Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Tạo động lực cho người lao động tại các doanh nghiệp Da giày Việt Nam.

Đề án môn học GVHD: TS. Trần Việt Lâm
thể tồn tại nhiều động cơ.
- Trả lời cho câu hỏi: “Vì sao
người lao động làm việc”
hay không
- Trả lời cho câu hỏi: “Vì đâu
mà người lao động làm việc cho tổ
chức có hiệu quả đến vậy
1.1.3 Mối quan hệ giữa nhu cầu, lợi ích với động cơ, động lực lao động
Nhu cầu được hiểu là những đòi hỏi, mong ước của con người xuất phát từ
những nguyên nhân khác nhau. Nhu cầu rất đa dạng gồm nhiều loại khác nhau:
Nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu thiết yếu, nhu cầu trước mắt và nhu
cầu lâu dài.
Nhu cầu luôn luôn tồn tại trong mỗi con người và là một phạm trù tồn tai
vĩnh viễn trong mọi chế độ xã hội. Con người thường có xu hướng tìm cách thoả
mãn nhu cầu đó khi nó xuất hiện. Nhưng không có một nhu cầu nào được thoả
mãn hoàn toàn mà chỉ được thoả mãn đến một mức độ nhất định nào đó. Khi một
nhu cầu được thoả mãn thì sẽ xuất hiện một nhu cầu mới và lại thúc đẩy con
người hành động để thoả mãn nhu cầu mới đó. Tuy nhiên nhu cầu không phải là
động lực trực tiếp thôi thúc hành động của con người mà chính lợi ích mới là
động lực chính thúc đẩy con người
Lợi ích cũng rất đa dạng, phong phú nhưng mỗi loại lợi ích lại có vai trò
tạo động lực khác nhau, tuỳ từng hoàn cảnh cụ thể mà lợi ích này hoặc lợi ích kia
trở thành lợi ích cấp bách.
Giữa nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ biện chứng, mật thiết với nhau.
Nhu cầu là cơ sở, tiền đề của lợi ích. Bên cạnh đó lợi ích có mối quan hệ rất chặt
chẽ với động lực làm việc. Nhưng lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể đôi khi lại
mâu thuẫn. Để người lao động có thể tự nguyện theo các định hướng của tổ chức
cần phải làm cho họ thấy rõ lợi ích bản thân họ khi lợi ích của tập thể đạt được.
SV: Hoàng Hồng Phương Lớp: QTKD Tổng hợp 47A
Đề án môn học GVHD: TS. Trần Việt Lâm
Động lực lao động xuất hiện và còn tồn tại khi có một khoảng cách giữa
nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu. Lúc này con người mới có động cơ và động lực
thúc đẩy họ hành động để đạt được sự thoả mãn cao nhất nhu cầu của mình.
2. Tạo động lực
2.1 Khái niệm
Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật
quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực
trong lao động.
Mục đích của tạo động lực: Tạo động lực cho người lao động là trách
nhiệm và mục tiêu của người quản lý. Điều quan trọng nhất là thông qua các
biện pháp chính sách có thể khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát huy tiềm
năng nguồn nhân lực của doanh nghiệp.
2.1 Lợi ích
Tạo động lực mang lại lợi ích cho người lao động, cho doanh nghiệp và
gián tiếp mang lại lợi ích cho xã hội
2.1.1 Đối với ngưòi lao động
- Làm tăng năng suất lao động cá nhân: Khi có động lực lao động thì
người lao động sẽ thấy yêu thích công việc, làm việc hăng say, kết quả là năng
suất lao động cá nhân được nâng cao rõ rệt. Năng suất tăng lên dẫn đến tiền
lương cũng được nâng cao.
- Phát huy được tính sáng tạo: Tính sáng tạo thường được phát huy khi
con người cảm thấy thoải mái, tự nguyện khi thực hiện một công việc nào đó.
SV: Hoàng Hồng Phương Lớp: QTKD Tổng hợp 47A
Đề án môn học GVHD: TS. Trần Việt Lâm
- Tăng sự gắn bó với công việc và công ty hiện tại: khi đã cảm thấy yêu
thích và cảm nhận được sự thú vị trong công việc thì sẽ hình thành bên trong họ
sự gắn bó với tổ chức hiện tại của mình.
2.1.2 Đối với tổ chức
- Nguồn nhân lực trong tổ chức sẽ được sử dụng hiệu quả và có thể khai
thác tối ưu các khả năng của người lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh
- Hình thành nên tài sản quý giá của tổ chức đó là đội ngũ lao động giỏi,
có tâm huyết, gắn bó với tổ chức đồng thời thu hút được nhiều người tài về làm
việc cho tổ chức.
- Tạo ra bầu không khí làm việc hăng say, thoải mái, góp phần xây dựng
văn hoá doanh nghiệp, nâng cao uy tín, hình ảnh của công ty.
2.1.3 Đối với xã hội
- Các thành viên của xã hội được phát triển toàn diện và có cuộc sống
hạnh phúc hơn khi các nhu cầu của họ được thoả mãn.
- Động lực lao động gián tiếp xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh hơn
dựa trên sự phát triển của các doanh nghiệp
2. Các nhân tố tạo động lực cho người lao động
2.1. Nhóm nhân tố thuộc về bản thân người lao động
- Mục tiêu cá nhân: chính là động cơ thôi thúc người lao động làm việc.
Mục tiêu đặt ra càng cao thì càng cần phải tăng cường nỗ lực cá nhân để đạt
được mục tiêu đó, do vậy động lực của mỗi người cũng cao hơn và ngược lại.
SV: Hoàng Hồng Phương Lớp: QTKD Tổng hợp 47A
Đề án môn học GVHD: TS. Trần Việt Lâm
- Hệ thống nhu cầu cá nhân: bao gồm các nhu cầu về vật chất và tinh thần.
Nhu cầu cá nhân càng cao, càng đa dạng thì đòi hỏi động lực lao động cũng phải
lớn và ngược lại.
- Trình độ, năng lực, giới tính, đổ tuổi, đặc điểm tính cách: sự khác biệt về
khía cạnh mỗi cá nhân quyết định tới động lực lao động của mỗi người.
2.2. Các yếu tố thuộc về công việc
- Mức độ phức tạp, mức độ chuyên môn hoá của công việc.
- Nội dung công việc, tính đa dạng phong phú cũng như mức độ hấp dẫn
của công việc
- Sự đòi hỏi về kỹ năng nghề nghiệp và mức độ hao phí về trí lực.
2.3 Nhóm nhân tố thuộc về tổ chức
- Mục tiêu, chiến lược của tổ chức.
- Văn hoá doanh nghiệp, bầu không khí làm việc, môi trường làm việc
- Quan điểm, phong cách, phương pháp lãnh đạo.
- Các chính sách liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động.
II. Các công cụ tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp
1. Các công cụ tài chính
1.1 Tiền lương
Tiền lương là số tiền người sử dụng lao động trả cho người lao động để
hoàn thành công viêc theo chức năng nhiệm vụ quy định.
Tiền lương là một trong những bộ phận quan trọng để tạo động lực cho
người lao động, nó đóng vai trò kích thích người lao động hoàn thành công việc
có hiệu quả cao. Đối với người lao động, mức lương nhận được càng cao thì sự
SV: Hoàng Hồng Phương Lớp: QTKD Tổng hợp 47A
Đề án môn học GVHD: TS. Trần Việt Lâm
hài lòng về công việc càng được tăng cường, giảm lãng phí giờ công, ngày công.
Họ sẽ ngày càng gắn bó với tổ chức, tăng năng suất lao động cá nhân, chất
lượng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức.
Một yêu cầu được đặt ra đó là chế độ tiền lưong phải được thực hiện công
bằng cả bên trong và bên ngoài. Sự công bằng càng được quán triệt thì sự hài
lòng về công việc càng cao, hoạt động của tổ chức càng hiệu quả. Một khi mục
tiêu của tổ chức đạt được lại có điều kiện nâng cao mức sống vật chất, tinh thần
cho người lao động, tạo ra động lực kích thích. Vì vậy để đảm bảo hiệu quả của
tiền lương trong công tác tao động lưc, nhà quản lý phải nhận biết được tầm
quan trọng và có các biện pháp tăng cường mối quan hệ
1.2 Tiền thưởng
Tiền thưỏng là một dạng khuyến khích tài chính được chi trả để thù lao
cho sự thực hiện công việc của người lao động.
Thưởng giúp người lao động cố gắng, nỗ lực hết mình trong khi thực hiện
công việc, thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, kích thích người lao động thực
hiện công việc tốt hơn mức tiêu chuẩn.
Để có thể phát huy và tăng cường hiệu quả của tiền thưởng đối với vấn đề
tạo động lực, nhà quản lý phải chú ý tới một số vấn đề sau:
- Xác định đúng đắn và hợp lý các nấn đề chi trả.
- Điều kiện thưởng và mức thưởng.
- Các hình thức thưởng.
1.3. Các phúc lợi
Phúc lợi là phần thù lao gián tiếp được trả dưới dạng các hỗ trợ về cuộc
sống cho người lao động như: bảo hiểm sức khoẻ; bảo đảm xã hội; tiền lương;
SV: Hoàng Hồng Phương Lớp: QTKD Tổng hợp 47A
Đề án môn học GVHD: TS. Trần Việt Lâm
tiền trả cho những ngày nghỉ lễ, nghỉ phép; các chương trình giải trí, nghỉ mát;
nhà ở; phương tiện đi lại và các phúc lợi khác gắn liền với các quan hệ làm việc
hoặc là thành viên trong tổ chức.
Có 2 loại phúc lợi: Phúc lợi tự nguyện và phúc lợi bắt buộc.
1.3.1 Phúc lợi bắt buộc
Là một khoản phúc lợi tối thiểu mà các tổ chức phải đưa ra theo yêu cầu
của pháp luật. Phúc lợi bắt buộc có thể là: Các loại bảo đảm, bảo hiểm xã hội, trợ
cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế.
Ở Việt Nam, các phúc lợi bắt buộc bao gồm 5 chế độ bảo hiểm xã hội cho
người lao động: trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, thai
sản, hưu trí và tử tuất.
1.3.2. Phúc lợi tự nguyện
Là các phúc lợi mà tổ chức đưa ra tuỳ thuộc vào khả năng kinh tế của họ
và sự quan tâm của người lãnh đạo ở đó. Nó bao gồm các loại sau:
- Các phúc lợi bảo hiểm: Bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm
mất khả năng lao động.
- Các phúc lợi bảo đảm: Bảo đảm thu nhập, bảo đảm hưu trí,
- Tiền trả cho những thời gian không làm việc: Do thoả thuận ngoài mức
quy định của pháp luật như: nghỉ phép, nghỉ giữa ca, tiền đi du lịch…
- Phúc lợi do lịch làm việc linh hoạt.
- Các loại dịch vụ cho người lao động.
• Dịch vụ bán giảm giá mặt hàng của công ty
• Mua cổ phần của công ty
SV: Hoàng Hồng Phương Lớp: QTKD Tổng hợp 47A
Đề án môn học GVHD: TS. Trần Việt Lâm
• Các cửa hàng, cửa hiệu, căng tin tự giúp người lao động.
• Trợ cấp về giáo dục, đào tạo.
• Dịch vụ giải trí như: Chương trình thể thao văn hoá, chưong trình
dã ngoại.
• Dịch vụ nhà ở và giao thông đi lại
Việc cung câp các loại phúc lợi có ý nghĩa sau:
Phúc lợi đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cuộc sống cho người
lao động
Phúc lợi làm tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, làm người lao
động thấy phấn chấn từ đó giúp tuyển mộ tuyển chọn và giữ gìn một lực lượng
lao động có trình độ cao.
Góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động sẽ
thúc đẩy, nâng cao năng suất lao động
Đặc biệt là còn giúp giảm bớt gánh nặng của xã hội trong việc chăm lo
cho người lao động như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
2. Các công cụ phi tài chính
2.1 Bản thân công việc
Công việc có thể được xem như là một đơn vị mang tính tổ chức nhỏ nhất
trong một công ty và giữ những chức năng kha quan trọng. Thực hiện công việc
chính là phương tiện để người lao động có thể đóng góp sức mình vào việc thực
hiện các mục tiêu của tổ chức. Đồng thời công việc là cơ sở để một tổ chức thực
hiện các hoạt động quản lý nhân lực đối với người lao động như bố trí công việc,
kế hoạch hoá lao động, đánh giá thực hiện công việc. đào tạo và phát triển…Mặt
khác công việc có tác động rất quan trọng tới cá nhân người lao động như ảnh
SV: Hoàng Hồng Phương Lớp: QTKD Tổng hợp 47A
Đề án môn học GVHD: TS. Trần Việt Lâm
hưởng tới vai trò, cương vị của họ trong tổ chức cũng như tiền lương, sự thoả
mãn và thái độ của họ trong lao động.
Vì vậy các công việc được thiết kế khoa học theo hướng có các đòi hỏi
hợp lý đối với con người cả về mặt thể lực và trí lực nhằm tạo điều kiện cho
người lao động làm việc với năng suất cao, sử dụng hợp lý quỹ thời gian làm
việc và có tính hấp dẫn, thách thức đối với con người để tối đa hoá động lực làm
việc.
2.2 Văn hoá doanh nghiệp
Như chúng ta đã biết theo thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow: Nhu cầu
của con người không ngừng tăng lên từ nhu cầu vật chất cho đến tinh thần. Khi
đời sống được nâng cao thì con người càng hướng tới những nhu cầu cao hơn và
mong muốn đạt được nó. Điều đó đã lý giải cho sự biến động nhu cầu của từng
thành viên trong doanh nghiệp. Trước đây, điều quan trọng nhất với người lao
động là mức lương để đảm bảo chi trảcuộc sống, thậm chí có khi mức lương đó
thấp hơn cả sức lao động mà họ bỏ ra. Ngày nay, người lao động không chỉ dừng
lại ở việc đòi hỏi một mức lưong thoả đáng mà bản thân họ còn mong muốn
được lao động, làm việc trong môi trường văn minh, lịch sự, được đối xử công
bằng, được coi trọng, được phát huy năng lực cá nhân.
Văn hoá doanh nghiệp được tạo thành từ tổng thể các triết lý quản lý, mục
tiêu sản xuất kinh doanh, các chính sách quản lý nhân sự, bầu không khí tâm lý
của tập thể lao động, lề lối làm việc và các mối quan hệ nhân sự giữa cấp trên,
cấp dưới và giữa các đồng nghiệp với nhau
Thực tiễn cho thấy, văn hoá doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến hành vi
cá nhân trong công việc, nó chỉ cho mỗi người thấy bằng cách nào để thoả mãn
nhu cầu cá nhân. Muốn các thành viên trong tổ chức hết lòng vì mục tiêu chung
SV: Hoàng Hồng Phương Lớp: QTKD Tổng hợp 47A
Đề án môn học GVHD: TS. Trần Việt Lâm
tức là có động lực làm việc thi doanh nghiệp cần thiết lập được một văn hoá
mạnh. Để làm được điều này doanh nghiệp cần phải làm rõ một số khía cạnh:
Nhiệm vụ chính là gì? Mục tiêu cần đạt được và làm thế nào để đạt được mục
tiêu đó.
Văn hóa doanh nghiệp là yếu tố giúp ta phân biệt giữa doanh nghiệp này
và doanh nghiệp khác. Nó là yếu tố quan trọng giữ chân người lao động. Nếu
làm việc trong một doanh nghiệp đơn thuần – không chú trọng văn hoá doanh
nghiệp, người lao động sẽ lao động với động lực duy nhất là phục vụ lợi ích của
bản thân. Nhưng nếu làm việc trong một doanh nghiệp có văn hoá doanh nghiệp
mạnh, người lao động sẽ có sự gắn bó mật thiết với doanh nghiệp, khi dó họ coi
mình là một phần của doanh nghiệp và ngược lại doanh nghiệp cũng vậy.Chính
vì thế động lực lao độgn của họ lúc này không những là vì lợi ích của bản thân
mà còn là vì lợi ích của bản thân doanh nghiệp. Vì vậy mà các doanh nghiệp cần
xây dựng cho minh một nét văn hoá riêng, một môi trường làm việc thuận tiện
mà ở đó ngưòi lao động có cơ hội đào tạo, phát triển và thăng tiến.
III. Sự cần thiết của vấn đề tạo động lực cho người lao động
Hiện nay trong các doanh nghiệp thì công tác tạo động lực cho người lao
động chưa được quan tâm một cách thích đáng, áp dụng chỉ mang tính hình thức.
Trong khi đó thì công tác tạo động lực tốt sẽ giúp cho tổ chức :
- Sử dụng hợp lý, khai thác và phát huy tiền năng nguồn nhân lực của tổ
chức, nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí,…
- Thu hút người lao động có trình độ và tay nghề giỏi. Người lao động sẽ
thích thú làm việc ở đâu tạo điều kiện thuận lợi cho họ làm việc, an tâm công tác.
Một tổ chức dù trả lương không cao như các tổ chức khác nhưng ở đó họ được
tôn trọng và họ cảm thấy thoải mái, họ vẫn sẵn sằng làm việc ở đó góp sức cùng
SV: Hoàng Hồng Phương Lớp: QTKD Tổng hợp 47A
Đề án môn học GVHD: TS. Trần Việt Lâm
tổ chức. Đây là một thành công lớn tạo nên sự ổn định về nhân sự, không có việc
xáo trộn bất ổn trong công ty.
- Giúp công tác tuyển dụng, phân công hợp tác lao động đạt hiệu quả cao
bởi có sự đồng lòng của cán bộ công nhân viên trong tổ chức, với uy tín của tổ
chức sẽ giúp tổ chức tiết kiệm một số khâu như: quảng bá hình ảnh của doanh
nghiệp để mời gọi nhân tài, công tác quản lý lao động được thuận lợi, người lao
động sẽ tự nguyện thực hiện các quyết định nhân sự bởi ban lanh đạo đã tạo
được niêm tin ở họ. Đồng thời hoàn thiện các mặt khác nhau trong tổ chức như:
an toàn vệ sinh lao động, xây dựng văn hoá doanh nghiệp, cải tiến kỹ thuật.
- Người lao động hưng phấn, say mê công việc, tiết kiệm nguyên liệu, đạt
hiệu quả công việc cao, góp phần xây dựng một doanh nghiệp ngày một vững
mạnh, đứng vững trên thị trưòng.
- Góp phần thúc đẩy nền kinh tế xã hội tăng trưởng và phát triển mạnh.
Chính điều này mà các doanh nghiệp, tổ chức càng phải quan tâm một
cách đầy đủ vai trò của công tác tạo động lực cho người lao động.
SV: Hoàng Hồng Phương Lớp: QTKD Tổng hợp 47A

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét