Câu 1: Vì sao nói sự ra đời của ĐCSVN là 1 tất yếu của lịch sử. Nêu nội dung
cơ bản của cương lĩnh chính trị đầu của Đảng
a) Đảng CMVN ra đời ngày 3/2/1930 là 1 tất yếu ls bởi vì:
- Đó là kết quả chín muồi của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp
trong thời đại lịch sử mới.
- Đó là kết quả của sự chuẩn bị công phu và khoa học của lãnh tụ NAQ trên cả
ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức.
- Đó là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa M-L với phong trào đấu tranh
của GCCN và phong trào yêu nước của nhân dân VN trong đầu thế kỷ XX. Sự
ra đời của ĐCSVN vừa thể hiện quy luật phổ biến của sự hình thành chính đảng
CM của GCCN (chủ nghĩa M-L kết hợp với phong trào công nhân) vừa thể
hiện quy luật đặc thù VN (chủ nghĩa M-L kết hợp với phong trào CN và p/trào
yêu nước VN).
b) ĐCSVN ra đời ngày 3/2/1930 đã đánh dấu 1 bước ngoặt trọng đại của ls
CMVN là vì:
- Chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối gpdt "tưởng chừng không có lối
ra" ở VN. Mở ra 1 thời kỳ mới: thời kỳ CMVN đi theo con đường CMVS, sự
nghiệp gpdt gắn liền với giải phóng GCCN và giải phóng toàn xh, độc lập dt
gắn liền với CNXH.
- Kết thúc thời kỳ đấu tranh tự phát để chuyển sang thời kỳ đấu tranh tự giác
của GCCN. Chứng tỏ GCCN VN đã đến độ trưởng thành đủ sức nắm vai trò
lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong cách mạng của mình.
- Mở đầu 1 thời kỳ mới CMVN, đã có 1 nhân tố cơ bản nhất, quyết định nhất,
để liên tục dấy lên các cao trào cách mạng, đưa CMVN đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác
c) Nội dung cơ bản của cương lĩnh chính trị đầu của Đảng
Tại hội nghị hợp nhất các tổ chức CS ở VN, với mọi ý nghĩa lịch sử là đại hội
thành lập ĐCSVN đã thông qua chính cương văn tắt, sách lược vắn tắt của
Đảng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Đây là cương lĩnh CM đầu tiên
của Đảng ta, cương lĩnh CM giải phóng dân tộc đúng đắn và sang tạo, phù hợp
với mọi xu thế của thời đại mới, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm
đượm tinh thần dân tộc. Nội dung cơ bản của lĩnh đó như sau:
- Phương hướng chiến lược của CMVN: Đảng chủ trương "làm tư sản dân
quyền CM và thổ địa CM để đi tới XHCS"
- Nhiệm vụ của cuộc CM về phương diện chính trị, kinh tế, xã hội là:
Ø Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước VN được
hoàn toàn độc lập, dựng ra chính phủ công nông binh, tổ chức ra quân đội công
nông
Ø Thủ tiêu hết các quốc trái, thu hết sản nghiệp lớn của tư bản đế quốc chủ
nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh, thu hết ruộng đất của đế
quốc CN làm của công và chia cho dân cày nghèo, tiến hành CM ruộng đất,
miễn thuế cho dân nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp, thi hành luật
ngày làm 8h
Ø Dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục theo
hướng công nông hóa
Các nhiệm vụ CM đề ra trên đều bao hàm cả 2 nội dung: dân tộc và dân chủ,
chống đế quốc và chống pk, trong đó nổi bật lên là nhiệm vụ chống đế quốc và
tay sai pk, giành độc lập cho toàn thể nhân dân
- Về tập hợp lực lượng CM: sách lược vắn tắt đã nêu: cho giai cấp công nhân
lãnh đạo dân chúng, phải thu phục cho được đông đảo nông dân và dựa vững
vào nông dân nghèo, lãnh đạo họ làm CM ruộng đất. Đảng phải hết sức lôi kéo
tiểu tư sản, trí thức, trung nông đi về phía giai cấp VS, lợi dụng hoặc trung lập
phú ông, trung và tiểu địa chủ và tư bản VN. Bộ phận nào đã ra mặt phản CM
thì phải đánh đổ. Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải cẩn thận không được
đi vào đường lối thõa hiệp.
- Đảng là đội tiên phong của giai cấp VS, tổ chức lãnh đạo CMVN đấu tranh
nhằm giải phóng cho toàn thể đồng bào bị áp bức bóc lột.
- Đảng phải liên kết với các dân tộc bị áp bức và quần chúng VS trên thế giới,
nhất là giai cấp VS Pháp.
Trên đây là nội dung cơ bản của cương lĩnh CM đẩu tiên của Đảng. Ngay từ khi
mới ra đời, Đảng đã dấy lên được 1 cao trào CM ruộng đất lớn là do tính đúng
đắn, phù hợp của cương lĩnh này. Tư tưởng cốt lõi của cương lĩnh này chính là :
Độc lập tự do gắn liền với định hướng tiến lên XHCN.
Câu 2: Hoàn cảnh lịch sử và nội dung Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp
hành Trung ương Đảng (tháng 5 - 1941)
a) Hoàn cảnh lịch sử
Thế giới: chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và nhanh chóng lan rộng ra nhiều
nước. Phát xít Đức ráo riết chuẩn bị xâm lược Liên Xô. Nhật mở rộng xâm lược
Trung Quốc và tiến công xuống phía Nam.
Trong nước: tháng 9-1940 Nhật nhẩy vào Đông Dương. Pháp đầu hàng và câu
kết với Nhật, áp bức bóc lột nhân dân. Nhân dân các dân tộc ở Đông Dương
phải chịu hai tầng áp bức của Pháp - Nhật. Mâu thuẫn giữa các dân tộc ở Đông
Dương với Pháp - Nhật trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết. Vận mệnh dân tộc
nguy vong không lúc nào bằng.
Nhân dân các dân tộc ở Đông Dương ngày càng cách mạng hóa. Nhiều cuộc
đấu tranh đã nổ ra. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam
Kì và cuộc binh biến Đô Lương.
Tháng 2-1941, Nguyễn ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách
mạng Cao Bằng, thí điểm xây dựng khối đoàn kết dân tộc để cứu nứơc, mở
nhiều lớp huấn luyện cán bộ.
Phong trào cách mạng ở căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai được duy trì và phát triển.
Tháng 5-1941 Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành trung ương Đảng họp tại
Pác Bó ( Cao Bằng) do Nguyễn ái Quốc chủ trì.
b) Nội dung Hội nghị
- Vạch rõ mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách là mâu
thuẫn giữa các dân tộc Đông Dương với bọn đế quốc - phát xít xâm lược Pháp -
Nhật.
- Xác định nhiệm vụ bức thiết nhất của cách mạng là giải phóng dân tộc vì
"quyền lợi của tất cả các giai cấp bị cướp giật; vận mệnh dân tộc nguy vong
không lúc nào bằng". Hội nghị chỉ rõ: "Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận,
của giai cấp phải đặt dước sự sinh tử, tồn vong của quốc gia dân tộc. Trong lúc
này, nếu không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những
toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ
phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.
- Chủ trương tiếp tục tạm gác khẩu hiệu "tịch thu ruộng đất của giai cấp địa chủ
chia cho dân nghèo" thay bằng khẩu hiệu "Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc
và Việt gian chia cho dân cày nghèo, giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng đất
công", tiến tới thực hiện "người cày có ruộng".
Như vậy, vấn đề ruộng đất chỉ được đề ra ở một mức độ nhất định của giai cấp
địa chủ, tập trung mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc - phát xít Pháp - Nhật.
- Căn cứ tình hình cụ thể của cách mạng mỗi nước ở Đông Dương, Hội nghị
chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước ở Đông
Dương. Song các dân tộc ở Đông Dương phải đoàn kết cùng nhau chống kẻ thù
chung là Pháp - Nhật, đồng thời liên hệ mật thiết với Liên Xô và các lực lượng
dân chủ chống phát xít.
- Quyết định thành lập ở Việt Nam một mặt trận lấy tên là: "Việt Nam độc lập
đồng minh" (Việt Minh) bao gồm các tổ chức quần chúng mang tên "cứu
quốc", nhằm tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng quần chúng nhân dân chống kẻ
thù chính là phát xít Pháp - Nhật và tay sai.
- Sau khởi nghĩa thắng lợi sẽ lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, lấy cờ đỏ
ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc.
- Hội nghị còn đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang.Coi việc chuẩn bị khởi
nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân; vạch ra khởi
nghĩa vũ trang muốn thắng lợi phải nổ ra đúng thời cơ, phải có đủ điều kiện chủ
quan và khách quan; chủ trương đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi
nghĩa.
Câu 3: Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng qua 3 hội nghị
BCHTW lần 6 , 7 , 8
Như chúng ta đã biết chiến lược của CMVN là:
+ Chống ĐQ độc lập dt
+ Chống PK ruộng đất
Quá trình chuyển hướng chỉ sảy ra trong các trường hợp sau: hoặc là tăng mức
độ lên, hoặc là giảm mức độ đi. Có thể tăng mức độ cái nọ nhưng giảm mức độ
cái kia và ngược lại. Như vậy là có thể thực hiện song song đồng thời các mục
đích nhưng mức độ khác nhau.
- Năm 30-31: song song và đẩy mạnh.
- Năm 36-39: trước tình hình phát xít nổ ra, điều chỉnh chiến lược vẫn song
song nhưng giảm đi, và thêm vào chống phát xít, chống phản động. . .
- Năm 39-45: hai nhiệm vụ ban đầu không còn song song đồng thời như trước
nữa mà nhiệm vụ chống ĐQ được đẩy mạnh để ta giành toàn bộ sức vào độc
lập dt, chính sự điều chính này CTM8 thắng lợi; chống phong kiến được giảm
đi.
1- Hoàn cảnh lịch sử:
+ Khi Đảng ra đời trong cương lĩnh chính trị đã xác định cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược là: Chống đế quốc-
chống phong kiến thực hiện song song đồng thời để thực hiện mục tiêu độc lập
dân tộc người cày có ruộng và các quyền tự do dân chủ khác.
+ Vào những năm 30-31 Đảng ta thực hiện chiến lược này.
+ Tuy nhiên những năm 36-39 chiến lược cách mạng Việt Nam đã có sự điều
chỉnh. Lúc này chủ yếu tập trung vào chống phát xít và bọn phản động thuộc
địa để thực hiện hoà bình dân chủ và cải thiện đời sống (CNĐQ phát triển lên
chủ nghĩa phát xít).
+ Năm 39, phát xít đã gây ra chiến tranh thế giới lần II. Mâu thuẫn giữa dân tộc
Việt Nam và đế quốc tay sai trở nên gay gắt và trở thành mâu thuẫn chủ yếu
cần phải giải quyết. Do đó đại hội Đảng cần có những điều chỉnh chiến lược
tức là đặt nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc
lên đầu, các mục tiêu dân chủ tạm thời gác lại hoặc thực hiện có mức độ.
2- Đảng chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
- Trước tình hình TG và trong nước có thay đổi thì đường lối chủ trương của
đảng cũng phải thay đổi để đi tới thắng lợi.
a) Hội nghị TW đảng lần 6 (11/1939) (9/1939 chiến tranh TG II nổ ra) họp ở Bà
rịa-Hóc môn (Nam bộ), có số lượng đảng viên tham gia không nhiều lắm do
tình hình căng thẳng. Nội dung của hội nghị.
+ Nhận định tình hình và mâu thuẫn ở VN xuất hiện.
+ Hội nghị chủ trương điều chỉnh chiến lược CM: trước đây 2 nhiệm vụ chống
ĐQ và chống PK song song, đồng thời. Bây giờ đặt nhiệm vụ chống ĐQ và tay
sai lên hàng đầu còn nhiệm vụ chống PK thì thực hiện có mức độ để tập trung
mục tiêu gpdt.
* KQ của sự điều chỉnh: là đã dấy lên 1 cao trào gpdt mà đỉnh cao là Bắc sơn
khởi nghĩa, nhưng chưa thành công và bị dìm trong bể máu
b) Hội nghị TW đảng lần 7 (11/1940)
+ Họp ở Đình Bảng- Từ sơn-Bắc ninh. Khẳng định chủ trương điều chỉnh chiến
lược của HN 6 là đúng nhưng cần phải bổ sung thêm.
+ HN trung ương này chủ trương là nhiệm vụ trọng tâm của toàn đảng, toàn
dân lúc này là chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, là xây dựng lực lượng quần chúng,
xây dựng lực lượng đảng cho vững mạnh.
+ Hội nghị cũng chủ trương là không được khởi nghĩa 1 cách nóng vội.
c) Hội nghị TW đảng lần 8 (5/1941) tại pắc bó-cao bằng (2/1941 bác hồ về
nước).
+ Khẳng định chủ trương điều chỉnh chiến lược lần 6,7 là đúng.
+ Hoàn thành chủ trương điều chỉnh chiến lược và xây dựng CMVN lúc này là
CM gpdt và gpdt trong khuôn khổ mỗi nước đông dương.
+ Xác định CMVN là CM gpdt.
+ Hội nghị đề ra biện pháp cụ thể, nhiệm vụ cụ thể để tích cực chuẩn bị tiến tới
khởi nghĩa giành chính quyền.
*KQ: tập hợp được lực lượng, chuẩn bị được phong trào, đến thời cơ đưa cuộc
khởi nghĩa giành thắng lợi.
Câu 4: Đặc điểm tình hình nước ta sau CMT8 và những chủ trương biện
pháp của Đảng nhằm bảo vệ chính quyền non trẻ
v Nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa vừa mới ra đời, còn non trẻ, đã phải đối
phó với nhiều kẻ thù :
Ø Ở miền Bắc, 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc với danh nghĩa quân Đồng
minh vào làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật đã tràn vào đóng quân từ vĩ tuyến
16 trở ra Bắc. Theo sau quân Trung Hoa Dân quốc là bọn phản động ( Việt
quốc, Việt cách ) với âm mưu tiêu diệt Đảng ta, tìm mọi cách lật đổ chính
quyền cách mạng, tạo điều kiện cho tay sai lên nắm chính quyền.
Ø Ở phía Nam, cũng với danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật,
quân Anh vào nước ta thực chất để dọn đường và giúp quân Pháp quay trở lại
xâm lược Việt Nam.
Ø Nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 làm hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết
đói chưa khắc phục xong thì nguy cơ nạn đói mới lại đe doạ.
Ø Chế độ thực dân để lại nhiều hậu quả xã hội nặng nề, đặc biệt là nạn dốt với
hơn 90% số dân bị mù chữ. Cách mạng vừa thành công, chính quyền mới thành
lập còn non trẻ, chưa được củng cố, chưa có kinh nghiệm, lại phải đương đầu
với mọi khó khăn, nguy hiểm từ mọi phía.
Ø Về tài chính : Ngân hàng Đông Dương hầu như trống rỗng chỉ còn hơn 1
triệu đồng rách và nát.
Ø Đây là thời kì thực sự khó khăn, vận mệnh của Tổ quốc như " ngàn cân treo
sợi tóc".
Ú Tuy nhiên, chúng ta cũng có những thuận lợi rất cơ bản : Sự lãnh đạo đúng
đắn của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta đã giành được
chính quyền, được nhân dân dân ủng hộ triệt để; tinh thần yêu nước, đấu tranh
cách mạng của nhân dân Đó là những động lực hết sức to lớn, giúp cho cách
mạng nước ta vượt qua hiểm nghèo của năm đầu sau cách mạng.
v Để xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, giữ gìn độc lập dân tộc vừa
giành được - mục tiêu của cách mạng nước ta sau thắng lợi của Cách mạng
tháng Tám, Đảng và Nhà nước ta đề ra nhiều chủ trương và biện pháp:
a) Phát huy thắng lợi, khắc phục khó khăn trước mắt
- Giải quyết nạn đói kém, những tệ nạn xã hội mà nổi lên là nạn mù chữ. Đó là
2 trong 3 loại giặc của nước ta lúc này: đói, dốt, giặc ngoại xâm; lại còn nạn tài
chính quẫn bách.
Các biện pháp giải quyết: tăng gia sản xuất. Đó là biện pháp cơ bản và lâu dài
của cách mạng; tiết kiệm trong việc dùng lương thực hợp lí, thực hiện "hũ gạo
tiết kiệm", tổ chức "ngày đồng tâm" nhường cơm sẻ áo, phát động "tuần lễ
vàng" ; lập Nha bình dân học vụ (8-9-1945), kêu gọi toàn dân tham gia phong
trào xóa nạn mù chữ.
- Xây dựng chính quyền vừa giành được thật vững mạnh, thật sự là của dân, do
dân bầu ra, được dân tin yêu ủng hộ. Các biện pháp giải quyết: tổ chức sớm
cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội (6-1-1946); có hơn 90% cử tri đi bầu; Quốc
hội họp phiên đầu tiên 2-3-1946 thông qua danh sách Chính phủ chính thức do
Hồ Chí Minh đứng đầu, lập ra Ban dự thảo Hiến pháp và đến cuối năm , Hiến
pháp đầu tiên của nước ta được Quốc hội thông qua; tiếp đó ở khắp các địa
phương tiến hành bầu cử hội đồng nhân dân các cấp theo phổ thông đầu phiếu.
Củng cố lực lượng quần chúng và xây dựng lực lượng vũ trang
b) Đấu tranh chống thù trong giặc ngoài
Kẻ thù là đế quốc và tay sai. Chúng chia làm hai khối, phía bắc có Tưởng, Mĩ
và tay sai, phía nam có Anh, Pháp và tay sai.Giữa hai khối có mâu thuận nhau
về quyền lợi, nhưng thống nhất nhau trong âm mưu chống phá cách mạng. Lực
lượng kẻ thù đông và mạnh, trong đó Pháp là kẻ thù chủ yếu. Do đó trên cơ sở
nắm vững nguyên tắc chiến lược, Đảng đã mềm dẻo trong sách lược, biết phân
hóa kẻ thù để đánh đổ chúng.
Đấu tranh qua hai thời kì.
- Trước 6-31946: hòa hõan với Tưởng ở miền Bắc để tập trung lực lượng đánh
Pháp ở miền Nam.
Đối với Tưởng ở miền Bắc: chủ trương tránh xung đột vũ trang với chúng, mà
nhân nhượng chúng về các yêu sách kinh tế và một số yêu sách về chính trị, ta
để cho tay sai của Tưởng một số ghế trong Chính phủ (Phó chủ tịch nước
Nguyễn Hải Thần, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Tường Tam ). hoặc dành cho
chúng 70 ghế không bầu trong Quốc hội. Mọi sự nhân nhượng đều phải bảo
đảm nguyên tắc của cách mạng, chính quyền phải được giữ vững, Đảng phải
lãnh đạo chính quyền, Hồ Chí Minh phải đứng đầu chính phủ, độc lập,chủ
quyền của đất nước phải được tôn trọng.
Đối với Pháp ở miền Nam: chủ trương kháng chiến chống lại xâm lược của
chúng (bắt đầu từ ngày 23-9-1945). Miền Nam "thành đồng Tổ quốc" đứng lên
đánh Pháp trước tiên, có hậu thuẫn miền Bắc.
- Từ 6-3-1946:hòa hoãn với Pháp để đuổi Tưởng ra khổi nước ta.
6-3-1946 ta kí với Pháp Hiệp định sơ bộ, trong đó Pháp công nhận Việt Nam là
nước tự do, ta đồng ý để Pháp ra miền Bắc thay Tưởng trong thời hạn 5 năm.
Việc ta bắt tay hòa hoãn với Pháp và kí với chúng hiệp ước hòa bình, trong đó
tuy ta chưa buộc được Pháp phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản đã giành
được, song đã ngăn được Pháp trong âm mưu bắt tay với Tưởng chống lại ta.
Vả lại, với Hiệp định sơ bộ, ta tránh được một cuộc chiến đấu bất lợi cùng một
lúc chống lại nhiều kẻ thù (gạt được quân Tưởng cùng bọn tay sai của chúng ra
khỏi nước ta), có thêm thời gian hòa bình để chuẩn bị tiếp cho cuộc chiến đấu
lâu dài chống thực dân Pháp về sau; tỏ tõ thiện chí hòa bình để tranh thủ sự
đồng tình, ủng hộ của nhân dân Pháp và nhân dân thế giới. Tiếp đó ta lại kí với
Pháp Tạm ước 14-9-1946 tiếp tục nhượng bộ Pháp với mục đích kéo dài thời
gian hòa bình,chuẩn bị cho kháng chiến. Nhưng đó là giới hạn cuối cùng của sự
nhân nhượng.
Cuối năm 1946, Pháp phản bội mọi cam kết, quyết cướp nước ta một lần nữa.
Trong tình hình đó, ta không có con đường nào khác là phải cầm súng chiến
đấu bảo vệ chính quyền, giữ gìn độc lập,tự do và cuộc chiến đấu của ta lúc này
đã có những điều kiện chủ quan, khách quan thuận lợi hơn được tạo ra sau hơn
một năm thực hiện chủ trương khôn khéo: cứng rắn và nguyên tắc, nhưng mềm
dẻo về sách lược.
Câu 5: Nguyên nhân bùng nổ kháng chiến toàn quốc 12/1946 và nội dung
cơ bản đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng
a)Nguyên nhân bùng nổ (3 nguyên nhân):
* Nguyên nhân sâu xa: sở dĩ bùng nổ cuộc chiến tranh này là do bản chất tham
lam hiếu chiến của TD Pháp, chúng muốn cướp nước ta 1 lần nữa để biến VN
thành thuộc địa của chúng.
* Nguyên nhân gián tiếp: sở dĩ bùng nổ cuộc chiến tranh này là do sự dung
túng, bao che và can thiệp trắng trợn của bọn ĐQ và bọn phản động quốc tế cho
TD Pháp.
* Nguyên nhân trực tiếp: (đặc biệt nghiêm trọng) sở dĩ bùng nổ cuộc chiến
tranh này là do sau 9.1946 khi quân đội Tưởng đã rút hết khỏi miền Bắc nước
ta, khi mọi điều kiện chuẩn bị cho cuộc chiến tranh qui mô lớn đã bắt đầu thì
Pháp đã táo tợn, trắng trợn dùng sức mạnh quân sự để mở rộng chiến tranh xâm
lược VN và ĐD. Đặc biệt nghiêm trọng là chúng đánh thắng vào thủ đô Hà
Nội, tàn sát thảm khóc đồng bào ta ở các phố Yên Ninh, Hàng Bún vào 17 và
18.12.1946. Đặc biệt nghiêm trọng là chúng gởi thư cho chính phủ ta đòi tước
vũ khí của lực lượng tự vệ Hà Nội đòi kiểm soát trật tự an ninh thủ đô, trong
bối cảnh đó chúng ta không có sự lựa chọn nào khác buộc phải đứng dậy cầm
vũ khí đánh đuổi quân xâm lược, bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc, hoà
bình thống nhất đất nước.
b)Đường lối:
* Cơ sở hình thành đường lối:
- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch HCM( 19.12.1946).
- Chỉ thị toàn dân kháng chiến của ban thường vụ TW Đảng( 22.12.1946).
- Tác phẩm" Kháng chiến nhất định thắng lợi"( Tổng bí thư Trường Chinh_
3.1947)
* Mục đích của cuộc kháng chiến: đánh phản động, TD Pháp xâm lược giành
thống nhất và độc lập cho dân tộc.
* Tính chất của cuộc kháng chiến: cuộc kháng chiến này mang tính chất giải
phóng dân tộc bảo vệ TQ, bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ CĐ mới nền dân
chủ mới mà chúng ta mới giành đựơc trong CMT8.
* Đường lối chung chỉ đạo toàn bộ cuộc kháng chiến: đó là toàn diện kháng
chiến.
- Toàn dân kháng chiến:
+ Về phương diện lý luận: CN Mac_LeNin cho rằng CM là sự nghiệp của quần
chúng nhân dân cho nên chiến tanh và CM cũng là sự nghiệp của quần chúng
ND. Hơn nữa TD Pháp xâm lược nước ta chúng chà đạp lên nguyện vọng của
mọi tầng lớp ND vì vậy mọi tầng lớp ND đều cùng phải tham gia, cùng phải
gánh vác, cùng phải lo liệu.
+ Về phương diện thực tiễn: xuất phát từ sự so sánh tương quan lực lượng giữa
ta với Pháp, Pháp mạnh hơn ta gấp nhiều lần về quân sự. Do vậy muốn thắng
được chúng ta phải huy động sức mạnh toàn dân đánh giặc.
+ Dựa vào kinh nghiệm truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha ông ta
trong lịch sử dân tộc, mỗi khi đất nước chống giặc ngoại xâm thì bao giờ cha
ông ta cũng huy động sức mạnh toàn dân đánh giặc.
+ Nội dung của cuộc kháng chiến toàn dân: đó là cuộc chiến tranh huy động tất
cả mọi tầng lớp nhân dân tham gia trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm
nồng cốt.
Câu 6: Đặc điểm tình hình nước ta sau tháng 7/1954 và nội dung cơ bản
của đường lối cách mạng VN trong giai đoạn mới được thông qua đại hội
đại biểu toàn quốc lần 3 vào tháng 9/1960
a)Đặc điểm nước ta sau tháng 7 - 1954
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ do Đảng
lãnh đạo đã giành được thắng lợi, song sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ
trên phạm vi cả nước vẫn chưa hoàn thành. Miền Bắc được hoàn toàn giải
phóng, song miền Nam vẫn còn dưới ách thống trị của thực dân và tay sai. Đất
nước tạm thời bị chia làm hai miền.
Ở miền Bắc, mặc dù thực dân Pháp rất ngoan cố, nhưng do tinh thần đấu tranh
kiên quyết của nhân dân ta, nên đến ngày 10-10-1954 tên lính Pháp cuối cùng
đã rút khỏi Hà Nội và ngày 16-5-1955, toàn bộ quân đội viễn chinh Pháp đã
phải rút khỏi miền Bắc. Ngay sau khi hòa bình lập lại, nhân dân miền Bắc khẩn
trương khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và tiến hành thực hiện
các nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhằm tạo tiền đề đưa miền
Bắc từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Ở miền Nam, lợi dụng sự thất bại và khó khăn của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ
đã nhảy vào để thay chân Pháp nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới
và căn cứ quân sự của Mỹ.
Để thực hiện âm mưu nói trên, trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, ngày
7-7-1954, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn làm Thủ tướng Chính phủ bù
nhìn thay Bửu Lộc. Ngày 17-7-1955, theo chỉ đạo của Mỹ, Diệm tuyên bố
không hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước và ngày 23-10-1955 đã
tổ chức cái gọi là "trưng cầu dân ý" để phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm
lên làm Tổng thống.
Sau khi dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, Mỹ - Diệm đã liên tiếp mở các
cuộc hành quân càn quét để bình định miền Nam, áp đặt chế độ thực dân kiểu
mới, chia cắt lâu dài đất nước ta. Thực chất, đây là một cuộc chiến tranh đơn
phương đẫm máu chống lại nhân dân miền Nam trong tay không có vũ khí. Với
chính sách "tố cộng", "diệt cộng", loại cộng sản ra ngoài vòng pháp luật để
trừng trị, và với khẩu hiệu "thà giết nhầm hơn bỏ sót", chúng thẳng tay đàn áp
tất cả các lực lượng chống đối. Chỉ tính đến cuối năm 1955, hàng chục vạn cán
bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng đã bị bắt và bị giết hại.
Đứng trước những biến đổi phức tạp nêu trên, lịch sử lại đặt cho Đảng ta một
yêu cầu bức thiết là phải vạch ra đường lối chiến lược đúng đắn để đưa cách
mạng Việt Nam tiến lên phù hợp với tình hình mới của đất nước và phù hợp với
xu thế phát triển chung của thời đại. Xuất phát từ việc nhận thức sâu sắc tình
hình thế giới và đặc điểm cơ bản của tình hình đất nước sau tháng 7-1954, trải
nhiều hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, chủ trương
chiến lược cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới của Đảng đã từng bước
hình thành.
b) Nội dung cơ bản của đường lối cách mạng VN trong giai đoạn mới được
thông qua đại hội đại biểu toàn quốc lần 3 vào tháng 9/1960
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày
5 đến ngày 10-9-1960. Tới dự có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự
khuyết,thay mặt hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước. Gần 20 đoàn đại biểu
quốc tế đến dự Đại hội.
Trong diễn văn khai mạc Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Đại hội lần
này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình
thống nhất
nước nhà".
Nội dung như sau:
- Về đường lối chiến lược cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới:
Ø Một là, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Ø Hai là, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực
hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
Ø Cách mạng ở miền Bắc và cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác
nhau, song trước mắt đều hướng vào mục tiêu chung là giải phóng miền Nam,
hòa bình, thống nhất đất nước.
Ø Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với
sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất
nước nhà. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết
định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế
quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Ø Cuộc đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà là nhiệm vụ thiêng liêng
của nhân dân cả nước ta. Đó là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian
khổ, phức tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng ở miền
Nam.
- Về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc:
Ø Đại hội xác định rằng, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là một
quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt. Đó là quá trình đấu tranh gay go giữa
hai con đường, con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa trên
tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật nhằm đưa
miền Bắc từ một nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất
tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập
thể, từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Ø Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa được xem là nhiệm vụ trung tâm trong
suốt thời kỳ quá độ ở nước ta nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuậtcủa chủ
nghĩa xã hội.
Ø Cùng với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về kinh tế, phải tiến hành cuộc
cách mạng tư tưởng và văn hóa, nhằm thay đổi cơ bản đời sống tư tưởng, tinh
thần và văn hóa của toàn xã hội phù hợp với chế độ xã hội mới xã hội chủ
nghĩa.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã đề ra đường lối chung trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta là: Đoàn kết toàn dân,
phát huy truyền thống của nhân dân ta và đoàn kết với các nước xã hội chủ
nghĩa đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội,
xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc trở
thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nha
Câu 7: ĐHĐB toàn quốc lần 6 tháng 12/1986 Đảng đã rút ra 4 bài học lớn.
Phân tích 1 trong 4 bài học đó
Đồng chí Trường Chinh đọc Báo cáo Chính trị. Đại hội đã mạnh dạn chỉ ra
những sai lầm, thiếu sót trong đánh giá tình hình cụ thể của đất nước, trong việc
xác định mục tiêu và bước đi của công cuộc xây dựng CNXH.
Đó là sự chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp, thiếu kiên
quyết khắc phục tình trạng chủ quan, nóng vội và bảo thủ, trì trệ trong bố trí cơ
cấu kinh tế; cải tạo XHCN và quản lý kinh tế phạm những sai lầm nghiêm
trọng, nhất là trong lĩnh vực phân phối, lưu thông; buông lỏng chuyên chính vô
sản trong quản lý kinh tế, xã hội, trong đấu tranh tư tưởng, văn hóa, trong việc
chống lại những âm mưu, thủ đoạn phá hoại thâm độc của kẻ thù.
Những sai lầm và khuyết điểm trong lĩnh vực kinh tế, xã hội bắt nguồn từ
những khuyết điểm trong công tác tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của
Đảng.
Những bài học quý báu được Đảng rút ra từ những sai lầm, khuyết điểm, đó là:
Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm
gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; Đảng phải luôn luôn
xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan; phải biết
kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới và
phải chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo
nhân dân tiến hành cuộc cách mạng XHCN.
Phân tích:
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Nước lấy dân làm gốc; Gốc có vững,
cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân. Người rất tâm đắc với câu
nói dân gian: "Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng
xong".
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu hiện trước hết của dân là gốc là phải tin ở
dân, gần gũi dân, và biết dựa vào dân; Phải có ý thức rõ "dân chúng rất khôn
khéo, rất hăng hái, rất anh hùng". Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn biến
đường lối chủ trương của Đảng thành phong trào quần chúng, thành sức mạnh
cách mạng thì Đảng phải có đường lối đúng đắn; cán bộ đảng viên "phải liên
lạc mật thiết với dân chúng, xa rời dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định
thất bại". Cán bộ đảng viên còn phải học hỏi dân, "nếu không học hỏi dân thì
không lãnh đạo được dân", mà "muốn hiểu biết, học hỏi dân thì ắt phải có nhiệt
thành, có quyết tâm".
Theo Hồ Chí Minh phải thực hiện dân chủ với dân để phát huy tinh thần làm
chủ của dân là cốt lõi của vấn đề dân là gốc. Người thường nói: "Chế độ ta là
chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ". Vậy quyền hạn, nghĩa vụ của người
làm chủ phải thế nào? Câu trả lời của Người là: "Nếu Chính phủ sai thì phải
phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi". Và người yêu cầu: người làm
chủ trước hết phải làm tròn bổn phận công dân, tức là phải tuân theo pháp luật
Nhà nước; tuân theo kỷ luật lao động; giữ gìn trật tự chung; nộp thuế đúng kỳ,
bảo vệ tài sản công cộng; bảo vệ Tổ Quốc. "Phải chăm lo việc nước như việc
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét