LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phương hướng và giải pháp tăng cường vai trò của nhà nước trong việc phát triển các kcn giai đoạn 2006-2010": http://123doc.vn/document/1043018-phuong-huong-va-giai-phap-tang-cuong-vai-tro-cua-nha-nuoc-trong-viec-phat-trien-cac-kcn-giai-doan-2006-2010.htm
CHƯƠNG I
LÍ LUẬN CHUNG VỀ KCN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
I/LÍ LUẬN CHUNG VỀ KCN
1/Khái niệm chung về KCN
1.1/Khái niệm KCN ở Việt Nam
Khu công nghiệp đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản
phát triển vào những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Trong thời gian
đầu xuất hiện, các KCN được xem như một mô hình quy hoạch công nghiệp,
tuy nhiên sau đó do những lợi ích thiết thực mà mô hình này đem lại, các
KCN đã được xem như một công cụ để phát triển kinh tế. Đến nay, lợi ích
của việc phát triển các KCN đã được nhiều nước trên thế giới thừa nhận và
cùng với quá trình tồn tại, phát triển các KCN đã xuất hiện ngày càng nhiều
dưới những hình thức khác nhau. Khái niệm về KCN cũng được bàn cãi
trong một thời gian dài, đến nay vẫn chưa đi đến thống nhất.
Trong thời gian gần đây, KCN đang được hình thành và phát triển
mạnh mẽ ở nước ta. Khái niệm về KCN đã được Nhà nước ta nêu rõ trong
Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ban hành kèm
theo Nghị định 36-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ. Trong Quy chế này đã
đưa ra các khái niệm về KCN, KCX, KCNC như sau:
KCN là “khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất
hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có
ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ
tướng chính phủ quyết định thành lập. Trong KCN có thể có doanh nghiệp
chế xuất” (Khoản 1, Điều 2)
5
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
KCX là “khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên
sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu
và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh
sống; do Chính phủ hoặc thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập” (Khoản
2, Điều 2)
KCNC là “khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và
các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu-
triển khai khoa học-công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan, có ranh
giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ
tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong KCNC có thể có doanh nghiệp
chế xuất” (Khoản 3, Điều 2)
Có thể thấy rằng, giữa ba khái niệm này có liên quan với nhau. Nếu như
khái niệm về KCN mang tính chất đặc trưng cơ bản thì KCX và KCNC là
hai khái niệm mang tích chất là những hình thái đặc thù của KCN:
- KCX là khu công nghiệp mà theo đó hàng hoá sản xuất ra chủ yếu
dùng để xuất khẩu.
- KCNC là khu công nghiệp gắn với các hoạt động kĩ thuật, công nghệ
cao.
KCN, KCX, KCNC là các loại hình khác nhau của Khu công nghiệp tập
trung. Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu cả ba loại hình trên. Tuy nhiên,
các KCN được nghiên cứu nằm trong phạm vi điều chỉnh của Quy chế KCN,
KCX, KCNC. Đó là những KCN do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập.
1.2/ Một số cách hiểu khác nhau về KCN
Như đã được trình bày trong phần trên, hiện nay trên thế giới có nhiều
cách hiểu khác nhau về KCN và vẫn chưa đưa đến một khái niệm thống nhất
về KCN.
6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
Trước tiên, đối với KCX, đây là một khu vực đặc biệt chuyên sản xuất
hàng xuất khẩu, đứng ngoài chế độ mậu dịch và thuế quan của một nước,
được thành lập với những điều kiện, yếu tố thuận lợi về pháp lí, quản lí và
cơ sở hạ tầng trên một phạm vi đã được xác định nhằm mục đích chủ yếu để
thu hút đầu tư của các nước phát triển đặc biệt từ các công ty xuyên quốc
gia. KCX, ngày nay có các định nghĩa sau:
- Định nghĩa của Hiệp hội các KCX thế giới (WEPZA)
Theo Điều lệ hoạt động của Hiệp hội các KCX thế giới (WEPZA),
“KCX bao gồm tất cả các khu vực được chính phủ các nước cho phép như
cảng tự do, khu mậu dịch tự do, KCN tự do hoặc bất kì khu vực ngoại
thương hoặc khu vực khác được WEPZA công nhận”. Định nghĩa này về cơ
bản đã đồng nhất KCX với khu vực được miễn thuế.
- Định nghĩa của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO):
KCX được hiểu là “khu vực được giới hạn về mặt hành chính và địa lí,
trong đó cách doanh nghiệp được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi cho phép
tự do nhập khẩu các trang thiết bị và sản phẩm nhằm mục đích phục vụ cho
hoạt động sản xuất sản phẩm xuất khẩu”. Khác với định nghĩa thứ nhất, với
định nghĩa này có thể xác định được hoạt động chính trong KCX là sản xuất
công nghiệp.
Như vậy, cách hiểu của Việt Nam về KCX tương đồng với cách hiểu
của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc.
KCX được thành lập với mục tiêu chính nhằm để thu hút vốn từ các nhà
đầu tư nước ngoài qua việc tạo ra các chính sách ưu đãi đặc biệt cho các nhà
đầu tư hoạt động.Tuy nhiên, khi hoạt động trong KCX, một bất lợi rất lớn
đối với các nhà đầu tư đó là sản phẩm được làm ra yêu cầu phải xuất khẩu
hết hoặc phần lớn ra nước ngoài. Do đó, một trong những yếu tố tạo nên sức
hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài đó là thị trường bên trong của nước sở tại
7
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
đã không được đảm bảo cho các nhà đầu tư. Điều này làm cản trở khả năng
thu hút vốn trong KCX. Ngoài ra, đối với nước sở tại nó cũng làm hạn chế
về lợi ích kinh tế do không phát huy được khả năng lan toả của các doanh
nghiệp trong KCX.
KCN là một mô hình linh hoạt hơn, hấp dẫn các nhà đầu tư hơn (đặc
biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài) vì họ có thể hi vọng vào thị trường
nội địa, đối với một số nước dung lượng của thị trường nội địa là khá lớn
(Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…). Việc khai thác được thị trường nội địa
còn có thuận lợi cho các nhà đầu tư đó là tiết kiệm được chi phí vận chuyển
hàng hoá hơn so với việc xuất khẩu ra nước ngoài… Đối với nước sở tại,
ngoài việc khắc phục hạn chế về khả năng lan toả của KCX, việc phát triển
mô hình KCN, mở cửa thị trường nội địa cũng phù hợp với xu hướng tự do
hoá mậu dịch của khu vực và thế giới. Việc cho phép tiêu thụ hàng hoá trong
thị trường nội địa cũng góp phần giúp cho các doanh nghiệp trong nước
nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước, có khả
năng cạnh tranh với hàng hoá của nước ngoài .
Hiện nay có hai cách hiểu khác nhau về KCN:
- Cách hiểu thứ nhất:
KCN là “khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, trong đó tập trung các
doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho hoạt động
sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống”. Cách hiểu này cũng
giống với khái niệm về KCN của Việt Nam trong Quy chế KCN, KCX,
KCNC được ban hành kèm theo Nghị Định 36/CP.
- Cách hiểu thứ hai:
KCN là “khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp,
bên cạnh đó là các hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp,
dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở…”.
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
Khác với cách hiểu trên, ở đây trong KCN có hoạt động sinh sống của dân
cư. Về thực chất đây là mô hình khu hành chính – kinh tế đặc biệt (Đặc khu
kinh tế, Khu kinh tế mở…).
Bên cạnh hai loại hình KCN và KCX còn có mô hình KCNC. Ở một số
nước khái niệm Khu công nghiệp nói chung chỉ bao gồm KCN và KCX, một
số nước khác khái niệm Khu công nghiệp nói chung được hiểu bao gồm
KCN, KCX và KCNC. Ở Việt Nam khái niệm Khu công nghiệp nói chung
bao gồm cả KCNC. Có nước còn gọi KCNC là “thành phố khoa học”, “công
viên khoa học”. KCNC thường được xây dựng trên cơ sở hạt nhân là các
viện nghiên cứu khoa học, trường đại học lớn, các cơ sở sản xuất ứng dụng
các kĩ thuật cao… Mục tiêu nhằm phát triển công nghiệp kĩ thuật cao, thu
hút công nghệ cao của nước ngoài, nâng cao năng lực nội sinh của các ngành
công nghệ cao ở trong nước. KCNC yêu cầu cần phải có một hệ thống kết
cấu hạ tầng tương đối hiện đại với những tiêu chuẩn hết sức khắt khe (không
bị mất điện, mật độ xây dựng thấp thường dưới 25%, liên hệ chặt chẽ với
các trường Đại học và các cơ sở nghiên cứu…).
Tóm lại, KCN nói chung có thể hiểu theo nhiểu cách khác nhau tuỳ
theo mục đích phát triển KCN của các nước trên thế giới. Tuy vậy, trong đề
tài này, tác giả chỉ nghiên cứu về KCN trong giới hạn phạm vi lãnh thổ Việt
Nam. Những số liệu dẫn chứng thực trạng phát triển của KCN và các văn
bản pháp quy có liên quan đến KCN đều dựa trên cơ sở các khái niệm hiện
hành về KCN được nêu ra trong Quy chế KCN, KCX và KCNC. Do đó tác
giả thống nhất sử dụng các khái niệm về KCN nói chung trong quy chế này.
2/ Những đặc điểm của KCN liên quan đến vai trò của Nhà nước
KCN xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng cuối thế kỉ 19, xuất phát từ
nước Anh. Sau đó lần lượt xuất hiện ở các nước Tây Âu như Italia, Pháp,
Thuỵ Điển, Hà Lan và các nước Bắc Mĩ như Hoa Kì, Canada. Sau chiến
9
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
tranh thế giới lần thứ hai, KCN được xây dựng rộng khắp ở các nước đang
phát triển trên thế giới. Với khoảng thời gian tồn tại hơn 1 thế kỉ, ngày nay
KCN không phải là một mô hình mới mẻ mà trở nên phổ biến trên thế giới.
Đối với Việt Nam, với khoảng thời gian 15 năm hình thành và phát triển
(KCN đầu tiên ra đời tại Việt Nam là KCX Tân Thuận, Tp.Hồ Chí Minh vào
năm 1991). Khoảng thời gian đó là không dài nếu so với sự tồn tại của KCN
trên thế giới. Việc phát triển các KCN muốn đạt được thành công, trước tiên
cần phải có cái nhìn tổng quan về KCN, phát hiện được các đặc trưng của nó
qua đó có những biện pháp thích hợp tác động vào nó để đem đến những
thành quả mong muốn.
Xuất phát từ các khái niệm của Nghị định 36/CP và các khái niệm khác
về KCN, đồng thời qua thực tiễn phát triển của các KCN, tác giả cho rằng,
để xem xét vai trò của Nhà nước đối với việc phát triển của các KCN cần
phải lưu ý các đặc trưng sau:
Thứ nhất: KCN thực chất là một khu vực tập trung các doanh nghiệp
sản xuất trong một phạm vi nhất định, các doanh nghiệp trong KCN về cơ
bản vẫn phải chịu sự điều chỉnh của hệ thống Luật pháp Việt Nam (Luật đầu
tư nước ngoài, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Pháp luật về thuế…).
Về cơ bản, KCN là một bộ phận cấu thành nền kinh tế đất nước, có mối
quan hệ với các bộ phận khác và phải chịu sự quản lí của Nhà nước về kinh
tế.
Thứ hai: KCN thường được xây dựng ở những vị trí tương đối thuận lợi
(gần đường giao thông lớn, bến cảng, sân bay, trung tâm kinh tế…). Yêu cầu
đặt ra là cần phải có công tác quy hoạch tổng thể nhằm xác định các vị trí
xây dựng các KCN sao cho nó có thể phát huy được hiệu quả cao.
Thứ ba: Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng một số quy chế
riêng của Nhà nước và địa phương sở tại, các quy chế này thể hiện sự quan
10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
tâm, ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp này phát triển. Việc
ban hành các chính sách thuộc về vai trò của Nhà nước. Điều này đòi hỏi
Nhà nước vẫn phải có những chính sách thích hợp nhằm phát huy ưu thế của
các KCN.
Thứ tư: KCN được xây dựng với một kết cấu hạ tầng tương đối hiện đại
nhằm phát huy khả năng liên kết giữa các xí nghiệp trong KCN với nhau,
đồng thời giúp giảm chi phí sản xuất do sử dụng chung kết cấu hạ tầng. Việc
xây dựng kết cấu hạ tầng là tương đối tốn kém, thời gian thu hồi vốn lại khá
lâu, do đó cần phải có sự tham gia của Nhà nước đối với việc xây dựng cơ
sở hạ tầng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua các thành phần kinh tế khác.
Thứ năm: KCN có Ban quản lí chung thống nhất, thực hiện quy chế
quản lí thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi và hiệu suất tối đa cho các xí
nghiệp công nghiệp và các doanh nghiệp khác phát triển.
Thứ sáu: Trong KCN, Nhà nước chỉ quy định những ngành và doanh
nghiệp loại nào được khuyến khích phát triển và loại nào không được đặt
trong KCN do yêu cầu bảo vệ môi trường và quốc phòng an ninh. Do đó cần
phải có công tác kiểm tra, thanh tra đối với các KCN.
3/ Tác động của KCN đối với nền kinh tế đất nước
3.1/ Tác động tích cực
3.1.1/ Tác động mạnh đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Ở Việt Nam, trong tiến trình CNH-HĐH, lí luận và thực tiễn cho thấy
nhân tố hàng đầu nếu không nói là quan trọng nhất đối với CNH-HĐH đất
nước đó là phải có vốn lớn. Tuy nhiên, sự khan hiếm nguồn vốn đang là vấn
đề mà Việt Nam cũng như các nước đang phát triển mắc phải. Do đó muốn
cho CNH-HĐH diễn ra với tốc độ nhanh, cần phải có biện pháp thu hút được
nguồn vốn nhiều nhất. Với tính chất là khu vực kinh tế đặc biệt, hoạt động
theo một quy chế riêng trong một môi trường đầu tư chung của cả nước,
11
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
KCN là một công cụ hữu hiệu để thu hút đầu tư. Đó là do khi đầu tư vào
KCN, các nhà đầu tư có khả năng giảm chi phí sản xuất, tại đây các doanh
nghiệp sẽ được hưởng những ưu đãi đặc biệt về thuế và các loại phí, thuận
lợi trong các thủ tục hành chính… Đầu tư vào KCN sẽ giúp cho các nhà đầu
tư tận dụng tối đa các cơ hội đầu tư do không cần phải giải toả và xây dựng
cơ sở hạ tầng như ngoài KCN, điều này giúp cho các nhà đầu tư rút ngắn
được thời gian đọng vốn, nhanh chóng đưa dây chuyền sản xuất vào hoạt
động để chiếm lĩnh thị trường.
3.1.2/ Tác động của KCN đối với việc giải quyết việc làm, tạo thu nhập
cho người lao động
Các KCN được hình thành và phát triển sẽ thu hút được một lực lực khá
lớn vào làm việc trong các KCN này. Lao động được thu hút vào các doanh
nghiệp KCN bao gồm lao động ở địa phương và lao động từ nơi khác đến.
Không những tạo việc làm trực tiếp cho người lao động trong các KCN, việc
hình thành và phát triển các KCN còn tạo công ăn việc làm cho người lao
động ở ngoài KCN với các hoạt động dịch vụ phục vụ cho công nhân trong
các KCN. Khi các KCN được hình thành, một bộ phận nông dân sẽ được
vào làm trong các khu công nghiệp, với mức lương ổn định và thu nhập của
công nhân thường cao hơn so với thu nhập của người nông dân. Với mức thu
nhập cao như vậy, các hoạt động dịch vụ có cơ hội phát triển hơn qua đó tạo
được một số lượng lớn việc làm cho người dân ở địa phương, đây là số lao
động gián tiếp mà các KCN tạo ra, và thực tế cho thấy số lao động gián tiếp
này còn nhiều hơn so với số lao động trực tiếp mà các KCN thu hút vào
KCN
Khi các KCN được hình thành nó còn có tác dụng kích thích sự hình
thành và phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ ở địa phương và từ đó
lại tạo thêm nhiều chỗ làm mới.
12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
3.1.3/ Tác động của KCN đối với việc nâng cao trình độ công nghệ của
đất nước
Ngày nay, công nghệ có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế đất nước. Đối với Việt Nam, trong tiến trình CNH-HĐH, việc
phát triển khoa học-công nghệ có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Tuy
nhiên, hiện nay trình độ công nghệ của nước ta còn rất thấp so với thế giới.
Chúng ta lạc hậu từ 3-4 thế hệ (hay từ 50-100 năm về thời gian) so với các
nước công nghiệp trên thế giới. So với các nước trong khu vực ASEAN thiết
bị của Việt Nam cũng lạc hậu khoảng 20-30 năm. Với hiện trạng như vậy thì
quá trình CNH-HĐH của nước ta là rất khó thực hiện.
Chúng ta biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự
nghiên cứu phát minh, chế tạo ra công nghệ và chuyển giao công nghệ từ
nước ngoài. Để tận dụng lợi thế của nước đi sau cần thực hiện việc chuyển
giao công nghệ tiên tiến hơn từ nước ngoài vào Việt Nam. Qua việc phát
triển các KCN, cùng với dòng vốn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư nước ngoài
còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến,
hiện đại. Động lực khiến cho các chủ đầu tư nước ngoài đem công nghệ tiên
tiến vào nước ta, là do khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong các
KCN cũng như bất kì một nơi nào khác, điều mà chủ đầu tư rất quan tâm đó
là sản phẩm họ làm ra có chiếm lĩnh được thị trường trong nước cũng như
thị trường thế giới hay không. Muốn vậy, một trong những yếu tố rất quan
trọng tạo nên sức cạnh tranh cho các sản phẩm đó là yếu tố công nghệ, đây
là các yếu tố mà các nước phát triển rất sẵn có.
Công nghệ theo cách hiểu hiện nay, không chỉ là các trang thiết bị máy
móc, khí cụ, nhà xưởng (phần cứng). Công nghệ còn là các “phần mềm” bao
gồm: kĩ năng tay nghề, kinh nghiệm của người lao động, trình độ quản lí của
13
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
cán bộ… Lao động của Việt Nam khi làm việc trong các KCN, với những
dây chuyền công nghệ tiên tiến, đòi hỏi cần phải có đủ trình độ để điều hành
nó. Do đó bên cạnh sự chuyển giao về công nghệ là hoạt động đào tạo nâng
cao tay nghề trong các KCN. Người lao động Việt Nam khi được làm việc
trong môi trường của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài còn được học
hỏi tác phong làm việc, kinh nghiệm quản lí tiên tiến của các chuyên gia, các
nhà quản lí từ nước ngoài.
3.1.4/ Tác động lan toả của KCN đối nền kinh tế trong nước, làm cầu
nối hội nhập kinh tế trong nước với kinh tế thế giới
Các KCN khi được hình thành và phát triển sẽ tạo ra năng lực sản xuất
mới, bên cạnh đó nó còn tạo ra được mối liên kết với các doanh nghiệp trong
nước thông việc cung cấp các sản phẩm đồng thời kí kết các hợp đồng cung
cấp nguyên vật liệu, hợp đồng gia công với các cơ sở sản xuất bên ngoài
KCN, đây là thực tiễn diễn ra ở các nhiều KCN trên thế giới. Ngoài ra nó
còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của một số ngành
dịch vụ như: ngân hàng-tài chính, dịch vụ thuê nhà, đào tạo và cung cấp
nguồn lao động cho các KCN…
Sự phát triển của các KCN sẽ giúp cho cánh cửa kết nối giữa nền kinh
tế trong nước và nền kinh tế thế giới được mở rộng hơn. Hàng hoá sản xuất
trong các KCN không những đủ sức cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu từ
bên ngoài mà có thể xuất khẩu ra các nước khác. Sự hội nhập kinh tế không
dừng lại ở việc trao đổi hàng hoá, các KCN còn là nơi “ươm mầm” cho các
chính sách mới ra đời, các chính sách này nhằm tạo điều kiện thông thoáng
hơn cho các nhà đầu tư, thu hẹp khoảng cách giữa nền kinh tế trong nước và
nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét