Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA LỢI NHUẬN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

hợp, nhà nớc Xô viết, nền chuyên chính vô sản với CNTB. Là một khối với
CNTB ở bên trên.
Bản chất của CNTBNN trong chính sách kinh tế mới của Lê nin: thực chất của
NEP là tăng cờng cơ sở kinh tế của liên minh chặt chẽ giữa giai cấp công nhân
và nông dân. NEP kiến lập mối quan hệ đúng đắn giữa công nghiệp XHCN với
kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân thông qua việc sử dụng rộng rãi
quan hệ hàng hoá - tiền tệ dới sự kiểm soát của nhà nớc để phát triển lực lợng
sản xuất, đồng thời NEP cho phép phát triển và hớng kinh tế t bản vào con đờng
CNTBNN. Với nội dung cụ thể của NEP là :
Thay thế chế độ trng thu lơng thực thừa bằng chế độ thuế lơng thực nghĩa là
sau khi thu hoạch ngời nông dân phải nộp thuế cho nhà nớc phần còn lại
thuộc về nông dân và đợc trao đổi tự do trên thị trờng.
Thiết lập một cách đúng đắn quan hệ hàng hoá tiền tệ giữa nhà nớc với nông
dân, giữa công nghiệp XHCN với nông nghiệp.
Chuyển các doanh nghiệp nhà nớc (quốc doanh) sang chế độ hạch toán kinh
tế.
Sử dụng khả năng của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh tế
trung gian quá độ, đặc biệt là sử dụng CNTB nhà nớc.
Tăng cờng vai trò quản lý vĩ mô của nhà nớc trong quá trình chuyển đổi nền
kinh tế.
Khi chuyển sang NEP, Lê nin đã thẳnh thắn thừa nhận rằng toàn bộ quan
điểm của chúng ta về CNXH đã thay đổi về cơ bản. Trớc đấy, Đảng và nhà nớc
Xô viết đã tính có thể dựa vào nhiệt tình cách mạng mà trực tiếp thực hiện
những nhiệm vụ về kinh tế nh những nhiệm vụ về quân sự; có thể dùng những
biện pháp trực tiếp của nhà nớc vô sản để tổ chức sản xuất và phân phối sản
phẩm theo kiểu cộng sản chủ nghĩa ở một nớc tiểu nông. Nhng chỉ một thời gian
ngắn thực hiện, Lê nin đã thấy rằng không thể xây dựng trực tiếp CNXH ở một
nớc tiểu nông nh nớc Nga lúc đó mà phải bắc những chiếc cầu nhỏ, đi xuyên
qua CNTBNN, tiến lên CNXH.
Với chế độ thuế lơng thực thay thế cho chế độ trng thu lơng thực thừa, phần
còn lại sau khi nộp thuế sẽ thuộc về nông dân và có thể tự do trao đổi nó trên thị
5
trờng. Tự do buôn bán có nghĩa là có sự phát triển của CNTB nhng CNTB
ấy không đáng sợ làm nh thế sẽ cải thiện đợc nền kinh tế nông dân mà chúng
ta rất cần cải thiện.
Khi chuyển sang NEP, nhà nớc Xô viết đã sử dụng những biện pháp, phơng
pháp hoạt động của CNTBNN và đã thực hiện việc điều tiết trao đổi hàng hoá.
Nhng việc trao đổi ấy ít nhiều vẫn theo phơng thức cũ, nên đã bị thất bại: trao
đổi sản phẩm đã biến thành mua bán sản phẩm. Vậy theo Lê nin rút lui là cha
đủ. Cần chuyển từ CNTBNN sang thiết lập chế độ nhà nớc điều tiết việc mua
bán và lu thông tiền tệ. Và khẳng định: đó là con đờng duy nhất có thể đi theo
đợc đối với chúng ta.
Lê nin đã nêu lên những hình thức của CNTBNN. Ngời đặc biệt chú ý tới tô
nhợng, vì tô nhợng tăng cờng nền sản xuất lớn hiện đại mà không có nó thì về
phơng diện kinh tế bớc quá độ lên CNXH là không thể thực hiện đợc. Hợp tác
xã, trong điều kiện cụ thể của nớc Nga lúc đó, theo Lê nin cũng là một hình thức
của CNTBNN nhng có hình thù ít rõ rệt hơn, phức tạp hơn. Việc chuyển đổi từ
chế độ hợp tác xã lên CNXH là chuyển từ tiểu sản xuất lên đại sản xuất. Chế độ
hợp tác xã không xoá bỏ ngời sản xuất nhỏ với lợi ích t nhân của họ mà đặt lợi
ích đó dới sự điều tiết của nhà nớc và phục vụ lợi ích chung.
Về mặt chính trị, Lê nin khẳng định nhiều lần rằng CNTBNN là không đáng
sợ, không thay đổi đợc gì có tính chất căn bản trong chế độ xã hội của nớc Nga
Xô viết, với hai điều kiện là: một là, chính quyền nhà nớc phải nằm trong tay
giai cấp công nhân và nhà nớc quy định khuôn khổ cho sự phát triển của
CNTBNN; hai là nhà nớc phải nắm các đỉnh cao kinh tế để điều tiết nền kinh tế.
Lê nin cũng cho rằng CNTBNN là một hình thức mới của đấu tranh giai cấp,
chứ không phải là hoà bình giai cấp. Vì vậy, nhà nớc phải bảo vệ lợi ích của
nhân dân lao động.
CNTBNN mà Lê nin nêu là một hình thức đặc biệt. Nó khác với khái niệm
thông thờng về CNTBNN, vì ở đây nhà nớc nằm trong tay giai cấp vô sản và
những đỉnh cao của nền kinh tế thì nằm trong tay nhà nớc XHCN.
Từ những điều trình bày trên, chúng ta có thể thấy: CNTBNN không chỉ là
một thành phần kinh tế trong kết cấu của nền kinh tế quá độ mà còn là sách lợc
6
của nhà nớc vô sản, là con đờng để thực hiện sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội
trong một nớc tiểu sản xuất chiếm u thế.
2. Thực tiễn thực hiện CNTBNN ở nớc Nga thời Lênin.
2.1. Tính tất yếu của CNTBNN ở nớc Nga.
Chính sách kinh tế mới nói chung, CNTBNN nói riêng ra đời là xuất phát
từ điều kiện thực tế và là sự tất yếu do hoàn cảnh thực tế đề ra. Nớc Nga là nớc
chậm tiến ở Châu Âu, cho nên nớc Nga Xô viết chỉ mới có nguyện vọng kiên
quyết tiến lên con đờng chủ nghĩa xã hội mà cha có nền móng kinh tế của nó.
Trong một nớc nh vậy theo Lê nin, cuộc cách mạng XHCN chỉ có thể thắng lợi
triệt để với hai điều kiện: Điều kiện thứ nhất là có sự ủng hộ kịp thời của cách
mạng XHCN ở một số nớc tiên tiến. Điều kiện thứ hai: Là sự thoả thuận giữa
giai cấp vô sản đang thực hiện sự chuyên chính của mình hoạc đang nắm chính
quyền nhà nớc với đại đa số nông dân. Lê nin khẳng định: chừng nào cách mạng
cha nổ ra ở các nớc khác thì chỉ có thoả thuận với nông dân mới có thể cứu vãn
đợc cuộc cách mạng XHCN. Đó là lý do phải quay về t bản nhà nớc.
Sự thoả thuận giữa hai giai cấp này sau khi kết thúc nội chiến đã trở nên
không vững chắc vì nông dân không hài lòng với hình thức quan hệ hiện có,
không muốn có hình thức quan hệ ấy nữa và không muốn tiết tục sống mãi nh
thế. Do đó phải thiết lập những mối quan hệ mới thông qua các hoạt động kinh
tế và phải thoả mãn đợc những yêu cầu của nông dân. về thực chất có thể thoả
mãn tiểu nông bằng hai việc: Phải có sự tự do trao đổi nhất định và phải kiếm ra
hàng hoá và lơng thực.
Chính sách tự do trao đổi là nhằm kiếm ra hàng hoá căn cứ vào tâm lý
của ngời tiêu dùng. Nhờ chính sách tự do buôn bán mà kích thích ngời nông
dân, vì lợi ích của bản thân mà tạo ra nhiều nông sản, hàng hoá, chính sách tự
do buôn bán là sự thoả thuận với nông dân một cách thực tế, khéo léo, khôn
ngoan và mềm dẻo. Cũng chính từ chính sách tự do trao đổi trong nông dân và
chính sách đó mà xuất hiện hai vấn đề dẫn đến CNTBNN.
Trớc hết, tự do trao đổi là tự do buôn bán , mà tự do buôn bán tức là lùi lại
CNTB. Lê nin đã dự kiến trớc nh vậy nhng không phải vì thế mà ta có thể ngăn
cấm đợc. Từ đó thấy đợc sự cần thiết phải dung nạp CNTB. ở đây diễn ra một
7
điều mà chính Lê nin cũng phải nói hình nh là ngợc đời: CNTB t nhân lại đóng
vai trò trợ thủ cho CNXH, có thể sử dụng CNTB t nhân để xúc tiến CNXH.
Muốn không để thay đổi bản chất của mình, nhà nớc vô sản chỉ có thể thừa nhận
cho CNTB đợc phát triển trong một chừng mực nào đó và t bản t nhân phải phục
tùng sự điều tiết của nhà nớc, phải tìm cách hớng chúng vào con đờng của
CNTBNN bằng một tổ chức của nhà nớc và những biện pháp có tính chất nhà n-
ớc từ bên trên. Vậy, trong điều kiện nhà nớc vô sản, tự do trao đổi, tự do buôn
bán tất dẫn đến sự phục hồi của CNTB dới hình thức chủ yếu là CNTBNN.
Trong điều kiện một nớc mà CNTB t sản chiếm u thế, hàng hoá chỉ có thể
có đợc từ nông dân, từ nông nghiệp, nh vậy, phạm vi trao đổi chỉ diễn ra trong
phạm vi hàng hoá nông sản điều đó sẽ kích thích nông dân, nông nghiệp phát
triển .Do đó, phải có những hàng hoá mà nông dân cần đó là những sản phẩm
công nghiệp và thủ công nghiệp. Nhng tình hình trong nớc không thể giải quyết
ngay vấn đề này nếu không có sự giúp đỡ của t bản nớc ngoài . theo Lê nin
cần phải du nhập CNTB từ bên ngoài bằng những hợp đồng buôn bán với nớc
t bản lớn, bằng chính sách tô nhợng tóm lại bằng những hình thức khác nhau
của CNTBNN.
2.2. Vai trò của CNTBNN trong nền kinh tế Nga.
Bản thân CNTBNN là sự kết hợp, liên hợp, phối hợp Nhà nớc Xô viết, nền
chuyên chính vô sản với CNTB, là một khối với CNTB ở bên trên và đơng
nhiên sẽ không có CNTBNN, nếu không có những điều kiện cho họ, điều kiện
ấy theo Lênin, chính là những cống vật. Trong điều kiện trên thế giới chỉ có
mình chính quyền Xô viết, xung quanh là cả 1 hệ thống các nớc t bản, muốn tồn
tại, chính quyền Xô viết không thể bỏ qua sự thật ấy. Khi thực hiện CNTBNN,
nhà t bản đợc lập lại, đợc du nhập không phải vì lợi ích củng cố chính quyền
Xô viết, mà vì lợi ích của bản thân họ. Chính Lênin còn dự kiến cả khả năng sự
phân chia lợi ích đó thoạt đầu có lợi nhiều cho các nhà t bản dới hình thức trả
giá cho sự lạc hậu, cho sự kém cỏi của mình. Vấn đề là không cần che giấu sự
thật: phải nộp cống vật. Nhng đối với nhà nớc vô sản thì sự dung nạp và du
nhập CNTB sẽ mang lại nhứng lợi ích cơ bản và lâu dài.
8
Sự phát triển của CNTB do nhà nớc vô sản kiểm soát và điều tiết có thể đẩy
nhanh sự phát triển ngay tức khắc nền nông nghiệp. Nhờ việc tăng nhanh lực l-
ợng sản xuất trong nông nghiệp mà ổn định xã hội, thoát khỏi khủng hoảng,
thoát khỏi tình cảnh giảm sút tín nhiệm của nông dân đối với chính quyền Xô
viết, khắc phục tình trạng trộm cắp của công
Bằng sự du nhập chủ nghĩa t bản từ bên ngoài mà tăng nhanh lực lợng
sản xuất, tăng lên ngay hoặc trong một thời gian ngắn. Cải thiện đời sống công
nhân và nông dân, nền đại công nghiệp sẽ đợc phục hồi.
CNTBNN là công cụ để liên hợp nền sản xuất nhỏ lại, khắc phục tình trạng
phân tán và đấu tranh chống tính tự phát tiểu t sản và TBCN. CNTBNN là một
bớc tiến lớn, nhờ nó mà chiến thắng đợc tình trạng hỗn độn, tình trạng suy sụp
về kinh tế, hiện tợng lỏng lẻo, nhứng thói quen, địa vị kinh tế của giai cấp. Cũng
chính vì thế mà CNTBNN sẽ đa nớc Nga lên CNXH bằng con đờng chắc chắn
nhất.
CNTBNN là công cụ để khắc phục đợc kẻ thù chính trong nội bộ đất n-
ớc, kẻ thù của các biện pháp kinh tế của chính quyền Xô viết. Đó là bọn đầu
cơ, gian thơng, bọn phá hoại độc quyền của nhà nớc. CNTBNN còn đợc xem là
công cụ đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu và những lệch lạc quan liêu chủ
nghĩa.
Thông qua CNTB và CNTBNN mà giai cấp công nhân có thể học tập đợc
cách quản lý một nền sản xuất lớn, tổ chức một nền sản xuất lớn. CNTBNN
thông qua sự du nhập của t bản từ bên ngoài là hình thức du nhập tiến bộ kỹ
thuật hiện đại, qua đó có đợc trình độ trang bị cao của CNTB.
CNTBNN thông qua sự phát triển của nó mà phục hồi đợc giai cấp công
nhân. Nếu CNTB đợc lợi thế thì sản xuất công nghiệp cũng sẽ tăng lên và giai
cấp vô sản cũng theo đó mà lớn mạnh lên.
2.3 Điều kiện cần có để vận dụng các hình thức kinh tế TBNN:
Để sử dụng CNTBNN: Để sử dụng CNTBNN cần có những giới hạn, điều
kiện để sự phát triển của các quan hệ thị trờng và các quan hệ TBCN nói chung
và các quan hệ CNTBNN nói riêng không nguy hại cho định hớng XHCN cần
có những giới hạn và điều kiện then chốt là:
9
Chính quyền nhà nớc phải nằm trong tay giai cấp công nhân và nhà nớc
quy định khuôn khổ cho sự phát triển của CNTBNN.
Nhà nớc phải nắm các đỉnh cao kinh tế để điều tiết nền kinh tế. Chấp nhận
điều kiện của CNTB để tạo điều kiện cho CNTBNN phát triển và phát huy tác
dụng. Sử dụng sức mạnh của nền kinh tế nhiều thành phần từ đó vận dụng tất cả
các hình thức kinh tế TBNN.
Kiên định về định hớng CNXH và độc lập kinh tế trong quan hệ với CNTB
nớc ngoài.
2.4 Các hình thức kinh tế TBNN vận dụng ở Nga:
2.4.1 Tô nhợng
Tô nhợng là một giao kèo, một sự liên kết, liên minh giữa chính quyền nhà
nớc Xô viết, nghĩa là nhà nớc vô sản với CNTBNN, chống lại thế lực tự phát tiểu
t hữu. Tô nhợng là chính quyền Xô viết ký hợp đồng với nhà t bản. Chính quyền
XHCN giao cho nhà t bản t liệu sản xuất của mình. Nhà t bản tiến hành kinh
doanh với t cách là một bên ký kết, là ngời thuê t liệu sản xuất xã hội chủ nghĩa,
và thu đợc lợi nhuận của t bản mà mình bỏ ra, rồi nộp cho nhà nớc XHCN một
phần sản phẩm ,tô nhợng là hình thức kinh tế mà hai bên cùng có lợi. Nhà t bản
thu đợc lợi nhuận bất thờng, siêu ngạch hoặc để có đợc loại nguyên liệu không
tìm đợc hoặc khó tìm đợc. Chính quyền Xô viết cũng có lợi: lực lợng sản xuất
phát triển, số lợng sản phẩm tăng lên.
Hình thức tô nhợng là sự du nhập chủ nghĩa t bản từ bên ngoài vào. Tất
cả khó khăn trong nhiệm vụ này là phải suy nghĩ, phải cân nhắc hết mọi điều
khi ký hợp đồng tô nhợng và sau đó phải biết theo dõi việc chấp hành nó. Lê
nin đã nêu ra những vấn đề cần chú ý:
- Để thực hành tô nhợng cần phải từ bỏ chủ nghiã ái quốc địa phơng của
một số ngời cho rằng, tự mình có thể làm lấy, không chấp nhận trở lại chịu ách
nô dịch của t bản.
- Ngời nhận tô nhợng có trách nhiệm cải thiện đời sống công nhân trong xí
nghiệp tô nhợng sao cho đạt tới mức sống trung bình của nớc ngoài. Ngoài ra,
ngời nhận tô nhợng phải bán thêm cho chính quyền Xô viết từ 50 -> 100 % số l-
10
ợng sản phẩm tiều dùng (nếu đợc yêu cầu để cải thiện đời sống công nhân
khác).
- Vấn đề trả lơng cho cống nhân ở các xí nghiệp tô nhợng sẽ đợc quy định
riêng trong từng hợp đồng. Điều kiện về thuê mớn, về sinh hoạt vật chất, về trả
lơng cho các công nhân và nhân viên nớc ngoài đợc quy định theo sự thoả thuận
tự do giữa ngời nhận tô nhợng với những loại công nhân viên nói trên. Công
đoàn không có quyền đòi áp dụng các mức lơng của Nga, cũng nh các luật lệ
của Nga về thuê mớn nhân công đối với những công nhân đó.
- Đối với những công dân Nga, chuyên gia Nga có trình độ cao, nếu các xí
nghiệp tô nhợng muốn mời thì phải đợc sự đồng ý của các cơ quan chính quyền
trung ơng.
- Phải tôn trọng pháp luật của nớc Nga.
- Phải nghiêm chỉnh tuân theo những quy tắc khoa học và kỹ thuật phù hợp
với pháp luật của nớc Nga và của nớc ngoài.
2.4.2. Các hợp tác xã.
Những xí nghiệp hợp tác xã đợc coi là một hình thức của CNTBNN. Đặc tr-
ng của xí nghiệp này là sự kết hợp của những xí nghiệp t bản t nhân với những
xí nghiệp kiểu CNXH chính cống. Những xí nghiệp hợp tác xã này là bớc
chuyển từ một hình thức đại sản xuất này sang hình thức đại sản xuất khác.
Hình thức này có thể là hình thức hợp doanh (công t hợp doanh) theo khái niệm
thờng ngày nay với cách diễn đạt của Lê nin.
2.4.3. Hình thức đại lý uỷ thác.
Theo hình thức này thì nhà nớc lôi cuốn nhà t bản với t cách một nhà buôn,
trả cho họ một số tiền hoa hồng để họ bán sản phẩm của nhà nớc và mua sản
phẩm của ngời sản xuất nhỏ.
2.4.4 Cho t bản trong nớc thuê xí nghiệp, vùng mỏ, rừng, đất. Cho nông
dân thuê những hầm mỏ nhỏ:
Cho t bản trong nớc thuê xí nghiệp giống hình thức tô nhợng, nhng đối t-
ợng tô nhợng không phải là t bản nớc ngoài mà là t bản trong nớc.
Cho nông dân thuê những hầm mỏ là một hình thức nữa của CNTBNN.
Chính ở những hầm mỏ nhỏ cho nông dân thuê, sản xuất lại đặc biệt phát triển
11
hơn là những xí nghiệp lớn nhất trớc kia là của t bản. Những nông dân này hoạt
động theo kiểu nộp tô cho nhà nớc. Đây cũng là kiểu cho thuê, nhng đối tợng
thuê là những tiểu t bản.
2.5 Kết quả đạt đợc và ý nghĩa:
2.5.1 kết quả đạt đợc:
Sự thực hành chế độ CNTBNN ở thời Lê nin đã mang lại những kết quả to
lớn. Đến tháng 11 năm 1922, Lê Nin đã trình bày khái quát nhũng thành tựu
của chính sách kinh tế mới nói chung, CNTBNN nói riêng:
Tình hình giai cấp nông dân, từ chỗ đói kém, một bộ phận rất lớn trong
nông dân bất bình đến chỗ trong vòng một năm, nông dân đã thoát khỏi đợc nạn
đói và còn nộp đợc thuế lơng thực hàng trăm triệu rúp. Nông dân đã hài lòng với
tình hình của họ.
Công nghiệp nhẹ đang có đà phát triển, đời sống của công nhân đợc cải
thiện, tình trạng bất mãn của công nhân không còn nữa.
Công nghiệp nặng tuy vẫn còn khó khăn nhng đã có sự thay đổi nhất định.
Riêng về chính sách CNTBNN, nhìn chung đã mang lại cho nớc Nga
những tác dụng tích cực nhất định, góp phần làm sống động nền kinh tế nớc
Nga đã bị suy sụp sau chiến tranh. Nhờ tô nhợng với nớc ngoài, nhiều ngành
công nghiệp quan trọng đã phát triển, nhiều kinh nghiệm tiên tiến với kỹ thuật,
thiết bị hiện đại của nền sản xuất lớn TBCN đã đợc đa vào quá trình sản xuất,
mang lại hiệu quả cao. Tô nhợng cùng các công ty hợp doanh đã góp phần phát
triển sản xuất hàng hoá, tăng thêm dự trữ ngoại tệ cho đất nớc, mở rộng các
quan hệ liên doanh, liên kết kinh tế trong các lĩnh vực đầu t sản xuất, chuyển
giao công nghệ tiên tiến và phát triển ngoại thơng với các nớc t bản phơng tây.
Thông qua các hoạt động của công ty hợp doanh, những ngời cộng sản Nga có
thể thực sự học cách buôn bán, điều mà bấy giờ Lê nin thờng nói là nhiệm vụ
quan trọng. Hoạt động của các xí nghiệp cho thuê, các xí nghiệp hỗn hợp góp
phần giúp nhà nớc Xô viết duy trì hoạt động sản xuất bình thờng ở các cơ sở
kinh tế, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, việc làm cho ngời lao động. Hình thức
đại lý thơng nghiệp và các hợp tác xã TBCN trong các lĩnh vực sản xuất, tín
dụng đã góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ thơng nghiệp XHCN đẩy nhanh
12
qúa trình trao đổi và lu thông hàng hoá tiền tệ, làm sống động nền sản xuất hàng
hoá nhỏ, qua đó cải biến những ngời tiểu nông, nối liền quan hệ trao đổi công -
nông nghiệp, thành thị - nông thôn.
Những kết quả ấy có ý nghĩa tích cực đối với nớc Nga Xô viết. Nó góp
phần không nhỏ vào công cuộc phát triển nền kinh tế nớc Nga sau chiến tranh.
Tuy nhiên so với sự mong muốn và mục tiêu đặt ra của Lê nin thì kết quả thực
hành chế độ này vẫn còn rất thấp. Nguyên nhân quan trọng nhất là CNTB đế
quốc vẫn còn tìm cách bóp chết chính quyền Xô viết, vì thế sự hợp tác, đầu t của
t bản nớc ngoài vào Liên Xô không đạt sự mong muốn.
Tuy nhiên, kết quả lớn nhất là bắt đầu hình thành một khái niệm mới, và
CNTBNN đã thực sự là một phần đặc trng của chính sách kinh tế mới. Và nhờ
chính sách kinh tế mới mà chính quyền Xô viết đã giữ đợc những vị trí vững
chắc trong nông nghiệp và công nghiệp ,có khả năng tiến lên đợc. Nông dân vừa
lòng, công nghiệp cũng nh thơng nghiệp đang hồi sinh và phát triển. Đó là một
thắng lợi của chính quyền Xô viết.
2.5.2. ý nghĩa của NEP và CNTBNN.
Chính sách kinh tế mới của Lê nin có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, trớc hết
nó khôi phục đợc nền kinh tế sau chiến tranh. Từ đó nó khắc phục khủng hoảng
chính trị, củng cố lòng tin cho nhân dân vào sự thắng lợi tất yếu và bản chất tốt
đẹp của CNXH theo những nguyên lý mà Lê nin vạch ra.
Chính sách kinh tế mới của Lê nin đánh dấu một bớc phát triển mới về lý
thuyết nền kinh tế XHCN. Theo t tởng này, nền kinh tế nhiều thành phần, các
hình thức kinh tế quá độ, việc duy trì và phát triển quan hệ hàng hoá - tiền tệ,
quan tâm tới lợi ích kinh tế cá nhân trớc hết là của nông dân là những vấn đề có
tính nguyên tắc trong việc xây dựng mô hình kinh tế XHCN.
Chính sách kinh tế mới có ý nghĩa quốc tế to lớn đối với các nớc phát triển
theo định hớng XHCN, trong đó có Việt nam
II. Sự vận dụng lý luận của Lê nin về CNTBNN trong thời kỳ
quá độ lên CNXH ở Việt nam
1.1. Cơ sở lý luận cho việc vận dụng lý luận về CNTBNN ở Việt nam;
và quan điểm của Đảng cộng sản Việt nam.
13
1.1.1. Tính tất yếu khách quan của việc vận dụng CNTBNN trong thời
kỳ quá độ lên CNXH ở Việt nam
Đặc trng của thời đại ngày nay: loài ngời đã bớc vào một thời đại phát triển
mới, chuyển từ nền văn minh máy móc, hoá chất và dầu lửa sang nền văn minh
sinh học và thông tin, nền kinh tế thế giới đang bớc vào một nền kinh tế đợc gọi
là kinh tế trí tuệ. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới đang tạo ra một
lực lợng sản xuất mới có tính chất và trình độ cao hơn lực lợng sản xuất cũ và
quốc tế hoá rất cao. Tính quốc tế cao của nền kinh tế đang làm cho tất cả các n-
ớc trên thế giới ngày càng phụ thuộc và hợp tác chặt chẽ với nhau. Bất cứ một n-
ớc nào muốn tách biệt khỏi nền kinh tế thế giới là một điều tự sát. Đấu tranh và
hợp tác giữa các nớc là điều kiện tồn tại của tất cả các nớc, của mỗi nớc. Vì vậy,
trong thời đại ngày nay nớc ta không thể tách rời khỏi nền kinh tế thế giới mà
phải hoà nhập vào và muốn nh thế thì trong các thành phần kinh tế của nớc ta
phải có thành phần kinh tế TBNN để có thể hợp tác kinh tế với tất cả các nớc
trên thế giới (phần đa là các nớc t bản hoặc trung lập).
Việt nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Theo lý luận của Lê nin thì
thời kỳ quá độ bao gồm rất nhiều bớc trung gian mà CNTBNN là một trong
những trung gian quan trọng nhất vì vậy để có thể tiến lên CNXH nớc ta không
thể nào bỏ qua các hình thức kinh tế TBNN.
1.2. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt nam về việc vận dụng CNTBNN
ở Việt nam.
Mô hình kinh tế TBNN đã đợc báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ
VIII xác định kinh tế TBNN bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa
kinh tế nhà nớc và t bản nớc ngoài. Kinh tế t bản nhà nớc có vai trò quan trọng
trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công cuộc xây dựng và phát triển
đất nớc
Kinh tế TBNN trong thời kỳ quá độ ở nớc ta là một thành phần kinh tế, một
kiểu tổ chức kinh tế gắn bó giữa một bên là nhà nớc của dân, do dân, vì dân, đại
biểu cho sự sở hữu toàn dân đối với những t liệu sản xuất chủ yếu và lợi ích xã
hội, với một bên là nhà nớc t bản; là hệ thống các quan hệ hợp đồng kinh tế giữa
nhà nớc của giai cấp công nhân và nhà t bản. Do đó, kinh tế TBNN ở nớc ta
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét