trờng tiền gửi:
Đây là thị trờng tiến hành các hoạt động cho vay và đi vay (huy động- cho
vay) bằng ngoại tệ với những điều kiện cụ thể, thời hạn xác định và xác
định giá của vốn giao dịch. Cũng nh thị trờng thoả thuận tuỳ ý, thị trờng
tiền gửi mang tính quốc tế, hoạt động không ngừng và do quy luật cung-cầu
chi phối. Điều này có nghĩa là thị trờng tiền gửi bị tác động bởi các sự kiện
kinh tế, chính trị, xã hội với mức độ thậm chí lớn hơn thị trờng giao ngay,
do các nớc lớn đều sử dụng vũ khí lãi suất để tác động tới một loạt các chỉ
số kinh tế và đặc biệt tác động tới tỷ giá.
Thị trờng tiền gửi thể hiện qua lãi suất và là thị trờng có kỳ hạn chính xác.
Lãi suất trên thị trờng đợc thông báo theo 2 chiều huy động và cho vay đợc
tính trên cơ sở năm thơng mại với kỳ hạn chính xác.
5. Các nghiệp vụ cơ bản của TTNH:
Các chủ thể tham gia trên TTNH với t cách kinh doanh cho chính mình và
cho khách hàng của mình. Trên cơ sở các giao dịch giao ngay, giao dịch kỳ
hạn, giao dịch hoán đổi sẽ thoả mãn các nhu cầu có liên quan đến ngoại
tệ, phục vụ cho các mục tiêu khác nhau.
5.1. Giao dịch có kỳ hạn:
Giao dịch có kỳ hạn là giao dịch trong đó hai bên sẽ cam kết mua, bán với
nhau một số lợng ngoại tệ theo tỷ giá xác định sau một thời gian thoả thuận
kể từ ngày ký kết giao dịch.
Trong giao dịch kỳ hạn, mọi điều kiện mua bán đợc cố định tại thời điểm
thoả thuận, việc giao nhận chỉ đợc thực hiện vào ngày giá trị đã thoả thuận
trớc trên cơ sở kỳ hạn mua bán. Tỷ giá đợc sử dụng trong giao dịch này là
tỷ giá kỳ hạn. Tỷ giá này đợc xác định trên tỷ giá giao ngay và chênh lệch
lãi suất của hai đồng tiền.
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
5
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
5.2. Giao dịch hoán đổi ( Swap)
Giao dịch hoán đổi dùng để hoán đổi lãi suất và hoán đổi ngoại hối. Hoán
đổi lãi suất là một hợp đồng giữa hai bên để trao đổi số lãi phải trả tính trên
một số tiền nhất định. Các ngân hàng và doanh nghiệp thực hiện giao dịch
hoán đổi lãi suất nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro do biến động của lãi suất
trên thị trờng.
Giao dịch hoán đổi ngoại hối ( còn gọi là giao dịch kỳ hạn hai chiều ) bao
gồm đồng thời cả hai giao dịch: giao dịch mua và giao dịch bán cùng một
số lợng đồng tiền này với đồng tiền khác, trong đó kỳ hạn thanh toán của
hai giao dịch này là khác nhau, tỷ giá của hai giao dịch đợc xác định tại
thời điểm ký kết hợp đồng.
Giao dịch hoán đổi ngoại hối đợc thực hiện theo một trong hai hình thức
sau:
Một là, kết hợp giữa một giao dich trao ngay và một giao dịch có kỳ hạn
( Spot-Forward swap )
Hai là, kết hợp giữa hai giao dịch có kỳ hạn, nhng có ngày giá trị khác nhau
(Forward- Forward swap)
Thực chất của giao dịch này là ngời bán cam kết sẽ mua lại chính lợng
ngoại tệ đã thoả thuận bán sau một thời gian nhất định với tỷ giá đợc xác
định tại thời điểm thoả thuận mua, bán. Trong giao dịch hoán đổi, tỷ giá và
ngày giá trị của giao dịch mua và bán đợc xác định nh giao dịch trao ngay
nếu là giao dịch trao ngay và nh giao dịch có kỳ hạn, nếu là giao dịch có kỳ
hạn. Bằng cách hoán đổi này, các bên tham gia có đợc ngoại tệ mình mong
muốn. Ví dụ: một công ty của Đức có khoản nợ bằng USD với lãi suất cố
định, thông qua hoán đổi ngoại tệ, công ty có thể chuyển số nợ này sang nợ
bằng EUR, qua đó tránh đợc rủi ro do biến động tỷ giá hối đoái giữa EUR
và USD.
5.3. Giao dịch quyền chọn
Quyền lựa chọn cho phép ngời mua có quyền (nhng không bắt buộc)
mua hoặc bán một số lợng ngoại tệ với tỷ giá ấn định ( tỷ giá thực hiện vào
thời hạn quy định).Một hợp đồng quyền chọn cho phép ngời mua có quyền
mua một số lợng ngoại tệ theo những điều kiện của quyền chọn gọi là
quyền chọn mua. Một hợp đồng quyền chọn cho phép ngời mua có quyền
bán một số lợng ngoại tệ với những điều kiện quy định trớc gọi là quyền
chọn bán. Để có đợc quyền chọn mua hoặc bán, ngời mua phải nộp phí- gọi
là phí quyền. Phí quyền thông thờng phải trả ngay khi ki hợp đồng. Thời
hạn của hợp đồng quyền chọn chính là thời gian duy trì quyền chọn. Thời
gian duy trì càng dài thì ảnh hởng của yếu tố chênh lệch lãi suất càng lớn.
Do đó khả năng thay đổi tỷ giá càng lớn. Đối với quyền chọn kiểu Mỹ, cho
phép ngời mua thực hiện quyền của mình vào bất cứ thời điểm nào trong
thời hạn của hợp đồng. Đối với quyền chọn kiểu châu Âu, chỉ cho phép ng-
ời mua thực hiện hợp đồng khi đến hạn.
Trong giao dịch quyền chọn, ngời mua thực hiện quyền mua hay bán phụ
thuộc vào sự biến động của tỷ giá hiện hành so với tỷ giá thực hiện trên hợp
đồng.
Đối với quyền chọn mua, nếu vào thời điểm đáo hạn, tỷ giá trên thị trờng
nhỏ hơn hoặc bằng tỷ giá thực hiện thì ngời mua quyền sẽ không thực hiện
quyền mua, trờng hợp này gọi là giảm giá quyền chọn OTM ( out of the
money )hoặc ngang giá quyền chọn- ATM( At the money). Khoản lỗ của
ngời mua quyền chọn mua là phí quyền. Nếu tỷ giá trên thị trờng lớn hơn tỷ
giá thực hiện, ngời mua sẽ thực hiện quyền mua ngoại tệ, tiến hành giao
dịch này ngời thực hiện có lãi và gọi là đợc giá quyền chọn- ITM ( In the
money).
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
6
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
Đối với hợp đồng quyền chọn bán, nếu tỷ giá trên thị trờng nhỏ hơn tỷ giá
thực hiện, ngời thực hiện quyền sẽ có lời, còn nếu trên thị trờng lớn hơn
hoặc bằng tỷ giá thực hiện sẽ không thực hiện quyền.
5.4. Giao dịch tơng lai
Giao dịch tơng lai là một thoả thuận mua, bán một số lợng ngoại tệ cố định
theo tỷ giá ấn định vào ngày ký kết hợp đồng.
Giao dịch tơng lai đợc tiêu chuẩn hoá và đợc thực hiện trong sở giao dịch.
Các doanh nghiệp, ngân hàng có thể gửi lệnh đặt mua hay bán một số lợng
cố định ngoại tệ cho các nhà môi giới hay các thành viên của sở giao dịch.
Công ty thanh toán bù trừ của sở sẽ đảm bảo cho 2 bên mua và bán rằng:
các lệnh mua và bán sau khi đã đợc đối chiếu và khớp với nhau sẽ chắc
chắn đợc thực hiện. Để các hợp đồng tơng lai đợc giao dịch với số lợng lớn
và giảm bớt chi phí thì chỉ tồn tại một số ít ngày giá trị. Tại sở giao dịch
Chicagô ( CMF ) chỉ có 4 ngày giá trị trong năm- đó là vào thứ 4 của tuần
thứ 3 trong các tháng 3,6,9 và 12. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong giao
dịch tơng lai thì giá các hợp đồng đợc yết sao cho đô la Mỹ ( USD) là đồng
tiền định giá còn các ngoại tệ khác đóng vai trò đồng tiền yết giá.
Nếu không tồn tại rủi ro trong kinh doanh ngoại hối, tức là mọi dự đoán về
tỷ giá trong tơng lai là chính xác thì tỷ giá trong các hợp đồng tơng lai
chính là tỷ giá giao ngay dự đoán tại thời điểm hợp đồng đến hạn.
Để ký kết hợp đồng tơng lai, điều bắt buộc đối với cả ngời mua và ngời bán
phải có một khoản tiền kí quỹ. Khoản kí quỹ ban đầu thông thờng bằng 4%
giá trị của hợp đồng. Khoản kí quỹ này đợc duy trì trên tài khoản mở tại sở
giao dịch để đảm bảo khả năng thanh toán cho các bên cuối mỗi ngày. Lời
hay lỗ mà các bên tham gia đợc hởng hay phải chịu đợc trích từ tài khoản kí
quỹ này. Khi số tiền kí quỹ giảm xuống dới mức qui định thì những ngời
nắm giữ hợp đồng tơng lai phải nộp bổ xung. Nếu ngời nắm giữ hợp đồng t-
ơng lai không thực hiện nghĩa vụ kí quỹ bổ xung thì sở giao dịch sẽ tự động
thanh lý hợp đồng.
6. Các nhân tố tác động tới hoạt động của TTNH
Trong dài hạn:
- Mức giá cả tơng đối: Theo thuyết ngang giá sức mua (PPP), khi giá hàng
nội tệ ( ví dụ giá hàng Việt Nam) tăng lên ( giá hàng ngoại giữ yên), thì cầu
về hàng VN giảm xuống và đồng VNĐ có xu hớng giảm giá để cho hàng
VN có thể vẫn bán đợc tốt. Mặt khác nếu giá hàng Trung Quốc tăng lên sao
cho giá tơng đối của hàng VN giảm xuống thì cung về hàng VN tăng lên
và đồng VNĐ có xu hớng tăng giá bởi vì hàng VN sẽ tiếp tục bán đợc tốt
ngay cả với giá trị cao hơn của đồng nội tệ.
Về lâu dài, một sự tăng lên trong mức giá của một nớc ( tơng đối so với
mức giá nớc ngoài) làm cho đồng tiền của nớc đó giảm giá, trong khi sự
giảm xuống của mức giá tơng đối của một nớc làm cho đồng tiền của nớc
đó tăng giá.
- Thuế quan và cô-ta
Những hàng rào ngăn cản tự do buôn bán nh thuế quan ( thuế hàng
nhập) và cô- ta ( những hạn chế về số lợng hàng ngoại có thể đợc nhập
khẩu) có thể tác động đến tỷ giá ngoại hối. Ví dụ khi Việt Nam áp đặt
một loại thuế hoặc cô-ta đối với một loại hàng hoá nớc ngoài nào đó.
Điều này sẽ làm tăng cầu về loại hàng đó đợc sản xuất ở trong nớc. Khi
đó VNĐ sẽ có xu hớng tăng giá.Nh vậy thuế quan và cô-ta về lâu dài
làm cho đồng tiền của một nớc tăng giá.
- Sự a thích hàng nội so với hàng ngoại
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
7
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
Nếu sự ham thích của ngời Trung Quốc đối với hàng Việt Nam( ví dụ gạo
VN) tăng lên thì cầu về gạo Việt nam ( xuất) tăng lên làm tăng giá đồng
VNĐ. Cũng nh vậy, nếu ngời Việt Nam quyết định rằng họ thích gạo Trung
Quốc hơn gạo VN, thì cầu về gạo Trung Quốc tăng lên làm cho giảm giá
đồng VNĐ.
Cầu đối với hàng xuất của một nớc tăng lên về lâu dài làm cho đồng tiền
của nớc đó tăng giá trong khi cầu về hàng nhập tăng lên làm cho đồng tiền
của nớc đó giảm giá.
- Năng suất lao động
Nếu năng suất lao động của một nớc cao hơn các nớc khác, thì những nhà
kinh doanh trong nớc đó có thể hạ giá hàng nội tơng đối so với hàng ngoại
và vẫn thu đợc lãi. Kết quả cầu về hàng nội tăng lên và đồng nội tệ có xu h-
ớng tăng giá bởi vì hàng nội sẽ tiếp tục đợc bán tốt với một giá trị cao hơn
của đồng nội tệ. Mặt khác nếu năng suất lao động của nớc đó kém hơn các
nớc khác thì hàng hoá nớc đó trở thành tơng đối đắt hơn và đồng tiền của
nó có xu hớng giảm giá. Về lâu dài, do năng suất lao động của một nớc cao
hơn tơng đối so với các nớc khác, nên đồng tiền của nớc đó tăng giá.
Trong ngắn hạn:
- So sánh lợi tức dự tính đối với tiền gửi trong nớc và nớc ngoài
Thuyết về cầu tài sản cho rằng nhân tố quan trong nhất tác động đến cầu về
tiền gửi trong nớc (VNĐ) và tiền gửi nớc ngoài( USD) là thu nhập dự tính
về tài sản đó so sánh với nhau. Khi ngời Việt Nam và ngời nớc ngoài dự
tính rằng lợi tức về tiền gửi VNĐ là cao hơn so với lợi tức về tiền gửi nớc
ngoài, thì sẽ có một cầu cao hơn về tiền gửi VNĐ và một cầu thấp hơn về
tiền gửi USD.
- Điều kiện ngang giá tiền lãi
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà ở đó có sự lu thông vốn, nghĩa
là, ngời ngoại quốc có thể dễ dàng mua tài sản Việt Nam, chẳng hạn nh gửi
tiền VNĐ , và ngời Việt Nam cũng dễ dàng mua tài sản nớc ngoài nh tiền
gửi USD chẳng hạn. Bởi vì tiền ngân hàng ngoại quốc và tiền gửi ngân hàng
Việt Nam có rủi ro nh nhau và tính lu thông nh nhau và bởi vì có ít trở ngại
cho việc lu thông vốn, thì rất là có lí do để cho rằng các tiền gửi là những
vật thay thế hoàn hảo, nếu lợi tức dự tính về tiền gửi VNĐ cao hơn tiền gửi
nớc ngoài, thì cả ngời nớc ngoài và ngời Việt Nam sẽ chỉ muốn giữ tiền gửi
Việt Nam và sẽ không thích giữ tiền gửi nớc ngoài. Mặt khác, nếu lợi tức dự
tính về tiền gửi nớc ngoài cao hơn về tiền gửi VNĐ, thì ngời nớc ngoài và
ngời Việt Nam sẽ không muốn giữ tiền gửi VNĐ và chỉ muốn giữ tiền gửi
nớc ngoài. Để cho những lợng cung tiền hiện có về tiền gửi VNĐ cũng nh
tiền gửi nớc ngoài đợc ngời ta nắm giữ, thì phải đảm bảo rằng không có sự
khác nhau trong lợi tức dự tính về những khoản tiền gửi đó.Hay nói một
cách khác, điều kiện ở đây là: lãi suất trong nớc bằng lãi suất nớc ngoài
cộng với mức tăng giá dự tính của đồng ngoại tệ. Nếu lãi suất trong nớc cao
hơn lãi suất nớc ngoài, có nghĩa là có sự tăng giá dự tính dơng của ngoại tệ
bù vào mức lãi suất nớc ngoài thấp hơn. Một lãi suất trong nớc 15% đối lại
với mức lãi suất nớc ngoài 10% có nghĩa là mức tăng giá dự tính của ngoại
tệ phải là 5% ( hoặc tơng đơng, tức là mức sụt giá dự tính của đồng nội tệ
phải là 5%.
Có nhiều cách để xem xét điều kiện ngang giá tiền lãi. Trớc tiên, chúng ta
phải thừa nhận là ngang giá tiền lãi chỉ có ý nói rằng lợi tức dự tính là nh
nhau về tiền gửi VNĐ cũng nh về tiền gửi USD. Chúng ta cũng phải giả
thiết rằng tiền gửi ngân hàng trong nớc và nớc ngoài là những vật thay thế
hoàn hảo ( đợc a thích nh nhau ), thì điều kiện ngang giá lợi tức là điều kiện
thăng bằng cho thị trờng ngoại hối. Chỉ khi nào tỷ giá ở mức mà lợi tức dự
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
8
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
tính về tiền gửi trong nớc và về tiền gửi nớc ngoài ngang bằng nhau-nghĩa
là ngang giá tiền lãi có hiệu lực- thì ngời ta sẽ thích giữ số tiền gửi trong n-
ớc và tiền gửi nớc ngoài còn lại.
II. Thực trạng hoạt động của TTNH ở Việt Nam - Những
tồn tại và giải pháp
1. Thời kỳ trớc năm 1991
Đây là thời kỳ nền kinh tế mang tính kế hoạch hoá tập trung bao cấp, nhà n-
ớc can thiệp vào mọi mặt của đời sống xã hội, quyết định các chính sách
kinh tế vi mô và vĩ mô theo một kế hoạch quy mô tập trung toàn quốc. Sự
can thiệp này đã ngăn cản khả năng phát huy tác dụng của quy luật cung
cầu trên thị trờng, nếu có thì cũng bị bóp méo, sai lệch. Hơn nữa, hệ thống
các nớc XHCN lại áp dụng một chiến lợc phát triển kinh tế hớng nội, đóng
cửa, các mối quan hệ với bên ngoài đều thông qua hệ thống độc quyền của
Nhà nớc về ngoại thơng và ngoại hối. Do vậy, việc áp dụng chế độ tỷ giá
cố định do Nhà nớc độc quyền xác định, không cần tính đến những yếu tố
cung cầu của thị trờng. Với cơ sở kinh tế nh vậy, Việt Nam, cũng nh các n-
ớc XHCN khác đều duy trì phơng pháp xác định tỷ giá dựa trên cơ sở so
sánh sức mua đối nội và sức mua đối ngoại giữa các đồng tiền và sau đó đ-
ợc quyết định bằng những thoả thuận đa biên trong các Hiệp định thanh
toán đợc ký kết giữa các nớc XHCN với nhau. Sản phẩm của cơ chế xác
định tỷ giá này là, các nớc XHCN duy trì chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá,
bao gồm tỷ giá mậu dịch (hay tỷ giá chính thức), tỷ giá phi mậu dịch ( bao
gồm cả tỷ giá kiều hối) và tỷ giá kết toán nội bộ, đồng thời triệt tiêu môi tr-
ờng và mọi điều kiện để hình thành và phát triển các thị trờng nói chung,
trong đó có TTNH.
Hậu quả của một cơ chế tỷ cố định và đa tỷ giá mang tính áp đặt bất chấp
quy luật cung cầu tiền tệ đã để lại hậu quả hết sức nghiêm trọng. Đồng tiền
Việt Nam đợc định giá quá cao so với các đồng tiền tự do chuyển đổi. Tỷ
gía chính thức ngày càng chênh lệch xa tỷ giá thực tế, làm cho hoạt động
xuất khẩu gặp khó khăn, cán cân thơng mại bị thâm hụt nặng. Đối với các
doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đã rơi vào
tình trạng khó khăn thua lỗ, tuy có chế độ thu bù chênh lệch ngoại thơng( lỗ
thì ngân sách cấp bù, còn lãi thì nộp ngân sách) nhng dù sao cũng triệt tiêu
động lực phát triển xa hơn.
Ngày 26/3/1988, Nghị định 53/HĐBT ra đời, tách hệ thống Ngân hàng Việt
Nam từ một cấp thành hai cấp: Ngân hàng Nhà nớc và hệ thống Ngân hàng
chuyên doanh. Ngân hàng Nhà nớc là NHTƯ thực hiện chức năng quản lý
vĩ mô, ban hành chính sách tiền tệ, tín dụng và ngân hàng; hệ thống Ngân
hàng chuyên doanh thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ tín dụng. Bớc
đầu từng Ngân hàng chuyên doanh hoạt động theo đặc thù gắn liền với từng
lĩnh vực kinh tế. Cụ thể là: Ngân hàng Ngoại thơng hoạt động về lĩnh vực
đối ngoại, nh kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế; Ngân hàng Công
thơng hoạt động trong lĩnh vực công thơng nghiệp; Ngân hàng nông
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và Ngân hàng đầu t hoạt động
trong lĩnh vực đầu t. Nh vậy, chỉ duy nhất có Ngân hàng Ngoại thơng là đợc
phép hoạt động và kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế và mở tài
khoản ở nớc ngoài; các ngân hàng khác chỉ đợc hoạt động trong nớc.
Nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới của đất nớc, bảo vệ độc lập và chủ quyền về
tiền tệ, phát triển nền kinh tế quốc dân, góp phần mở rộng quan hệ về kinh
tế, chính trị và văn hoá với nớc ngoài, ngày 18/10/1988, Hội đồng Bộ trởng
đã ban hành Nghị định số 161/ HĐBT về Điều lệ quản lý ngoại hối của
nớc CHXHCN Việt Nam, thay thế Điều lệ quản lý ngoại hối Ban hành theo
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
9
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
Nghị định số 102/ CP , ngày6/7/1963 của Hội đồng Chính phủ. Sau khi
Nghị định 161 ra đời, ngày 15/3/1989 Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam có
Thông t số 33-NH/TT hớng dẫn thi hành. Một trong những quan điểm mới
về quản lý và kinh doanh ngoại hối theo tinh thần Nghị định 161 và thông t
33 có thể nêu ra nh sau:
Nhà nớc CHXHCN Việt Nam thông qua NHNN Việt Nam thực hiện thống
nhất quản lý Nhà nớc về ngoại hối và kinh doanh ngoại hối. Mọi việc kinh
doanh ngoại hối đều đợc thực hiện theo quy định của NHNN Việt Nam.
NHNT Việt Nam là cơ quan đợc phép kinh doanh ngoại hối. Ngoài ra, các
Ngân hàng chuyên doanh khác, các Ngân hàng liên doanh với nớc ngoài,
các chi nhánh Ngân hàng nớc ngoài tại Việt Nam, các tổ chức kinh tế trong
nớc muốn kinh doanh ngoại hối hoặc dịch vụ thu ngoại tệ đều phải đợc
NHNN Trung ơng Việt Nam cho phép.
Nh vậy có thể nói lần đầu tiên ở Việt Nam thế độc quyền trong kinh doanh
ngoại hối đã đợc dỡ bỏ. Từ nay, các NHTM nói chung muốn kinh doanh
ngoại hối có thể làm thủ tục để NHNN cấp phép. Đây đợc xem nh sự khởi
đầu tạo ra môi trờng và điều kiện cho hoạt động của TTNH có tổ chức, hình
thành một sân chơi chứa đựng yếu tố cạnh tranh của thị trờng. Trong thực
tế, trớc sự đòi hỏi phát triển các hoạt động ngan hàng, đặc biệt là các nghiệp
vụ ngân hàng quốc tế. NHNN đã lần lợt cấp giấy phép kinh doanh ngoại
hối, thanh toán quốc tếcho các NHTM hoạt động ở Việt Nam. Tuy nhiên,
về tỷ giá ( yếu tố quan trọng nhất của TTNH), sau khi có chủ trơng thu hút
vốn nớc ngoài, đặc biệt là sau khi thông qua Luật đầu t Nớc ngoài tại Việt
Nam năm 1987, luồng vốn ngoại tệ bằng USD lần lợt vào Việt Nam. Song,
do chúng ta vẫn duy trì tỷ giá chính thức do NHNN áp đặt nên vẫn còn
khoảng cách khá xa so với sức mua thực tế của VNĐ và thị trờng tự do. Tỷ
giá mua bán của Ngân hàng đợc phép dựa trên cơ sở tỷ giá chính thức do
NHNN công bố cộng trừ 5% và chênh lệch giữa tỷ giá mua bán quy định là
0,5%.
Cho dù có những bớc chuyển biến, nhng ở Việt Nam vẫn thiếu vắng một thị
trờng ngoại hối chính thức hoàn chỉnh hơn để chắp nối cung cầu ngoại tệ và
tạo cơ sơ xác định tỷ giá chính thức một cách khách quan sát với quan hệ
cung cầu trên thị trờng, nhằm thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, đầu t nớc
ngoài và thu hút nguồn lực ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng. Đứng trớc tình
hình đó, Thống đốc NHNN đã ra Quyết định số 107-Nh/QĐ, ngày
16/8/1991 ban hành quy chế hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ đã
đợc thành lập và đi vào hoạt động tại TP.HCM và Hà Nội.
2. Thời kỳ 1991-1994
Thời kỳ 1991-1994 là giai đoạn tiếp theo của quá trình chuyển đổi theo h-
ớng thị trờng. Trong giai đoạn này đứng về phơng diện thanh toán quốc tế,
Việt Nam đứng trớc một tình thế vô cùng khó khăn. Thị trờng với các nớc
XHCN cũ bị thu hẹp đáng kể, bên cạnh hệ thống thanh toán đa biên bị tan
rã, tất cả các nớc XHCN đều đồng loạt chuyển đổi đồng tiền thanh toán với
Việt Nam bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi( chủ yếu bằng USD). Việc
chuyển đổi đồng tiền thanh toán có ảnh hởng lớn đến khả năng thanh toán
của Việt Nam bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. Vì từ trớc năm 1991, hầu hết
nguồn thu ngoại tệ của Việt Nam đều bằng đồng Rúp chuyển nhợng, chỉ có
một tỷ lệ nhỏ bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. Cán cân vãng lai và cán cân
thơng mại của Việt Nam thâm hụt lớn, nhập khẩu gấp 3 lần xuất khẩu, sự
thiếu hụt trong cán cân thơng mại đợc bù đắp bằng các khoản viện trợ, cho
vay của các nớc XHCN và chủ yếu là Liên Xô cũ.
Đứng trớc tình thế hết sức khó khăn về cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế
và nhu cầu bức bách về ngoại tệ cho thanh toán quốc tế, một câu hỏi đặt ra
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
10
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
là:làm thế nào để giải quyết đợc vấn đề trên mà không tác động mạnh đến
tình hình giá cả và sản xuất trong nớc? Xử lý vấn đề này không chỉ có
ngành Ngân hàng mà phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách lớn
của chính phủ và của từng ngành. Các chính sách đó bao gồm:
a. Các chính sách lớn của Chính phủ
Đề ra 3 chơng trình kinh tế lớn mà Chính phủ phải tập trung chỉ đạo, đó
là: Chơng trình sản xuất hàng xuất khẩu; Chơng trình khuyến khích sản
xuất hàng tiêu dùng; và Chơng trình tăng cờng sản xuất lơng thực.
Với 3 chơng trình kinh tế mà Đảng và Chính phủ quan tâm chỉ đạo hỗ trợ
đắc lực cho cung ngoại tệ của nền kinh tế và giảm nhu cầu chi ngoại tệ tạo
nên thế cân bằng cho cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, đồng thời
tạo tiền đề để hình thành và phát triển TTNH sau này.
- Chơng trình sản xuất hàng xuất khẩu: Đã tạo thêm nguồn thu ngoại tệ
vững chắc cho nền kinh tế. Nếu nh trớc năm 1991 nhập khẩu gấp 3 lần
xuất khẩu thì đến năm 1991 xuất khẩu đã tăng lên và liên tục tăng trong
các năm nh: 1991 là 2.078 triệu USD ; năm 1992 là 2.580 triệu USD;
1993 là 2.985 triệu USD; 1994 là 4.054 triệu USD; 1995 là 5.198 triệu
USD và 1996 là 7.330 triệu USD. Hơn nữa, do xuất khẩu tăng khá đã tạo
thêm công ăn việc làm, tạo lòng tin cho giới đầu t nhiều hơn và giảm đ-
ợc áp lực các vấn đề xã hội.
- Chơng trình khuyến khích sản xuất h àng tiêu dùng:Nhu cầu tiêu dùng
của xã hội ngày càng gia tăng, nếu nh trớc năm 1991 hàng tiêu dùng của
Việt Nam hết sức nghèo nàn và thiếu nghiêm trọng, các nhu cầu tiêu
dùng bình thờng của ngời dân nh từ xà phòng, thuốc đánh răng hay vải
vóc còn phải phân phối. Khi Đảng và Chính phủ thực hiện chính sách
mở cửa để khuyến khích đầu t nớc ngoài cũng nh nới lỏng chính sách
ngoại thơng thì hàng tiêu dùng ngoại tràn vào Việt Nam cũng làm cho
nhu cầu về ngoại tệ để nhập khẩu tăng lên. Tuy nhiên, chính sách
khuyến khích sản xuất hàng tiêu dùng cũng làm cho nguồn hàng tiêu
dùng phong phú giảm sức ép về nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu hàng hoá
tiêu dùng.
- Khuyến khích sản xuất lơng thực: Lơng thực đối với nớc ta là một mặt
hàng chiến lợc, quốc kế dân sinh. Trong những năm trớc năm 1990 sản
xuất lơng thực nớc ta cha đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc, hàng
năm nhà nớc phải bỏ ra một lợng ngoại tệ đáng kể để nhập khẩu lơng
thực cho nhu cầu của đất nớc. Từ khi Chính phủ tập trung chỉ đạo và có
chính sách khuyến khích lơng thực thì nguồn lơng thực của Việt Nam đã
không những đáp ứng đợc nhu cầu trong nớc mà Việt Nam đã trở thành
nớc xuất khẩu gạo lớn trên thị trờng quốc tế. Việc ta xuất khẩu đợc gạo
đã tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ tăng cung và giảm cầu ngoại tệ của nền
kinh tế.
Ngoài 3 chơng trình kinh tế lớn tác động tích cực đến cung cầu ngoại tệ trên
thị trờng ngoại hối thì chính sách khuyến khích đầu t nớc ngoài trực tiếp
vào Việt Nam cũng nh các nguồn chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền đơn
phơng khác đã làm cho nguồn ngoại tệ của nền kinh tế ngày một tăng.
b. Về phía NHNN:
Là cơ quan đợc Nhà nớc giao cho trọng trách quản lý nguồn ngoại tệ vào và
ra của nền kinh tế, phục vụ đắc lực cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất n-
ớc và xây dựng điều hành chính sách tỷ giá và quản lý ngoại hối của Việt
Nam. Trong thời gian đó, NHNN đã đề xuất với Chính phủ thành lập Quỹ
điều hoà ngoại tệ tại NHNN để tập trung đáp ứng nhu cầu cần thiết của nền
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
11
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
kinh tế trong những giai đoạn đầu còn khó khăn và can thiệp TTNH nhằm
ổn định tỷ giá. Đồng thời năm 1991 là năm đánh dấu mốc lịch sử về việc
hình thành nền móng cho TTNH Việt Nam, đó là việc Thống đốc NHNN ra
quyết định số 107-NH/QĐ ngày 16/8/1991 về việc ban hành Quy chế tổ
chức và hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ (TTGDNT). Trên cơ sở
Quy chế này, hai Trung tâm giao dịch ngoại tệ tại TP.HCM và Hà Nội lần l-
ợt ra đời vào tháng 8 và tháng 11/1991. Những nội dung chính của Quy chế
tổ chức hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ có thể tóm lợc nh sau:
Mục đích hoạt động:
- Nhằm hình thành một TTNH có tổ chức ở VN. Thông qua hoạt động của
TTGDNT. NHNN nắm bắt đợc thực tế về cung cầu ngoại tệ, đồng thời
tăng cờng công tác giám sát việc quản lý vĩ mô của Nhà nớc về tiền tệ.
- Thông qua phiên giao dịch ở trung tâm xác định một tỷ giá hợp lý phản
ánh đúng sức mua thực tế của VNĐ
- Là bớc đệm cho việc thiết lập một thị trờng hối đoái hoàn chỉnh ở VN.
- NHNN từng bớc bổ sung Quỹ dự trữ ngoại tệ và tiến tới can thiệp thị tr-
ờng trong cả nớc.
Đối tợng tham gia:
- Các NH đợc phép kinh doanh ngoại tệ
- Các tổ chức xuất nhập khẩu kinh doanh trực tiếp với nớc ngoài các tổ
chức, đơn vị kinh doanh dịch vụ thu ngoại tệ.
- NHTƯ
Đồng tiền giao dịch: Đô la Mỹ và Đồng VN
Nguyên tắc hoạt động: Theo nguyên tắc đấu giá từ thấp đến cao hoặc
ngợc lại để đạt đợc cân bằng cung cầu về ngoại tệ.
Tỷ giá áp dụng: là tỷ giá đợc ấn định khi đạt đợc sự cân băng cung
cầu về ngoại tệ.
Có thể nói, việc thành lập quỹ điều hoà ngoại tệ tại ngân hàng Nhà n-
ớc và chính phủ uỷ quyền cho thống đốc đợc toàn quyền điều hành một
cách linh hoạt và hiệu quả, một mặt quỹ điều hoà tạo cho NHTƯ một lực
thực sự để can thiệp có hiệu quả nhằm ổn định tỷ giá, đáp ứng nhu cầu thiết
yếu của nền kinh tế về ngoại tệ.
Việc thành lập hai trung tâm giao dịch ngoại tệ là bớc ngoặt đầu tiên
của hệ thống ngân hàng trong quá trình đổi mới thực sự cơ chế theo hớng
thị trờng. Hai trung tâm này là tiền thân của thị trờng ngoại hối Việt Nam
ngày nay. Thông qua hoạt động mua bán tại hai trung tâm, với vai trò là ng-
ời tổ chức và điều hành, NHNN đã kịp thời nắm bắt cung cầu ngoại tệ trên
thị trờng để điều hành chính sách tiền tệ cũng nh tỷ giá phù hợp với tín hiệu
thị trờng và hớng nhu cầu ngoại tệ vào các mục tiêu thiết yếu của nền kinh
tế.
Việc các NHTM và các tổ chức kinh tế có hoạt động ngoại tệ lớn
giao dịch tại hai trung tâm là bớc tập dợt đầu tiên trong giao dịch mua bán
ngoại tệ theo cơ chế thị trờng. Tỷ giá VNĐ/USD đợc hình thành theo quan
hệ cung cầu một cách tơng đối khách quan. Cách thức giao dịch mua bán
ngoại tệ tại hai trung tâm theo phơng thức đấu giá. Khi cung lớn hơn cầu thì
tỷ giá giảm và ngợc lại.
Trong thời kỳ đầu, cung ngoại tệ còn thấp hơn cầu ngoại tệ khá lớn,
nếu để tỷ giá hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu, thì tỷ giá sẽ biến
động rất mạnh, điều này sẽ gây tác động tiêu cực đến hệ thống giá cả, hoạt
động xuất nhập khẩu và đầu t. Vì vậy, thông qua hình thức can thiệp của
NHNN, tỷ giá chỉ biến động với một mức độ hợp lý, một mặt vẫn phản ánh
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
12
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
xu hớng quan hệ cung cầu nhng mặt khác không gây những biến động lớn
về mức giá cả, đồng thời tạo một tâm lý ổn định cho các nhà đầu t trong và
ngoài nớc cũng nh dân chúng yên tâm đầu t và gửi tiền để phát triển kinh tế.
Sau một thời gian dài từ 1991 đến 1993, tỷ giá đợc duy trì ổn định đã
tạo tâm lý ổn định cho thị trờng và thu hút đợc một lợng kiều hối và đầu t n-
ớc ngoài khá lớn vào Việt Nam, mặt khác việc duy trì lãi suất thực dơng của
VNĐ cao đã khuyến khích các tổ chức, cá nhân bán ngoại tệ để gửi VNĐ.
Cả hai yếu tố trên đã đồng thời ảnh hởng tích cực đến sự ổn định giá trị
VNĐ và tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia, ổn định giá trị VNĐ không phải chỉ
về danh nghĩa mà cả giá trị thực của nó. Việc ổn định tỷ giá có ảnh hởng tốt
đến mặt bằng trong nớc dẫn đến chỉ số lạm phát đợc duy trì ở mức chấp
nhận đợc và có chiều hớng giảm, trong khi tốc độ tăng trởng kinh tế của
Việt Nam qua các năm không ngừng tăng làm cho quan hệ tiền hàng đợc
đảm bảo và giá VNĐ đợc ổn định và đã tạo ra môi trờng ổn định vững chắc
cho phát triển kinh tế ở Việt Nam. Giai đoạn đầu khi mới bắt đầu điều hành
tỷ giá theo cơ chế thị trờng, việc can thiệp của NHNN trên thị trờng rất chặt
chẽ, tuy nhiên thời gian tiếp theo khi nguồn ngoại tệ vào Việt Nam tăng lên,
quan hệ cung cầu không còn khoảng cách quá lớn thì NHNN đã từng bớc
giảm sự can thiệp và để cho tỷ giá hình thành một cách khách quan hơn
theo quan hệ cung cầu.
Từ khi hai trung tâm ra đời thì tỷ giá chính thức của VNĐ đợc xác
định căn cứ vào tỷ giá đóng cửa tại các phiên giao dịch tại hai trung tâm, do
đó tỷ giá đã phản ánh trung thực hơn về quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị
trờng ngoại hối, rút ngắn đợc khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá
trên thị trờng tự do. Từ đây có thể nói thị trờng ngoại hối có tổ chức đã từng
bớc nắm vai trò chủ đạo, chi phối và khống chế đợc thị trờng tự do.
Tóm lại, hoạt động của hai trung tâm giao dịch ngoại tệ đã phát huy
tích cực vai trò của mình trong việc điều hoà cung cầu ngoại tệ, tạo ra ph-
ơng thức kinh doanh giao dịch mang tính thị trờng góp phần ổn định tỷ giá,
giá cả và kích thích đầu t tăng trởng kinh tế. Tuy nhiên, với nhu cầu phát
triển kinh tế và nhu cầu phát triển của thị trờng thì hai trung tâm giao dịch
ngoại tệ đã bộc lộ những hạn chế không đáp ứng đợc nhu cầu ngoại tệ của
toàn quốc gia, cũng nh tính nhanh nhạy kịp thời trong giao dịch và thanh
toán của cơ chế thị trờng ngày càng sôi động. Thực tế đòi hỏi phải có một
mô hình mới linh hoạt hơn, toàn diện hơn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
trong phạm vi cả nớc chứ không chỉ gói gọn tại Hà Nội và TP HCM. Đứng
trớc tình hình đó, NHNN đã ra quyết định số 203- QĐ NH9 ngày
20/09/1994 về việc thành lập thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng và quyết
định số 203/QĐ-NH13 ngày 20/9/1994 về việc ban hành quy chế tổ chức và
hoạt động của thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng.
3. Thời kỳ 1994 đến nay: Thay đổi trong cơ chế quản lý ngoại hối
Để góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán
quốc tế, từng bớc thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng Việt Nam trong
các hoạt động ngoại hối và hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối của Việt
Nam, tăng cờng sự giám sát và quản lý ngoại hối của Nhà nớc, chính phủ
đã ra nghị định số 63/1998 NĐ- CP về quản lý ngoại hối, thay thế nghị
định số 161-HĐBT ngày 18/10/1988 của hội đồng bộ trởng ban hành điều
lệ quản lý ngoại hối của nớc CHXHCN Việt Nam.
Nghị định quản lý ngoại hối đã bổ sung nhiều nội dung mới mà từ tr-
ớc đến nay cha có, bao gồm:
- Phân định rõ khái niệm về ngời c trú và ngời không c trú nhằm thuận lợi
cho công tác quản lý ngoại hối của nhà nớc.
- Phân định rõ giao dịch vãng lai với giao dịch vốn.
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
13
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
- Quy định cụ thể về việc phát hành giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ.
- Quy định nguyên tắc xác định tỷ giá của VNĐ.
- Quy định về việc mở tài khoản ở nớc ngoài và việc sử dụng ngoại tệ.
- Quy định về việc chuyển ngoại tệ vào và ra khỏi Việt Nam đối với các tổ
chức và cá nhân.
- Quy định nghĩa vụ bán ngoại tệ và quyền đợc mua ngoại tệ của các tổ
chức.
- Quy định cụ thể về việc hoạt động ngoại hối của các TCTD và bàn thu
đổi ngoại tệ, quản lý vàng tiêu chuẩn quốc tế
Có thể nói nghị định quản lý ngoại hối đã đa ra một khung pháp lý
hoàn chỉnh đối với việc quản lý và sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch
thanh toán quốc tế, đánh dấu một bớc tiến trong công tác quản lý và khẳng
định mục tiêu quản lý ngoại hối cũng nh chủ quyền của đồng Việt Nam
trên lãnh thổ Việt Nam.
Trong những năm gần đây, nhất là năm 2004 và 2005 , TTNH đã đạt
đợc những thành công nhất định, đặc biệt là sự thay đổi cơ bản trong cơ chế
quản lý đối với TTNH nhằm tạo tiền đề cho TTNH phát triển. Một thành
quả cũng đáng ghi nhận là chính sách tỷ giá và các chính sách về phát triển
TTNH đã thiết lập đợc lòng tin của thị trờng. Do có nhiều sản phẩm phòng
chống rủi ro về tỷ giá đợc các TCTD cung cấp cho doanh nghiệp,làm các
doanh nghiệp xuất khẩu đã chủ động bán nguồn ngoại tệ của mình cho các
Ngân hàng, đồng thời các doanh nghiệp nhập khẩu đã sử dụng các công cụ
kỳ hạn để chủ động nguồn ngoại tệ cho kế hoạch nhập khẩu của mình .Quy
mô giao dịch trên TTNH cũng không ngừng tăng lên tơng ứng với tốc độ
tăng trởng xuất, nhập khẩu, bình quân hàng năm khoảng 15-30% đảm bảo
đáp ứng nhu cầu giao dịch của khách hàng. Doanh số giao dịch kỳ hạn cũng
không ngừng đợc tăng lên, tính riêng trong năm 2004 doanh số giao dịch kỳ
hạn tăng gấp đôi so với năm 2003. Điều này đợc thể hiện rõ trong sự biến
động tơng đối ổn định của tỷ giá USD/VND mặc dù lạm phát tăng cao và tỷ
giá đã hỗ trợ đắc lực cho hoạt động xuất khẩu với sự tăng trởng ngoạn mục.
Có thể điểm lại một số thay đổi cơ bản sau đây:
Thứ nhât, về sự xác định tỷ giá kỳ hạn: NHNN cho các TCTD thực
hiện giao dịch kỳ hạn từ năm 1998. Các giao dịch kỳ hạn ra đời đã góp
phần làm giảm bớt căng thẳng ngoại tệ trên thị trờng giao ngay, tạo thêm
công cụ để các doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro tỷ giá, giúp TTNH Việt
Nam từng bớc làm quen với các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ mới của thị
trờng quốc tế. Tuy nhiên thị trờng ngoại tệ kỳ hạn tại Việt Nam đã bộc lộ
một số hạn chế nhất định. Cụ thể doanh số giao dịch nhỏ, kỳ hạn tập trung
chủ yếu vào các kỳ hạn ngắn, cơ cấu giao dịch bất hợp lý (bán ngoại tệ là
chủ yếu), đối tợng giao dịch tập trung vào nhiều các NH nớc ngoài. Một
trong những nguyên nhân cơ bản làm hạn chế các giao dịch kỳ hạn là do
việc xác định tỷ giá kỳ hạn cha theo đúng thông lệ quốc tế mà NHNN tự ấn
định các trần kỳ hạn theo các mốc kỳ hạn 30,60,90,180
Thấy đợc vấn đề này, ngày 28/5/2004 NHNN đã ban hành quyết định
648/2004/QD-NHNN về việc sửa đổi bổ sung một số điều của quyết định
679/2002/QĐ-NHNN với nội dung chính cho phép các TCTD đợc xác định
tỷ giá kỳ hạn sẽ do các NHTM tự xác định trên cơ sở lãi suất giữa hai đồng
tiền. Phơng án này hoàn toàn phù hợp với cơ chế thả nổi của lãi suât . Mỗi
NHTM có một mức lãi suất khác nhau, mỗi kỳ hạn lại có một mức trần
khác nhau nên để có một cách tính thống nhất, việc xác định điểm kỳ hạn
sẽ đựơc tính toán trên cơ sở chênh lệch lãi suất giữa : lãi suất cơ bản của
đồng Việt Nam ( do NHNN công bố hàng tháng) và lãi suất cơ bản của cục
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét