Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

vai trò của nhà nước trong quá trình cnh-hđh ở việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "vai trò của nhà nước trong quá trình cnh-hđh ở việt nam": http://123doc.vn/document/1052041-vai-tro-cua-nha-nuoc-trong-qua-trinh-cnh-hdh-o-viet-nam.htm


Đề án kinh tế chính tr
ị_______________________________________ 5
đầu t xây dựng cơ bản. Bên cạch đó, Nhà nớc còn chú ý khuyến khích nhập
nguyên liệu và kỹ thuật hiện đại của nớc ngoài để phát triển một số ngành
công nghiệp hiện đại nh sản xuất thép, đóng tàu, chế tạo vũ khí. Ngoài ra, Nhà
nớc Nhật còn thực hiện rộng rãi chính sách bán lại các cơ sở kinh tế của Nhà
nớc cho t nhân với giá thấp hơn nhiều so với vốn đầu t Các chính sách này đ-
ợc áp dụng chủ yếu vào giai đoạn cuối của cuộc cách mạng và đã có tác dụng
kích thích công nghịêp phát triển nhanh chóng.
Sự tác động mạnh mẽ của Nhà nớc Nhật vào cuộc CMCN đã giúp cho
Nhật rút ngắn thời gian tiến hành CNH chỉ trong 60 năm. Nhng phải đến sau
khi một loạt nớc thuộc khu vực Châu á nh Nam Triều Tiên, Đài Loan,
Singapore, và một số nớc thuộc khu vực ASEAN nh Indonesia, Malaisia, Thái
lan thực hiện thành công CNH chỉ với thời gian khoảng 30 năm bằng một
phần t thời gian của đợt CNH đầu tiên thì vai trò của Nhà nớc trong quá trình
CNH mới thực sự đợc khẳng định. Nhà nớc ở những nớc này không chỉ thực
hiện những chính sách điều chỉnh nhằm tạo lập và ổn định môi trờng kinh tế
vĩ mô, sản xuất những hàng hoá thuần tuý công cộng mà còn thực hiện một
loạt các biện pháp thúc đẩy phát triển nh tạo ra kết cấu hạ tầng cho phát triển
kinh tế và trực tiếp kinh doanh.
Tóm lại, sự can thiệp của Nhà nớc vào quá trình CNH đã rút ngắn thời
gian tiến hành CNH và hơn nữa còn thực hiện nó một cách có hiệu quả. Trong
thời đại ngày nay, khi nền kinh tế đang chuyển từ giai đoạn văn minh công
nghiệp sang văn minh hậu công nghiệp, CNH đã trở lên cấp bách sống còn đối
với mỗi quốc gia thì vai trò của Nhà nớc đã trở nên tất yếu khách quan trong
quá trình CNH-HĐH nhằm kết hợp CNH với HĐH một cách phù hợp để đa
các quốc gia đang phát triển và kém phát triển đuổi kịp với sự phát triển của
thế giới trong đó có Việt Nam của chúng ta.
2.2. Nội dung vai trò của Nhà nớc trong quá trình CNH- HĐH.
Có rất nhiều cách tiếp cận về vai trò của Nhà nớc trong CNH-HĐH và
thực ra không thể có một khuôn mẫu chung cho tất cả các nớc. Hơn nữa sự tác
động nhiều hay ít của Nhà nớc không phải là mục tiêu phát triển của một xã
hội. Vì thế chỉ có thể đánh giá chính sự can thiệp đó vào hiệu quả mà nó mang
lại. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết để Nhà nớc thực hiện đúng vai trõ của
mình vào quá trình CNH-HĐH thờng là bản thân Nhà nớc phải đủ mạnh. Nh-
ng Nhà nớc mạnh hay yếu là một định mệnh của dân tộc hay có thể đợc tạo ra
theo một kịch bản nào đó. Đây là một vấn đề còn bỏ ngỏ và cần phải đợc
nghiên cứu trong thời gian tới.
Đề án kinh tế chính tr
ị_______________________________________ 6
Mặc dù vậy, để thực hiện thành công quá trình CNH-HĐH, về cơ bản Nhà
nớc cần thực hiện các nội dung sau.
2.2.1. Hoạch định các chính sách kinh tế.
Đây là vai trò quan trọng nhất trong quá trình CNH-HĐH của mỗi nớc.
Các chính sách kinh tế này bao gồm: các chính sách cơ cấu kinh tế nhằm định
hớng nền kinh tế theo chiến lợc CNH-HĐH của mỗi nớc và các chính sách
khác nhằm tạo môi trờng thuận lợi cho việc bảo đảm thực hiện quá trình
CNH-HĐH. Các chính sách đó bao gồm: Chính sách nguồn nhân lực, chính
sách kinh tế đối ngoại, chính sách thị trờng, chính sách tài chính và tiền tệ,
chính sách xã hội và môi trờng. Sau đây là các chính sách cụ thể:
- Chính sách cơ cấu kinh tế.
Sự chuyển đổi cơ cấu trong mô hình công nghiệp hoá chịu sự tác động
của hai yếu tố là Nhà nớc và thị trờng. Trong mô hình CNH theo hớng hội
nhập quốc tế, nếu Nhà nớc muốn rút ngắn con đờng phát triển, muốn nhanh
chóng xây dựng đợc những ngành công nghiệp hiện đại, thì Nhà nớc phải tạo
ra đợc một môi trờng cần thiết để có thể thu hút đợc những ngành công nghiệp
mong muốn đó từ bên ngoài vào. Căn cứ vào môi trờng đầu t đã hình thành,
các nhà đầu t sẽ phân bố các ngành công nghiệp theo tiếng gọi của thị trờng.
Trong mô hình theo hớng thay thế nhập khẩu, thị trờng của các ngành công
nghiệp hầu nh chỉ là thị trờng trong nớc, do vậy Nhà nớc còn có khả năng nào
đó tính toán nhu cầu của thị trờng nội địa để định ra cơ cấu công nghiệp thích
hợp đến một mức độ nhất định. Còn trong mô hình CNH theo hớng hội nhập
quốc tế, thì thị trờng của các ngành công nghiệp phải là thị trờng khu vực và
toàn cầu, mà thị trờng trong nớc chỉ là bộ phận, do vậy việc tính toán nhu cầu
của thị trờng trở lên quá phức tạp, các quyết định của Nhà nớc trong việc xây
dựng các cơ cấu kinh tế thờng đề ra là các quyết định duy ý trí, không thực tế.
Chức năng của Nhà nớc là tạo ra một môi trờng đầu t thuận lợi theo một số h-
ớng có lựa chọn đồng thời tập trung đầu t xây dựng một cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội, còn các ngành sản xuất kinh doanh chủ yếu do các doanh nghiệp lựa
chọn xác định theo tín hiệu của thị trờng, Nhà nớc chỉ tham gia trực tiếp vào
các lĩnh vực kinh doanh thiết yếu cho xã hội, mà các doanh nghiệp không
muốn kinh doanh hoặc không thể kinh doanh.
+ Chính sách cơ cấu ngành.
Việc hoạch định các chính sách này của Nhà nớc phải trên cơ sở sau đây:
Thứ nhất, chính sách cơ cấu ngành phải nhằm tiến tới một cơ cấu hợp lý,
đa ngành trong đó hình thành các ngành có trọng điểm và mũi nhọn, có tính h-
Đề án kinh tế chính tr
ị_______________________________________ 7
ớng ngoại, năng động bền vững và mang lại hiệu quả cao nhằm phát huy tốt
nội lực tham gia có hiệu quả vào phân công hợp tác quốc tế.
Thứ hai, cơ cấu kinh tế ngành phải có sự kết hợp tối u giữa cơ cấu ngành
với cơ cấu vùng, lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế. Tử đó, Nhà nớc phải
có chiến lợc và chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đồng thời các
chính sách của Nhà nớc phải tạo điều kiện để xây dựng các khu công nghiệp,
khu chế xuất, các trung tâm công nghiệp, các cụm doanh nghiệp nhằm tạo
động lực cho phát triển kinh tế và coi đó là phơng tiện để thực hiện đô thị hoá
nông thôn; phát triển kinh tế thành thị và công nghiệp Trung ơng đi đôi với
phát triển công nghiệp địa phơng và công nghiệp nông thôn theo hớng phát
huy thế mạnh của mỗi vùng, mỗi địa phơng, thực hiện phân công lao động tại
chỗ, gắn công nghiệp với nông nghiệp. Công nghiệp địa phơng và công nghiệp
nông thôn phải nàm trong chiến lợc quy hoạch chung của cả nớc.
Thứ ba, chính sách cơ cấu ngành phải tạo điều kiện để hình thành và phát
triển các ngành trọng điểm và mũi nhọn. Ngành trọng điểm là ngành có vai
trò, vị trí quan trọng với nền kinh tế quốc dân, có khả năng và lợi thế phát
triển, có hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội cao thể hiện là ngành có hệ số
ICOR thấp, đáp ứng nhu cầu trong nớc và xuất khẩu, có khả năng phát triển
hiện tại và lâu dài. Ngành trọng điểm là ngành có thể là những ngành mới,
những ngành truyền thống, những ngành gặp thuận lợi, những ngành gặp khó
khăn trong sự phát triển, những ngành hớng về xuất khẩu hoặc thay thế nhập
khẩu. Còn ngành kinh tế mũi nhọn là ngành có ý nghĩa kinh tế quốc dân quan
trọng, sự phát triển của nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển các ngành khác
của nền kinh tế quốc dân, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế; tốc độ tăng
vợt trội các ngành khác, có hiệu quả kinh tế - xã hội cao thể hiện ở hệ số
ICOR thấp, tỷ lệ lợi nhuận cao, giải quyết đợc nhiều việc làm, phát huy lợi thế
so sánh của đất nớc; đại diện cho tiến bộ KH-CN; tạo nguồn thu đáng kể cho
ngân sách; hớng về xuất khẩu và có sức cạnh tranh trên trờng quốc tế. Tuy
nhiên thì một nền kinh tế phải phát triển đến một trình độ nào đó thì mới có
ngành kinh tế mũi nhọn.
Thứ t, các chính sách kinh tế ngành phải theo định hớng nâng cao tỷ trọng
công nghiệp chế biến trong cơ cấu kinh tế vì trong quá trình CNH-HĐH và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế tất yếu đòi hỏi phải phát triển công nghiệp chế
biến.
Thứ năm, các chính sách kinh tế ngành phải nhằm mục đích phát triển
công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Sự phát triển công nghiệp và dịch vụ nông
thôn là tiêu chuẩn đánh giá trình độ CNH-HĐH và là vấn đề quyết định quá
trình chuyển dịch cơ cấu nông thôn. Việc chuyển dịch cơ cấu nông thôn sẽ tạo
Đề án kinh tế chính tr
ị_______________________________________ 8
điều kiện cho việc hoạnh định các chính sách cơ cấu vùng và lãnh thổ của mỗi
quốc gia đang trong quá trình CNH trong đó có Việt Nam. Trong nhiều năm
trớc mắt thì CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là nội dung cơ bản, quan
trọng của CNH-HĐH đất nớc ta. Vì thế công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
phải phát triển theo hớng: củng cố và phát triển các hoạt động dịch vụ hiện có,
mở mang thêm các hoạt động dịch vụ mới nh t vấn kinh doanh, t vấn quản lý,
t vấn pháp luật, chuyển giao công nghệ và đào tạo; phát triển công nghiệp
nông thôn có tính chất lan toả từ một số làng nghề hiện tại lan toả ra các vùng
lân cận và từ các đô thị, tiểu đô thị lan dần tới khu vực nông thôn lân cận.
+Chính sách cơ cấu vùng, lãnh thổ.
Đối với cơ cấu này thì các chính sách kinh tế của Nhà nớc phải tạo điều
kiện cho tất cả các vùng đều phát triển trên cơ sở khai thác thế mạnh và tiềm
năng của mỗi vùng, liên kết giữa các vùng làm cho mỗi vùng đều có một cơ
cấu hợp lý và đều có chuyển biến tiến bộ, góp phần vào sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nớc. Thực hiện đầu t có trọng điểm và tạo điều kịên cho mỗi
vùng cùng phát triển, giảm đáng kể sự chênh lệch về nhịp độ phát triển giữa
các vùng. Ngoài ra, tuỳ điều kiện từng nơi, tất cả các thị xã, thị trấn đều phải
đợc phát triển trên cơ sở đẩy mạnh công nghiệp dịch vụ mang ý nghĩa tiểu
vùng. Hình thành các thị tứ làm trung tâm kinh tế, văn hoá cho mỗi xã hoặc
cụm xã. Đồng thời phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế
và văn hoá, giữ gìn bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc với tiến lên hiện
đại trong phát triển đô thị.
+Chính sách thành phần kinh tế.
Nói chung, tuỳ điều kiện hoàn cảnh mỗi nớc mà Nhà nớc có thể điều
chỉnh cơ cấu kinh tế giữa các thành phần kinh tế tức là điều chỉnh mối quan hệ
tỷ lệ về kinh tế giữa các thành phần kinh tế trong cơ cấu kinh tế thống nhất
của cả nớc nhằm mục đích làm cho tất cả các thành phần trong phát triển kinh
tế đều mạnh lên, đều phát triển. Nhng nói chung, các chính sách của Nhà nớc
phải dựa vào sự tính toán hiệu quả tổng hợp giữa kinh tế, chính trị-xã hội của
mỗi thành phần kinh tế đồng thời phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành
phần trong phát triển kinh tế. Mọi thành phần đều bình đẳng trớc pháp luật, để
từ đó một mặt khuyến khích các thành phần kinh tế đem hết tài năng, vật lực
của mình để phát triển sản xuất kinh doanh. Mặt khác, phải hớng mọi hoạt
động của các thành phần kinh tế vào mục đích chung là ích nớc lợi nhà.
+Chính sách cơ cấu công nghệ.
Vấn đề bao trùm quá trình CNH đó là sự chuyển dịch cơ cấu của nền kinh
tế nhng ngày nay, chuyển dịch cơ cấu phải đợc thúc đẩy bằng công nghệ.
Khẳng định tính chất động lực của nhân tố công nghệ trong CNH, vấn đề lớn
Đề án kinh tế chính tr
ị_______________________________________ 9
đặt ra ở đây đó là xây dựng một chính sách công nghệ quốc gia có thể phục vụ
có hiệu quả quá trình CNH-HĐH của đất nớc. Trong chính sách công nghệ
quốc gia, về trớc mắt cũng nh lâu dài, Nhà nớc cần đặt vấn đề chuyển giao
công nghệ luôn là một bộ phận quan trọng vì chúng có thể cho phép rút ngắn
khoảng cách lạc hậu so với các nớc có nền kinh tế phát triển do khai thác đợc
lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh về KH-CN hiện đại trên thế giới; tạo điều
kiện để khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực ở trong nớc nhằm tăng trởng
kinh tế nhanh đồng thời thúc đẩy sự chuyển dịch từ nền CNH Thay thế nhập
khẩu sang CNH Hớng về xuất khẩu có hiệu quả, tạo thế và lực cho sự cạnh
tranh và hoà nhập trên thị trờng thế giới. Ngoài ra, Nhà nớc cũng cần chú
trọng đến chính sách cơ cấu quy mô các xí nghiệp để quá trình CNH-HĐH
của quốc gia mình tiến triển một cách nhanh chóng và bền vững.
Để đảm bảo cho tiến trình CNH-HĐH, bên cạch chính sách cơ cấu kinh tế
thì chính sách đầu tiên phải nói đến đó là chính sách phát triển nguồn nhân
lực. Tài nguyên con ngời là yếu tố quan trọng nhất của CNH-HĐH. Chủ trơng
của mọi quốc gia là Lấy việc phát huy nguồn lực con ngời làm yếu tố cơ bản
cho sự phát triển nhanh và bền vững. Để CNH-HĐH ngoài việc tạo ra nguồn
vốn, tiếp nhận công nghệ thì cần có con ngời sử dụng công nghệ, làm chủ,
cải tiến công nghệ. Cần có đội ngũ cán bộ KH-CN vững mạnh, đủ sức giải
quyết các vấn đề đặt ra trong CNH-HĐH, trong chơng trình phát triển KH-
CN. Vì vậy, mỗi quốc gia cần phải xây dựng các chính sách về việc sử dụng
nguồn nhân lực một cách hợp lý để nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo bồi d-
ỡng và nâng cao chất lợng nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu CNH-HĐH nói
cách khác các chính sách này phải nhằm mục đích đảm bảo giáo dục, đào tạo,
sử dụng các nguồn nhân lực một cách có hiệu quả nhất .
Thứ hai, Nhà nớc còn phải đề ra các chính sách kinh tế đối ngoại đảm
bảo thông thơng quan hệ thơng quan hệ với thế giới nhằm tạo điều kịên xuất
và nhập khẩu hàng hoá một cách thuận lợi đồng thời tạo ra môi trờng thích
hợp để thu hút các nguồn vốn đầu t từ nớc ngoài.
Sẽ không thể thực hiện đợc CHH-HĐH với một nền kinh tế khép kín vì
khi đó khó có thể khai thác đợc vốn, kỹ thuật từ bên ngoài đặc biệt khi nguồn
thu ngân sách thấp dẫn đến đầu t chiều sâu cho công nghiệp sẽ rất khó khăn.
Nhận định rằng nguồn vốn trong nớc có tính chất quyết định nhng cũng không
thể phủ định vai trò cuả nguồn vồn nớc ngoài trong đó đặc biệt là vốn đầu t
trực tiếp FDI. Vì thực tế đi cùng với FDI là kỹ thuật công nghệ, kinh nghiệm
quản lý và khả năng mở rộng không gian thị trờng. Những yếu tố này là lực l-
ợng đột phá những bế tắc, cản trở để mở ra hớng đi lên của nền kinh tế chậm
phát triển, khởi động cho quá trình CNH-HĐH. Vì vậy, việc đề ra các chính
Đề án kinh tế chính tr
ị______________________________________ 10
sách kinh tế đối ngoại phù hợp với điều kiện tình hình trong nớc là rất quan
trọng vì nó sẽ giúp cho các quốc gia hoà nhập với thế giới đồng thời tạo ra môi
trờng thuận lợi để huy động các nguồn vốn đầu t trong quá trình thực hiện
CNH-HĐH đất nớc.
Chính sách thứ ba phải kể đến đó là chính sách thị trờng. Những thất bại
của thị trờng gặp phải làm cho hoạt động của nó không hiệu quả là ảnh hởng
của độc quyền. Cần phải nói rằng, lợi dụng u thế của mình, các tổ chức độc
quyền có thể quy định giá cả để thu lợi nhuận, phá vỡ u thế của cạnh tranh
hoàn hảo. Vì vậy, cần phải có sự can thiệp của Nhà nớc để hạn chế độc quyền,
bảo đảm tính hiệu quả của cạnh tranh thị trờng. Điều đó đảm bảo đợc sự ganh
đua của những ngời kinh doanh trong nền kinh tế. Vì ngời độc quyền trên thực
tế là ngời duy nhất cung cấp một mặt hàng cụ thể nên họ có khả năng quy
định giá cao để thu hút siêu lợi nhuận. Tình trạng đó làm cho giá cả cao hơn
mức hiệu quả, làm biến dạng về cầu và xuất hiện siêu lợi nhuận. Những lợi
nhuận này có thể đợc sử dụng vào những hoạt động quảng cáo lừa dối, mua
ảnh hởng và bảo hộ ngành lập pháp. Vì vậy, Nhà nớc không thể coi hoạt động
của độc quyền là tất yếu. Nhà nớc cần đa ra luật chống độc quyền và luật kinh
tế để làm tăng hiệu quả của hệ thống thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo.
Thứ t, một chính sách không kém phần quan trọng đó là: chính sách tài
chính và tiền tệ. Chúng ta hiểu rằng việc sử dụng một cách thận trọng quyền
lực về tiền tệ và tài chính của Nhà nớc có thể ảnh hởng đến sản lợng, việc làm
và lạm phát. Quyền lực về tài chính của Nhà nớc là quyền đánh thuế và chi
tiêu. Quyền lực về tiền tệ bao hàm quyền điều tiết về tiền tệ và hệ thống ngân
hàng để xác định mức lãi suất và điều kiện tín dụng. Bằng hai chính sách này,
Nhà nớc có thể tác động đến sản lợng, công ăn việc làm và giá cả của một nền
kinh tế. Nhờ đó, Nhà nớc có thể đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền, huy động
phân bổ và sử dụng các nguồn vốn đạt hiệu quả.
Nhà nớc thực hiện chức năng trên thông qua ba công cụ: thuế, các khoản
chi tiêu và những quy định hay kiểm soát về tiền tệ. Thông qua thuế, Chính
phủ điều tiết tiêu dùng, đầu t của t nhân, khuyến khích hoặc hạn chế hoạt
động kinh doanh của doanh nhân. Các khoản chi tiêu của Chính phủ sẽ thúc
đẩy các doanh nghiệp hay công nhân sản xuất ra một số hàng hoá hay dịch vụ
và cả những việc chuyển tiền nhằm trợ cấp thu nhập nh bảo hiểm trợ cấp thất
nghiệp.
Mặc dù vậy, ngày nay trong nền kinh tế thị trờng không thể nào vừa có đủ
công ăn việc làm vừa không có lạm phát.
Chính sách xã hội và môi trờng là chính sách cuối cùng đợc nhắc đến.
Trong nền kinh tế luôn tồn tại các ngoại ứng và hàng hoá công cộng. Khi tồn
Đề án kinh tế chính tr
ị______________________________________ 11
tại ngoại ứng và hàng hoá công cộng thì giá một sản phẩm không còn phản
ánh giá trị xã hội của nó. Vì vậy, các doanh nghiệp có thể sản xuất quá nhiều
hoặc quá ít, do vậy, gây ra sự vô hiệu quả của thị trờng. Để đảm bảo cho thị tr-
ờng không bị suy thoái và hoạt động có hiệu quả thì Nhà nớc phải can thiệp
thông qua quản lý môi trờng bằng các công cụ và chính sách.
Nguyên nhân thứ hai buộc Nhà nớc quản lý môi trờng là hậu quả về môi
trờng do quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gây ra đó là sự khai thác bừa
bãi các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã gây ra sự mất cân bằng sinh thái, nhu
cầu của con ngời đã vợt qua khả năng cung cấp và phục hồi vật chất tái tạo
trong tự nhiên không riêng ở một vùng, một quốc gia nào. Đồng thời sự phát
triển ồ ạt của công nghiệp và quá trình đô thị hoá không những tiêu thụ nguồn
năng lợng khổng lồ mà còn thải không ít chất thải ra môi trờng. Những điều
này đã gây ảnh hởng đến sự phát triển của con ngời nói chung và của thế giới
nói riêng.
Nội dung thứ hai về vai trò của Nhà nớc trong quá trình CNH-HĐH đó là:
2.2.2. Thể chế hóa các chính sách thành pháp luật và tổ chức thực hiện
nghiêm túc những pháp luật đó.
Trên cơ sở các chính sách đã hoạch định, Nhà nớc còn phải thể chế hoá
các chính sách trên thành pháp luật thông qua hệ thống tổ chức bộ máy của
mình. Đây là một nhiệm vụ tất yếu của mỗi quốc gia nhng để công việc này
đạt hiệu quả tốt thì đầu tiên, Nhà nớc cần phải có một hệ thống giáo dục tốt
không chỉ trong nhà trờng mà còn trên tất cả các phơng tiện thông tin đại
chúng. Muốn có một hệ thống giáo dục tốt thì không bằng cách nào khác là
Nhà nớc phải hoạch định các chính sách giáo dục và đào tạo một cách đúng
đắn nhằm tạo ra nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình CNH. Đây là nhiệm vụ
xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế. Thứ hai, Nhà nớc phải có một bộ máy
tổ chức tốt không quan liêu, tham nhũng. Một bộ máy Nhà nớc tổ chức tốt sẽ
làm việc một cách hiệu quả từ đó hoạch định các chính sách một cách đúng
đắn đồng thời bản thân tổ chức này cũng nghiêm túc thực hiện. Bên cạnh đó
một bộ máy không quan liêu tham nhũng, không gây phiền hà cho dân thì
nhân dân mới tin tởng thực hiện theo các chính sách mà Nhà nớc đã định h-
ớng. Cuối cùng, để công việc này của Nhà nớc đợc nh mong muốn thì Nhà n-
ớc cần phải có kỷ luật tốt nh vậy thì mọi ngời dân mới đều tuân thủ theo pháp
luật.
2.3. Kinh nghiệm về CNH-HĐH ở các nớc ASEAN.
Đề án kinh tế chính tr
ị______________________________________ 12
Sự can thiệp của Nhà nớc vào quá trình CNH ở các nớc ASEAN vừa tuân
theo chuẩn mực quốc tế, đồng thời sự điều tiết của Chính phủ có xu hớng tăng
lên.
Để thực hiện các mục tiêu của mình, các nớc ASEAN đã thực hiện các
biện pháp sau:
Về tổ chức: Thành lập các ban đầu t (BOI) để kết hợp khuyến khích và
quản lý đầu t vào các ngành kinh tế. Nhiệm vụ chủ yếu của BOI là:
+ Phân phát phần lớn các khuyến khích tài chính của chính phủ cho các chủ
đầu t mới.
+ Phối hợp hoạt động đầu t của các bộ, ngành trong chính phủ.
+ Giúp các công ty mới thành lập đợc đăng ký và thừa nhận chính thức.
Có thể lấy ví dụ ở một số nớc về hoạt động của BOI ở Philippines, việc
đăng ký với BOI là điều bắt buộc những công ty không có ít nhất 70% cổ phần
bình đẳng của công dân Philipines, các khoản khuyến khích đợc cung cấp ở
cấp khu vực đợc ghi trong kế hoạch đầu t hàng năm. BOI có quyền cấm việc
đầu t mới vào một ngành công nghiệp nếu thấy nó đã đủ năng lực sản xuất.
Singapore thành lập Ban phát triển kinh tế EDB để tiếp xúc với các chủ
đầu t trong và ngoài nớc.
Tại Indonesia có ba ban là:
+ Ban điều phối t bản đầu t BKPM để điều phối các công ty lớn và các công ty
có cở hữu cổ phần nớc ngoài đều phải đăng ký ở đây.
+Sắc lệnh về các quy định công ty, theo đó công ty có thể đăng ký song không
đợc khuyến khích về tài chính.
+ Các công nghiệp nhỏ và các công nghiệp gia đình phải đăng ký với các Ban
của chính quyền địa phơng.
Về chính sách kinh tế, các Nhà nớc ASEAN đã xây dựng và áp dụng một
loạt chính sách quan trọng.
Thứ nhất, là có định hớng phát triển công nghiệp. Điểm nổi bật là chuyển
hớng chiến lợc từ CNH thay thế hàng nhập khẩu sang CNH hớng về xuất
khẩu.
Thứ hai, là các chính sách can thiệp vào ngoại thơng bảo hộ ngành chế tạo
nội địa nh chính sách đền bù thông qua thuế, khuyến khích xuất khẩu và điều
tiết ngoại thơng thông qua các quy định về thủ tục xuất khẩu, cấp giấy phép
đầu t nhằm khuyến khích đầu t, thực hiện phá giá đồng tiền, thả nổi tỷ giá hối
đoái để khuyến khích xuất khẩu.
Thứ ba, Nhà nớc can thiệp vào thị trờng lao động thông qua quy định mức
lơng tối thiểu, can thiệp vào thị trờng vốn thông qua hoạt động của các ngân
hàng nhà nớc và sự kiểm soát của ngân hàng t nhân. Những quy định về giá cả
Đề án kinh tế chính tr
ị______________________________________ 13
với hàng hoá thiết yếu để đảm bảo sự công bằng và chống độc quyền về giá
cả.
Thứ t, Nhà nớc có chính sách thu hút vốn đầu t kể cả đẩu t ra nớc ngoài vả
huy động vốn đầu t từ trong nớc do vậy khuyến khích dân c tiết kiệm để tăng
đầu t. Tỷ lệ tiết kiệm ở các nớc ASEAN đạt từ 22-28% GDP.
Thứ năm, Nhà nớc có chính sách cân bằng lại khu vực t nhân và khu vực
công cộng, đặc biệt đẩy mạnh t nhân hoá các xí nghiệp Nhà nớc để nâng cao
hiệu quả hoạt động của chúng nh:
- Cho thuế hoặc đấu thầu kinh doanh.
- Bán toàn bộ hay từng phần xí nghiệp Nhà nớc cho t nhân thông qua các hình
thức thả nổi cổ phần, đầu t qua các cơ quan tài chính hoặc bán đấu giá.
- Liên doanh với t nhân thông qua việc cung ứng đầu t xây dựng mới hoặc các
cơ sở kinh tế nhà nớc phải phát hành cổ phiếu.
- Giải thể các xí nghiệp Nhà nớc thua lỗ.
Nghiên cứu vai trò của Nhà nớc trong quá trình CNH-HĐH tại các nớc
ASEAN sẽ cho chúng ta rất nhiều kinh nghiệm bổ ích để xác định một cách
đúng đắn vai trò của Nhà nớc trong quá trình CNH-HĐH ở nớc ta. Từ đó, Nhà
nớc có thể đề ra các chính sách thích hợp nhằm đẩy nhanh tiến trình CNH
theo định hớng mà Đảng và Nhà nớc ta đã lựa chọn.
Chơng 2
Thực trạng về vai trò của Nhà nớc
trong quá trình CNH- HĐH ở Việt Nam.
Cần phải khẳng định rằng, Việt Nam không thể tiến lên phát triển kinh tế
nếu không tiến hành CNH-HĐH. Ngay từ Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ
3 (9-1960), Đảng và Nhà nớc ta đã nhận định Nhiệm vụ trung tâm của thời
kỳ quá độ Miền Bắc nớc ta là CNHXHCN. Tuy nhiên trong quá trình thực
hiện CNH-HĐH ở nớc ta vai trò của nhà nớc không phải nhất quán vì nó phải
liên tục đổi mới phù hợp.
Với điều kiện tình hình của đất nớc, có thể chia sự tác động của Nhà Nớc
vào quá trình CNH-HĐH làm hai giai đoạn lớn đó là trớc Đại Hội VI diễn ra
Đề án kinh tế chính tr
ị______________________________________ 14
năm 1986 và sau đại hội VI khi nhà nớc chuyển từ cơ chế hoá tập trung quan
liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc.
1. Vai trò của Nhà nớc ta trong quá trình CNH-HĐH trớc năm 1986.
Trong thời kỳ này, Nhà nớc đã bao biện mọi việc của quá trình CNH, phát
triển kinh tế-xã hội; can thiệp sâu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, biến doanh nghiệp thành cơ cấu chấp hành thụ động; quản lý
nền kinh tế - xã hội bằng công cụ và biện pháp mệnh lệnh, hành chính là chủ
yếu. Những yếu tố đó đã không tạo động lực cho sự phát triển và các nguồn
lực không đợc khai thác sử dụng tốt.
Bên cạnh đó, Nhà nớc đa ra mục tiêu CNH quá lớn, nội dung rất rộng và
toàn diện đó là Xây dựng một nền kinh tế XHCN cân đối và hiện đại, kết hợp
công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, u tiên
phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông
nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nớc ta từ một nớc nông nghiệp lạc hậu
thành một nớc có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại
1
. Đặc biệt
nhà nớc còn định hớng CNH kiểu khép kín, hớng nội lấy phát triển theo
chiều rộng làm chủ yếu, từ đó đã không tạo ra động lực và sức mạnh trong
việc tổ chức thực hiện CNH. Nóng vội trong quá trình thực hiện CNH-HĐH
cải tạo XHCN, Nhà nớc không chú ý thoả đáng đến lợi ích ngời lao động và
tập thể ngời lao động, triệt tiêu nguồn lực từ thành phần kinh tế t nhân. Đơn
điệu, chia cắt, hình thức, máy móc, cứng nhắc trong tổ chức các loại hình tổ
chức kinh tế và tổ chức sản xuất kinh doanh. Những việc làm đó đều do chủ
trơng nôn nóng, chủ quan duy ý chí cộng với sai lầm trong tổ chức chỉ đạo,
trong cơ chế và chính sách nên thời kỳ này nền kinh tế đã lâm vào tình trạng
suy thoái, khủng hoảng, cơ cấu kinh tế ngày càng trở nên bất hợp lý và mất
cân đối nghiêm trọng, nông nghiệp yếu kém không đáp ứng đợc nhu cầu trong
nớc, công nghiệp nặng đầu t lớn nhng không phát huy đợc tác dụng. Nhà nớc
hầu nh không điều khiển đợc quá trình CNH-HĐH chính là thực trạng vai trò
của nhà nớc trong thời kỳ này.
2. Vai trò của Nhà nớc ta trong quá trình CNH-HĐH sau năm 1986.
Sau năm 1986, Nhà nớc không làm chức năng sản xuất kinh doanh mà chỉ
làm các chức năng quản lý Nhà nớc thông qua: kế hoạch hoá định hớng tạo
mọi điều kiện cho sản xuất kinh doanh, điều tiết, kiểm tra, kiểm soát. Cụ thể
là các nhiệm vụ:
1
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng lao động Việt Nam (9/1980)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét