Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Một số giải pháp và điều kiện chủ yếu nhằm lựa chọn công nghệ phù hợp khi chuyển giao công nghệ ở nước ta

- Công nghệ thích hợp có khả năng thu hút sử dụng dịch dụ và nguyên
vật liệu trong nước.
- Công nghệ thích hợp phải sử dụng được phế liệu và không gây ô nhiễm
môi trường
- Công nghệ thích hợp tạo cơ hội tăng trưởng kinh tế xã hội và đông đảo
quần chúng nhân dân.
- Công nghệ thích hợp tạo ra sự phân phối rộng rãi và giảm sự không
bình đẳng trong thu nhập.
- Công nghệ thích hợp không gây xáo trộn đối với VHXH.
- Công nghệ thích hợp tạo tiền đề để tăng cường xuất khẩu, phân công
hợp tác quốc tế.
- Tạo tiềm năng nâng cao dần năng lực công nghệ.
- Công nghệ thích hợp được hệ thống chính trị chấp nhận.
Tóm lại, sự thích hợp của công nghệ không phải là bản chất nội tại của
bất kỳ một công nghệ nào mà nó xuất phát từ môi trường xung quanh trong
đó công nghệ được sử dụng. Chính con người xác định sự thích hợp bằng
cách phối hợp tối đa hiệu quả và tối thiểu hậu quả của công nghệ cho hiện tại
cũng như tương lai, hơn nữa môi trường xung quanh đòi hỏi được xem xét
một cách toàn diện.
II. PHẦN THỨ HAI
THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM
1. Thực trạng công nghệ nước ta.
Bức tranh về công nghệ có thể được khắc hoạ qua các khía cạnh sau:
5
- Tuổi trung bình của máy móc thiết bị là cao, khoảng vài chục năm.
Mức hao mòn hữu hình của MMTB phổ biến khoảng 10 - 60%, có nơi còn
nhiều hơn như thế. Số thiết bị máy móc đạt trình trung bình của thế giới còn
ít. Nhìn chung còn lạc hậu và thủ công. Hệ số cơ bản khí hoá chung trong nền
kinh tế chỉ vào khoảng 20%. Chính tình trạng lạc hậu của MMTB làm chung
không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất - kinh doanh. Thêm vào đó, những
biến động của nhu cầu và tình thế đòi hỏi các doanh nghiệp phải chuyển
hướng kinh doanh.
- Năng lực nghiên cứu, triển khai và tiếp thu phát triển công nghệ ở các
doanh nghiệp còn yếu, thiếu. Đặc biệt là ở những dây truyền, công đoạn, quy
trình sản xuất đòi hỏi tay nghề và kiến thức về công nghệ cao. Hiện tại trong
nền kinh tế mới chỉ có khoảng hơn 10% lực lượng lao động đã qua đào tạo
nhưng trong số đó một bộ phận không nhỏ cần phải đào tạo lại và cập nhật kỹ
năng mới.
- Cơ cấu nhân lực còn bất hợp lý và mất cân đối nghiêm trọng, không
đáp ứng được yêu cầu của CNH - HĐH.
- Kỷ luật và tác phong lao động còn lỏng lẻo, thiếu nghiêm túc đối với
công việc, thiếu động lực để sáng tạo và lao động.
- Mức độ và trình độ tin học hoá và xử lý thông tin còn thấp và chậm làm
cho các quyết định về quản lý sản xuất, kinh doanh còn kém chính xác, chậm
trễ, chắp vá dẫn đến ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh thị trường.
- Điều kiện lao động nhìn chung còn chưa đáp ứng tiêu chuẩn về vệ sinh,
an toàn lao động, cũng như về môi trường lao động.
Ngoài ra thì còn có một số vấn đề vướng mắc:
- Tiêu hao nhiều nguyên vật liệu, năng lượng. Giá thành sản phẩm cao,
các chỉ tiêu này so với mức trung bình của thế giới và khu vực thì thua kém từ
vài lần cho đến vài chục lần tuỳ theo loại sản phẩm.
6
- Chất lượng sản phẩm sản xuất ra còn thấp, khó cạnh tranh với các sản
phẩm cùng loại của nước ngoài.
- Mẫu mã đơn điệu, kém hấp dẫn và chắp vá.
- Chi phí quản lý trong các ngành sản xuất cao: lắp ráp điện tử: 21 -
37%; thi công bê tông: 14,5%; thủy tinh 11%.
- Năng lực và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Việt Nam yếu.
- Thị trường cho sản phẩm và dịch vụ Việt Nam còn hạn hẹp.
- Sức tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ Việt Nam còn chậm, hàng hoá ứ đọng
nhiều.
Qua số liệu trên đây đã phần nào khẳng định bức tranh công nghệ khong
mấy sáng sủa của các doanh nghiệp Việt Nam.
Sau đây là kết quả nghiên cứu, một vài nhận xét có liên quan đến công
nghệ ở các doanh nghiệp chọn lựa ở Việt Nam rút ra từ một dự án do Tổ chức
phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) tài trựo và Viện chiến
lược phát triển thuộc Bộ kế hoạch và đầu tư thực hiện 1998 như sau:
* Các doanh nghiệp chế biến thực phẩm : Vốn cố định nhỏ, quy mô
doanh nghiệp nhỏ (62% các doanh nghiệp này có số lao động ít hơn 10 công
nhân). Công nghệ đơn giản cũ kỹ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm không
chấp nhận được.
Các doanh nghiệp xay sát gạo cho xuất khẩu: Chỉ có một số ít nhà máy
này loại lớn là có khả năng, bảo đảm chất lượng cho xuất khẩu. Nhưng hạ
tầng, bến cảng nơi xuất khẩu gạo Việt Nam còn kém, chi phí bốc xếp cao gấp
đôi ở Băngkoc, Thái Lan, trong khi đó tốc độ bốc dỡ lại rất chậm.
* Các doanh nghiệp chế biến cà phê: Chất lượng (chỉ có 2% số lượng cà
phê xuất khẩu ở Việt Nam thoả mãn yêu cầu ngặt nghèo của loại 1). Máy móc
chế biến tương đối đơn giản, hệ thống nghiên cứu và triển khai không phù
hợp với tầm quan trọng của ngành này.
7
* Các doanh nghiệp chế biến rau quả: Chất lượng sản phẩm còn là một
vấn đề lớn. Công nghệ đóng hộp rất lạc hậu (vẫn sử dụng phương pháp hàn
thiếc )
* Doanh nghiệp chế biến hải sản: Bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh sản phẩm
hải sản chế biến. Tỷ lệ sản phẩm có giá trị giá tăng cao còn thấp. Công nghệ
chế biến còn chưa cao và không đồng bộ (rất ít nhà máy có trang thiết bị hợp
lý để xử lý nguyên liệu thô trước khi đưa vào chế biến)
* Doanh nghiệp dệt may: máy móc thiết bị lạc hậu, đặc biệt là ngành dệt
(trong số các doanh nghiệp quốc doanh, có khoảng 15% máy móc đạt chất
lượng sản xuất, 45% cần được sửa chữa, 40% còn lại cần được thay thế).
Công nghệ quản lý doanh nghiệp nhà nước xơ cứng, kém năng động.
* Các doanh nghiệp ngành điện tử: chưa có phát triển thiết kế gốc và chế
tác mang tính thương mại. ít công nhân đa kỹ năng. Chất lượng sản phẩm
chưa hoặc ít có sản phẩm đạt tiêu chuẩn ISO 9000. Chưa có khả năng cạnh
tranh quốc tế.
* Các doanh nghiệp công nghiệp ô tô: Đầu tư cơ bản nhỏ so với mức cần
thiết để đảm bảo chất lượng sản phẩm. Công nghệ hầu như là lắp ráp (100% ô
tô được lắp ráp dưới dạng CKD). Chi phí lắp ráp cao (gấp 5 lần so với chính
quốc). Tỷ lệ khai thác năng lực máy móc thiết bị thấp.
* Các doanh nghiệp cơ khí: Máy móc cũ kỹ và hỗn tạp, hệ thống sản
xuất lỗi thời. Trình độ công nghệ ở tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất
cơ khí không phù hợp để sản xuất các sản pamr có chất lượng và hiệu quả
cao
Từ những số liệu trên cho ta thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là
do:
- Công nghệ không đồng bộ, mất cân đối làm cho nhiều loại máy móc
thiết bị ít hoặc không được sử dụng.
8
- Máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, hay hư hỏng, thời gian ngừng việc để
sửa chữa lớn.
- Sức ép của đối thủ cạnh tranh nước ngoài, làm doanh nghiệp phải giảm
hoặc ngừng sản xuất dẫn đến tình trạng không dùng hết công suất của máy
móc thiết bị. Đánh giá một cách khách quan tình hình lạc hậu, yếu kém của
công nghệ và thiết bị, sự cạnh tranh gay gắt đã tạo ra sức ép.
2. Thực trạng về chuyển giao công nghệ ở nước ta:
a. Công nghệ được chuyển giao chưa phải thuộc loại tiên tiến, hiện đại
như đã nên ở trên theo đánh giá chung, số máy móc, thiết bị trong các doanh
nghiệp Nhà nước đạt trình độ hiện đại trung bình của TG nhìn chung còn ít.
Số công nghệ nhập đạt trình độ hiện đại, tiến tiến lại càng hiếm. Nguyên nhân
của thực trạng này có nhiều, cos trừ giá chuyển giao, cả từ giá nhận chuyển
giao công nghệ.
- Về giá chuyển giao công nghệ, các đối tác nước ngoài vì mục tiêu tìm
kiếm lợi nhuận cao và nhanh nên ít chịu đầu tư chuyển giao loại công nghệ
hiện đại tiên tiến thường là đắt tiền, thời gian hoàn vốn dài hơn,. Thậm chí có
nhiều trường hợp lợi dụng sự kém hiểu biết của bên nhận chuyển giao để trục
lợi. Theo ý kiến đánh giá của chuyên gia, có tới 25% trong số hàng vạn thiết
bị đã nhập về là đã qua sử dụng, được tân trang lại và nâng cấp bằng các cơ
cấu điều khiển bán tự động hoặc tự động và trong số các dự án đầu tư nước
ngoài đang hoạt động vẫn còn khá nhiều dây chuyền sản xuất sử dụng nhiều
lao động thủ công hoặc có trình độ cơ khí hoá thấp.
- Về phía nhận chuyển giao công nghệ thường là các doanh nghiệp nhà
nước, cũng có 2 loại nguyên nhân: chủ quan và khách quan.
* Những nguyên nhân chủ quan là:
+ Tâm lý ỷ lạim, trông chờ nhiều vào nhà nước.
+ Trình độ hiểu biết về công nghệ mới còn rất hạn hẹp.
9
+ Động cơ trục lợi cá nhân.
+ Thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn.
+ Thụ động trong công việc tìm kiếm công nghệ và trong đàm phán, ký
kết.
+ Thiếu định hướng chiến lược lâu dài về sản xuất kinh doanh.
* Những nguyên nhân khách quan đối với doanh nghiệp là:
+ Môi trường kinh tế xã hội (luật, chính sách tài chính, tiền tệ, lao động,
đất đai, sở hữu công nghiệp ) còn chưa thật phù hợp và hấp dẫn.
+ Bộ máy quản lý nhà nước hoạt động còn nhiều yếu kém, bất cập đối
với hoạt động chuyển giao công nghệ.
+ Thiếu hệ thống mạng lưới thông tin về công nghệ và các dịch vụ hỗ trợ
cần thiết và hữu hiệu khác cho hoạt động chuyển giao công nghệ của các
doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng.
+ Năng lực nghiên cứu và triển khai về khoa học công nghệ của đất nước
còn nhiều yếu kém và bất cập, chưa đủ “nội lực” cần thiết để làm cơ sở cho
việc tiếp thụ và phát triển các công nghệ nhập trong điều kiện cụ thể của Việt
Nam.
* Theo thống kê những vấn đề chủ yếu đang cản trở hoạt động đổi mới
công nghệ ở các doanh nghiệp nhà nước cũng như các doanh nghiệp không
phải nhà nước là:
- Thiếu nguồn lực cần thiết (vốn, nhân lực )
- Thiếu thông tin về công nghệ
- Nhiều vướng mắc và cản trở trong môi trường sản xuất, kinh doanh còn
chưa được tháo gỡ.
- Thiếu các dịch vụ hỗ trợ cần thiết (tài chính, tín dụng, ngân hàng, thị
trường )
10
- Thiếu phối hợp giữa các nguồn lực cũng như các tổ chức quản lý và sản
xuất kinh doanh.
b. Chưa có thiết kế tổng thể về vấn đề lựa chọn công nghệ.
+ Sự thiếu hụt này bao gồm từ định hướng chiến lược với những ưu tiên
công nghệ cho tới việc xây dựng khung chính sách, tạo môi trường thuận lợi
cho các doanh nghiệp.
+ Về phía nhà nước, còn thiếu một chiến lược phát triển khoa học công
nghệ dài hạn ở tầm quốc gia những quan điểm, định hướng, phối hợp hành
động ở cấp bộ, ngành và các doanh nghiệp. Do vậy mà sự trùng lắp, thừa
thiếu đồng bộ, sự thiệt hại lớn về kinh tế trong các hợp đồng mua bán công
nghệ, là hệ quả tất yếu của sự thiếu hụt này.
+ Chưa có sự hỗ trợ cần thiết về chính sách, cơ chế cũng như các hỗ trợ
khác (những ưu đãi hoặc bảo hộ, hệ thống thông tin về công nghệ) sự lúng
túng trong quản lý công nghệ ở các bộ, ngành có nguyên nhân quan trọng bắt
nguồn từ thiếu hụt này.
+ Tình trạng thiếu đồng bộ, chắp vá, chồng chéo thậm chí còn mâu thuẫn
nhau là những biểu hiện của thiếu hụt này.
- Còn chưa xây dựng được một năng lực nội sinh của quốc gia về khoa
học công nghệ, trước hết là về nghiên cứu, triển khai, đủ sức hỗ trợ cho việc
tiếp thu công nghệ trong nền kinh tế nói chung và trong doanh nghiệp nói
riêng.
- Về phía các doanh nghiệp nhà nước:
+ Còn thiếu một chiến lược sản phẩm làm cơ sở định hướng. Nhìn
chung, những khó khăn chung, hiện tại vẫn làm cho các doanh nghiệp nhà
nước chủ yếu loay hoay và xoay sở để tồn tại chứ chưa phải là để phát triển.
11
+ Còn thiếu đội ngũ cán bộ KHCN và công nhân kỹ thuật lành nghề đủ
sức và đủ trình độ nắm bắt, lựa chọn, tiếp thụ và vận hành công nghệ mới,
tiên tiến.
c. Những công nghệ được chuyển giao đổi mới trong thời gian qua chưa
tạo được lực đẩy cần thiết cho việc tiếp tục nâng cao năng lực công nghệ và tự
đổi mới công nghệ thể hiện như sau:
- Những chuyển giao về công nghệ cho đến nay được thực hiện chủ yếu
trong lĩnh vực lắp ráp, gia công, chế biến (sản xuất hàng tiêu dùng). Trong
lĩnh vực công nghiệp chế biến máy, đặc biệt là máy công cụ, việc chuyển giao
công nghệ được thực hiện chưa được bao nhiêu. Nhà máy công cụ số 1 - một
doanh nghiệp nhà nước đứng hàng đầu của cả nước với 527 thiết bị gia công
cơ khí chủ yếu nhưng lại không có thiết bị nào mới được chế tạo cách đây 10
năm.
- Những chuyển giao công nghệ trong thời gian qua còn dừng lại ở khâu
tiếp nhận, vận hành, chứ chưa tạo ra được mối quan hệ chặt chẽ với các cơ
quan nghiên cứu, và triển khai công nghệ để nghiên cứu thích nghi, cải tiến
công nghệ.
- Những công nghệ được chuyển giao cho đến nay phần lớn do phía
nước ngoài giới thiệu. Nhiều hợp đồng về chuyển giao công nghệ được ký kết
với sự soạn thảo sẵn của bên nước ngoài, kèm theo những điều khoản có lợi
cho bên chuyển giao công nghệ. Có thể nói rằng ở lĩnh vực này, doanh nghiệp
nhà nước đa phần bị động và thụ động.
d. Năng lực nội sinh của các doanh nghiệp nhà nước còn yếu, chưa đủ
khả năng tự ra quyết định trong vấn đề công nghệ được thể hiện:
- Năng lực nắm bắt và cập nhật cũng như xử lý thông tin có liên quan
đến công nghệ còn rất hạn hẹp, do đó sự thiếu hụt này có ảnh hưởng tiêu cực
và lâu dài không chỉ tới hướng phát triển của doanh nghiệp mà trong nhiều
trường hợp còn cả tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
12
- Năng lực lựa chọn và quyết định về công nghệ còn rất hạn chế. Sự
thiếu hụt này một phần bắt nguồn từ những thiếu hụt về thông tin, về đội ngũ
cán bộ một phần khác cũng rất quan trọng, đó là ý thức, phẩm chất những
cán bộ có trách nhiệm và liên quan tới việc lựa chọn và quyết định công nghệ.
- Năng lực đàm phán trong hoạt động công nghệ còn yếu, điều này thể
hiện ở sự bị động, thụ động trong đàm phán ký kết các hợp đồng về chuyển
giao công nghệ.
Một báo cáo gần đân của Bộ khoa học công nghệ và môi trường cho
thấy: Trong số hơn 2000 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới chỉ có
94 hợp đồng chuyển giao công nghệ (chiếm 0,047%) được trình lên Bộ khoa
học công nghệ và môi trường.
e. Sự thiếu đồng bộ, thiếu hoàn chỉnh của cơ sở hạ tầng kinh tế cho
hoạt động chuyển giao công nghệ thể hiện:
- Hệ thống giao thông vận tải yếu kém không chỉ làm nản lòng các nhà
đầu tư chuyển giao công nghệ mà làm cho hoạt động đổi mới công nghệ bị
hạn chế phát huy tác dụng vừa được phân bổ không đều giưã các vùng, khu
vực và lãnh thổ của đất nước,.
- Hệ thống dịch vụ hỗ trợ (tài chính ngân hàng, xúc tiến đầu tư) còn yếu
kém.
3. Những tồn tại và mâu thuẫn chủ yếu trong chuyển giao công nghệ
ở nước ta trong thời gian qua.
a. Chuyển giao công nghệ trong điều kiện đổi mới công nghệ lẻ tẻ.
Thiếu quy hoạch và chiến lược, thiếu sự gắn bó giữa phương hướng đổi
mới, chuyển giao công nghệ với chiến lược phát triển cũng như chiến lược
kinh doanh. Điều này thể hiện qua các mặt sau:
- Các doanh nghiệp thực hiện chuyển giao công nghệ do sức ép của thị
trường chứ không phải do chủ động theo kế hoạch.
13
- Các công nghệ được chuyển giao phần lớn do phía nước ngoài giới
thiệu chứ không phải tự các doanh nghiệp tìm kiếm hoặc tự nghiên cứu thiết
kế.
- Công nghệ được chuyển giao trong lúc còn nhiều điều kiện, tiền đề cần
thiết (về cơ sở hạ tầng, thị trường, lao động, tièn vốn )
- Tình trạng nhập máy móc, thiết bị lẻ nhiều và phổ biến hơn là các dây
chuyền đồng bộ và khép kín.
- Các phương hướng, chủ trương và chiến lược của các cơ quan quản lý
ngành chưa gắn bó với phương hướng, dự án đổi mới công nghệ và kỹ thuật
của các doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp đang gặp nhiều lúng túng trong việc xác định hướng
doanh nghiệp và chiến lược kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp thực hiện chọn
công nghệ mới cũng chính làthực hiện sự chuyển hướng kinh doanh.
⇒Tình trạng này không chỉ hạn chế hiệu quả sản xuất kinh doanh, mà
còn hạn chế trình độ kỹ thuật của sản xuất (trong mỗi dây chuyền luôn có
những thiết bị lạc hậu so với những loại khác) và làm giảm tính đồng bộ cần
thiết của công nghệ.
b. Trình độ công nghệ và trình độ thiết bị, máy móc sau khi chuyển giao
vẫn thấp; chưa phải là hiện đại. Một cuộc khảo sát với hơn 700 thiết bị, 3 dây
chuyền tại 42 nhà máy cho thấy kết quả sau:
- 76% số máy mới nhập thuộc thế hệ máy 1950 - 1960.
- Hơn 50% máy móc thiết bị là đồ cũ tân trang lại.
Kết quả điều tra, đánh giá trình độ công nghệ trong ngành công nghiệp
nhẹ cũng cho thấy:
- 46% doanh nghiệp có trình độ công nghệ ở mức trung bình khá.
- 40% doanh nghiệp có trình độ công nghệ trung bình cần được cải tiến.
- 14% doanh nghiệp có trình độ công nghệ thấp cần được đổi mới.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét