Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014
Mở rộng hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngành phân phối tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Hoàn Kiếm
hành chứng chỉ tiền gửi khống để cho vay. Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân hàng
đến chỗ mất khả năng thanh toán và phá sản. Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó
khăn cho hoạt động thanh toán, ảnh hưởng xấu tới hoạt động buôn bán. Hơn nữa, lãi
suất cao nên những nhà buôn không thể sử dụng nguồn vay này. Trước tình hình đó
nhiều nhà buôn góp vốn lập ngân hàng, với chức năng chủ yếu là tài trợ ngắn hạn
(tài trợ cho tài sản lưu động) và thanh toán hộ, gắn liền với quá trình luân chuyển
của tư bản thương nghiệp. Ngân hàng này gọi là NHTM. NHTM thực hiện các
nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng như huy động tiền gửi, thanh toán, cất trữ hộ
và cho vay. Tuy nhiên điểm khác biệt giữa NHTM và ngân hàng thợ vàng trước đây
đó là NHTM chủ yếu cho vay các nhà buôn dưới hình thức chiết khấu thương
phiếu. Đây là các khoản cho vay ngắn hạn dựa trên quá trình luân chuyển của hàng
hoá với lãi suất phải thấp hơn lợi nhuận được tạo ra do sử dụng tiền vay.
Sự phá sản của nhiều NHTM đã gây tổn thất lớn cho người gửi tiền là
nguyên nhân dẫn đến hình thành ngân hàng tiền gửi. Ngân hàng này không cho vay,
chỉ thực hiện giữ hộ, thanh toán hộ để lấy phí. Đồng thời tại mỗi nước, trong những
điều kiện lịch sử cụ thể đã hình thành nên nhiều loại hình ngân hàng khác như ngân
hàng tiết kiệm, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng trung ương (ngân
hàng Nhà nước)…tạo nên hệ thống các ngân hàng. Trong đó, trừ ngân hàng trung
ương có chức năng xây dựng và quản lý chính sách tiền tệ quốc gia, các ngân hàng
còn lại dù có một số nghiệp vụ khác nhau song đều chung đặc điểm đó là trung gian
tài chính thực hiện kinh doanh tiền tệ.
Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, hoạt động ngân hàng đã có
những bước tiến rất nhanh. Trước hết đó là sự đa dạng các loại hình ngân hàng và
các hoạt động ngân hàng. Từ các ngân hàng tư nhân, quá trình tích tụ và tập trung
vốn trong ngân hàng đã dẫn đến hình thành ngân hàng cổ phần. Quá trình gia tăng
vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng
thuộc sở hữu Nhà nước; các ngân hàng liên doanh, các tập đoàn ngân hàng phát
triển mạnh trong những năm cuối thế kỉ 20. Nhiều nghiệp vụ mới đang ngày càng
phát triển. NHTM từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng cho vay trung
và dài hạn, cho vay để đầu tư vào bất động sản. Nhiều ngân hàng đã mở rộng cho
vay tiêu dùng, kinh doanh chứng khoán, cho thuê…Các hình thức huy động cũng
ngày càng phong phú. Các loại hình tiền gửi khác nhau được đưa ra nhằm đáp ứng
tối đa nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh các hình thức huy động tiền gửi, các ngân
hàng đã mở rộng các hình thức vay như vay ngân hàng trung ương, vay các ngân
hàng khác. Công nghệ ngân hàng đang góp phần làm thay đổi các hoạt động cơ bản
của ngân hàng. Thanh toán điện tử đang thay thế dần thanh toán thủ công, đẩy
nhanh tốc độ, tính thuận tiện, an toàn trong thanh toán. Các loại thẻ đang thay thế
dần tiền giấy và dịch vụ ngân hàng 24 giờ, dịch vụ ngân hàng tại nhà đang tạo ra
các tiện ích ngày càng lớn cho cộng đồng.
Quá trình phát triển của các ngân hàng không những làm gia tăng số lượng
các ngân hàng mà còn làm tăng qui mô của mỗi ngân hàng. Tích tụ và tập trung vốn
đã tạo ra các công ty ngân hàng cực lớn với số vốn tự có hàng chục tỷ đô la Mỹ đủ
sức để tài trợ cho những ngành công nghiệp dịch vụ mũi nhọn toàn cầu.
Quá trình phát triển của các ngân hàng đang tạo ra mối liên hệ ràng buộc
ngày càng chặt chẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa chúng. Các hoạt
động ngân hàng xuyên quốc gia và đa quốc gia đã và đang thúc đẩy hình thành các
hiệp hội, các tổ chức liên kết các ngân hàng nhằm tạo ra các chính sách chung, hoặc
tương thích để kiểm soát chung, để kết nối và tạo ra sự thống nhất trong điều hành
và vận hành hệ thống ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và quốc tế.
Lịch sử hình thành và phát triển của các ngân hàng cũng đã chứng kiến nhiều
khủng hoảng và hoảng loạn ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và thế giới, gây
tổn thất rất lớn cho nền kinh tế và mất ổn định chính trị. Có thể nói, các vụ sụp đổ
ngân hàng cũng là một khâu tất yếu trong tiến trình phát triển của ngân hàng. Các
nhà quản lý đã và đang không ngừng cải tiến chính sách quản lí để hạn chế sự sụp
đổ và mở đường cho sự phát triển của ngành ngân hàng.
1.1.1.2. Khái niệm ngân hàng thương mại theo luật
Ngân hàng thương mại là tổ chức có vai trò hết sức quan trọng trong nền
kinh tế, nó có khả năng chi phối hoạt động của hệ thống tài chính và cũng là trung
gian tài chính có số lượng lớn nhất trong hệ thống các tổ chức trung gian tài chính.
Ngân hàng thương mại là chiếc cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường,
nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế, ngân hàng thương mại cũng là
công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
* Các loại hình Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
- Theo hình thức sở hữu gồm có: Ngân hàng sở hữu Nhà nước, Ngân hàng sở
hữu tư nhân, Ngân hàng cổ phần, Ngân hàng Liên doanh.
- Theo tính chất hoạt động: Ngân hàng hoạt động chuyên doanh và đa năng,
Ngân hàng hoạt động bán buôn và ngân hàng bán lẻ.
- Theo cơ cấu tổ chức gồm có: Ngân hàng sở hữu công ty, Công ty sở hữu
ngân hàng.
1.1.1.3. Đặc điểm của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính: Đây là đặc điểm đặc
trưng và cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc
đẩy nền kinh tế phát triển. Trung gian tài chính là hoạt động cầu nối giữa cung và
cầu vốn trong xã hội, khơi nguồn vốn từ những người có thể vì lý do gì đó không
dùng nó một cách sinh lợi sang những người có ý muốn dùng nó để sinh lợi. Quan
hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng và chủ thể có nhu cầu tiền tệ
cần bổ sung gặp phải nhiều hạn chế. Hoạt động của NHTM đã góp phần khắc phục
các hạn chế đó. NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn
rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay; mặt khác,
trên cơ sở số vốn đã huy động được, ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản
xuất, kinh doanh, tiêu dùng…của các chủ thể kinh tế, góp phần đảm bảo sự vận
động liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy,
NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, nghiệp vụ tín
dụng của NHTM là đi vay để cho vay.
Trung gian về thông tin: Ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian về
thông tin đó là khả năng về thẩm định thông tin. Nếu sự phân bổ không đều thông
tin và năng lực phân tích thông tin được gọi là tình trạng “thông tin không cân
xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị trường. Ngân hàng là nơi có chuyên môn và
kinh nghiệm để đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn những công
cụ với các yếu tố rủi ro và lợi nhuận hấp dẫn.
Trung gian về kỳ hạn: Ngân hàng thương mại là trung gian về kì hạn thông
qua việc quản lý kì hạn đó là việc xác định kì hạn của nguồn phù hợp với yêu cầu
về kì hạn của sử dụng đồng thời tạo ra sự ổn định của nguồn. Bao gồm việc xác
định kì hạn danh nghĩa của nguồn và các nhân tố ảnh hưởng; xác định kì hạn thực tế
của nguồn và các nhân tố ảnh hưởng; xem xét khả năng chuyển hoán kì hạn của
nguồn.
Trung gian về rủi ro: Ngân hàng thương mại tham gia vào quá trình kinh
doanh rủi ro, nó thoả mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng và sẵn sang
chấp nhận các khoản cho vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít
rủi ro cho người gửi tiền.
Trung gian về thanh toán: Là việc ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài
khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khoản. Với việc kinh doanh tiền tệ dưới
hình thức ban đầu giản đơn và thuần tuý của nó, người thủ quỹ thực hiện chức năng
trung gian thanh toán một cách riêng rẽ, tách khỏi chế độ tín dụng. Còn trong
NHTM, chức năng trung gian thanh toán gắn bó chặt chẽ và hữu cơ với chức năng
trung gian tín dụng: ngân hàng dùng số tiền gửi của người này để cho người khác
vay. Xuất phát từ chức năng là người thủ quỹ của các doanh nghiệp, ngân hàng có
đủ điều kiện để thực hiện các dịch vụ thanh toán theo sự uỷ nhiệm của khách hàng.
Khi các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc
cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng, tiện lợi, nhất là đối với các
khoản thanh toán có giá trị lớn, mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém, khó khăn
và không an toàn. Nếu như mọi khoản thanh toán được thực hiện không qua ngân
hàng, thì sẽ có những bất tiện và tốn kém lớn như: những chi phí cho lưu thông tiền
mặt và những chi phí có liên quan đến người trả và người nhận. Khi NHTM ra đời
và phát triển, thì hầu hết các khoản thanh toán chi trả về hàng hoá, dịch vụ giữa các
chủ thể kinh tế (các doanh nghiệp và cá nhân) đều được chuyển giao cho ngân hàng
thực hiện, việc thanh toán trở nên tiện lợi, tiết kiệm được nhiều chi phí, mọi quan hệ
thanh toán được thực hiện bằng cách các chủ thể mở tài khoản tại ngân hàng và yêu
cầu ngân hàng thực hiện các khoản chi trả hoặc uỷ nhiệm cho ngân hàng thực hiện
việc thu nhận các khoản tiền vào tài khoản của mình.
Việc làm trung gian thanh toán của ngân hàng ngày nay đã phát triển đến tầm
mức rất đa dạng, không chỉ là trung gian thanh toán truyền thống như trước, mà còn
quản lý các phương tiện thanh toán. Đây là vai trò ngày càng chiếm vị trí rất quan
trọng, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Ở các nước phát
triển, phần lớn công tác thanh toán được thực hiện thông qua séc và phần lớn séc
thanh toán ở trong nước được thực hiện bằng thanh toán bù trừ thông qua hệ thống
NHTM. Nếu việc phát hành séc để rút tiền từ tài khoản tiền gửi và thanh toán trong
cùng một ngân hàng, thì chỉ là một động tác làm chuyển dịch vốn từ tài khoản này
sang một tài khoản khác và nếu séc thanh toán trong cùng địa bàn thì phải thông qua
thanh toán bù trừ.Với phương pháp công nghệ hiện đại hơn, các NHTM từng bước
trang bị đầy đủ các máy vi tính và các phương tiện kỹ thuật khác, tạo điều kiện
thanh toán bù trừ được nhanh chóng, giảm bớt chi phí và đạt độ chính xác cao.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh có điều kiện về Vốn, nhân
lực, chi nhánh, cơ sở vật chất kỹ thuật. Trước hết để tiến hành hoạt động kinh doanh
được các ngân hang thương mại phải có điều kiện về vốn điều lệ do ngân hàng
trung ương quy định; điều kiện về vốn tự có; tỷ lệ an toàn vể vốn… phải có những
điều kiện đó là vì hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là kinh doanh
tiền tệ nên mang tính đặc thu và rất nhạy cảm. Thứ hai, Nguồn nhân lực trong hệ
thống ngân hàng thương mại là rất quan trọng và có vai trò quyết định đến sự thành
công hay thất bại của ngân hàng. Điều này cũng xuất phát từ đặc trưng của ngành
kinh doanh dịch vụ, nhân tố con người là rất quan trọng- là sự chuyên nghiệp trong
chuyên môn và phẩm chất đạo đức, thái độ phục vụ khách hàng. Thứ ba, Hệ thống
chi nhánh của ngân hàng thương mại cũng có quy định rõ rang tuỳ thuộc vào quy
mô, loại hình ngân hàng mà có mạng lưới chi nhánh tương ứng. Bên cạnh các yếu
tố trên thì điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật đóng vai trò hết sức quan trọng. Đây
cũng là một trong những điều kiện tiên quyết để thành lập ngân hàng - là các yêu
cầu chung về công nghệ ngân hàng, về cơ sở vật chất (Hội sở, chi nhánh, máy
móc…). Hoạt động của NHTM là hoạt động bị kiểm soát: Mọi hoạt động của Ngân
hàng thương mại đều bị kiểm soát bởi Ngân hàng trung ương. Chịu ảnh hưởng của
chính sách tiền tệ mà Ngân hàng trung ương ban hành tùy theo tình tình của nền
kinh tế. Những quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản,… đó là các công
cụ mà Ngân hang trung ương áp dụng để kiểm soát hoạt động của các ngân hàng
thương mại.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng đóng vai trò như là thủ quỹ của nền kinh tế, nó thực hiện vai trò
trung gian chuyển vốn, những hoạt động cơ bản của ngân hàng gồm có: Huy động
vốn; sử dụng vốn và các dịch vụ khác
* Hoạt động huy động vốn
Đây là hoạt động phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thương mại.
Hoạt động huy động vốn gồm có hoạt động cơ bản là nhận tiền gửi. Đây là
khoản tiền mà các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế gửi vào Ngân hàng để bảo
quản, thanh toán mà ngân hàng có thể sử dụng cho các hoạt động kinh doanh của
mình. Bên cạnh đó Ngân hàng còn có các hoạt động để huy động vốn như phát hành
giấy tờ có giá, hoạt động đi vay từ Ngân hàng NN, vay các tổ chức tín dụng khác,
vay trên thị trường liên ngân hàng. Các hoạt động tạo vốn khác như nhận làm đại lý,
uỷ thác vốn cho các tổ chức,cá nhân trong và ngoài nước.
Vốn tự có hay vốn của Chủ Ngân hàng cũng là nguồn chiếm vị trí quan trọng dù
tỷ trọng nhỏ, vốn tự có được tăng dần cùng quá trình tông tại của Ngân hàng là tấm đệm
cho rủi ro và cũng là yếu tố nâng cao vị thế của Ngân hàng.
* Hoạt động sử dụng vốn
Đây là hoạt động phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích để thực
hiện mục tiêu an toàn và sinh lợi cho Ngân hàng. Hoạt động này có vai trò quan
trọng và mang lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng là cho vay, cho vay có thể phân
theo nhiều tiêu thức khác nhau do đó có nhiều hình thức cho vay khác nhau.
Với mục tiêu an toàn, Ngân hàng cần phải có hoạt động ngân quỹ, hoạt động
này phản ánh khoản vốn của ngân hàng dùng để đảm bảo an toàn thanh khoản cho
ngân hàng thực hiện những quy định an toàn, dự trữ bắt buộc của Nhà nước. Bên
cạnh hoạt động cho vay, hoạt động ngân quỹ ta có hoạt động đầu tư và những hoạt
động khác có thể là góp vốn, hùn vốn, kinh doanh chứng khoán. Những hoạt động
khác đem lại một phần lợi nhuận cho ngân hàng có thể kể đến như kinh doanh ngoại
tệ, vàng, bảo quản vật có giá…
1.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Cho vay là việc Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng
phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoản thời gian xác định. Cho vay là khoản mục
lớn nhất trong khoản mục tín dụng. Khi lập báo cáo tài chính cho vay được ghi dưới
hình thức dư nợ.
* Nguyên tắc cho vay: Cho vay là hoạt động chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn
nhất trong các hoạt động của ngân hàng thương mại, đưa lại thu nhập chủ yếu cho
ngân hàng nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro chính vì vậy mà khi cho vay và đi
vay cả ngân hàng và khách hàng đều phải tuân theo những nguyên tắc cho vay sau:
- Tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng
tín dụng. Với các tổ chức kinh tế ngân hàng chỉ thực hiện cho vay để doanh nghiệp
thực hiện sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ được pháp luật
cho phép mà đã được ghi trong quyết định thành lập doanh nghiệp hoặc trong giấy
phép kinh doanh của họ. Khách hàng cần sử dụng đúng mục đích đã thoả thuận ghi
trong hợp đồng tín dụng, mục đích này cũng được ghi trong dự án hay kế hoạch sản
xuất kinh doanh được ngân hàng chấp nhận.
Mọi khoản vay ngân hàng đều phải xác định trước về mục đích kinh tế. Vì
vậy mà những cá nhân, doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn phải trình bày rõ ràng
mục đích của việc vay vốn với ngân hàng trước khi vay. Họ cũng cần nộp cho ngân
hàng các kế hoạch sản xuất kinh doanh, các hợp đồng cung cấp, tiêu thụ sản phẩm
cùng các tài liệu kế toán để ngân hàng xem xét ra quyết định cho vay hay không.
Sau khi cho vay, ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay nếu
thấy khách hàng sử dụng vốn sai mục đích ngân hàng cần có những biện pháp sử lý
kịp thời để hạn chế rủi ro tín dụng có thể xảy ra.
- Tiền vay phải hoàn trả đúng hạn, đầy đủ cả gốc và lãi
Nguồn vốn để cho vay của ngân hàng thương mại chủ yếu là nguồn vốn huy
động, ngân hàng cần phải chi trả cho người gửi tiền ngay khi họ có nhu cầu chính vì
vậy mà ngân hàng yêu cầu người đi vay cũng phải hoàn trả đúng hạn. Khi ngân
hàng không thu hồi hoặc thu hồi không đúng hạn các khoản nợ có thể dẫn đến bị
thua lỗ và phá sản. Thu hồi nợ đúng hạn là cơ sở để các ngân hàng thương mại tồn
tại và phát triển.
Ngân hàng luôn tiến hành nhiều biện pháp trong quản lý để đảm bảo nguyên
tắc này như xác định thời hạn cho vay và kì hạn nợ từng khoản vay, thường xuyên
theo dõi, đôn đốc khách hàng trả nợ.
- Tiền vay phải thực hiện đảm bảo theo đúng quy định
Ngân hàng thương mại hoạt động luôn nhằm hai mục tiêu là an toàn và sinh
lợi. Việc đảm bảo tín dụng nhằm mục tiêu an toàn vốn cho ngân hàng là điều kiện
tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Tôn trọng nguyên tắc này
trong quá trình cho vay sẽ giúp cho ngân hàng có thể thu nợ bằng cách phát mại các
tài sản đảm bảo nếu khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn.
Có nhiều hình thức bảo đảm có thể bảo đảm bằng tài sản với hình thức cầm cố hoặc
thế chấp hoặc bảo đảm bằng uy tín thông qua bảo lãnh của người thứ ba.
* Phân loại cho vay
Trong nền kinh tế, ngân hàng có rất nhiều loại hình cho vay khác nhau nhằm
đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng cũng như nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội của quốc gia. Do đó, việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học sẽ tạo điều kiện
thực hiện tốt công tác hoạch định kế hoạch, quản lý ngân hàng nói chung và nâng
cao chất lượng cho vay nói riêng. Hiện nay, có nhiều cách phân loại cho vay khác
nhau, tuy nhiên một số cách phân loại phổ biến được các ngân hàng thường sử
dụng.
Dựa vào mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, một số NHTM chia cho
vay thành các loại sau: Cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay thương mại và
công nghiệp, cho vay nông nghiệp, cho vay cá nhân, cho vay khác và thuê mua.
Cách phân loại này giúp cho các NHTM nắm bắt tình hình biến động của nền kinh
tế và các xu hướng phát triển trong tương lai để từ đó đưa ra các chính sách kinh
doanh phù hợp với sự phát triển bền vững của NHTM.
Dựa vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, cho vay được chia thành hai
loại:
- Cho vay có tài sản đảm bảo: Là loại cho vay trong đó người đi vay phải có
tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mới được ngân hàng chấp
thuận cho vay. Loại hình cho vay này sẽ hạn chế bớt rủi ro cho ngân hàng trong vai
trò người cho vay đồng thời nâng cao ý thức trả nợ của người đi vay.
- Cho vay không có tài sản đảm bảo: Là ngân hàng cho khách hàng vay chỉ
dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Hình thức cho vay này chứa đựng nhiều rủi
ro nên chỉ khi ngân hàng nắm rõ về tình hình của khách hàng vay đặc biệt tình hình
tài chính của họ để đảm bảo khả năng trả nợ vay thì ngân hàng sẽ cho vay theo hình
thức này.
Dựa theo thời hạn cho vay, người ta cũng chia cho vay thành hai loại:
- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới 12 tháng, chủ yếu được
sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn lưu động trong quá trình hoạt động của các
doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Cho vay trung và dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng. Loại
cho vay này phục vụ cho mục đích đầu tư mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ sở
hạ tầng, đổi mới thiết bị sản xuất, thực hiện các dự án…
Hiện nay, ở các nước đang phát triển cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng
lớn trong danh mục cho vay của các NHTM bởi vì rủi ro của loại cho vay này đối
với Ngân hàng thấp hơn so với cho vay trung và dài hạn và thu hồi vốn nhanh hơn,
tất nhiên lợi nhuận thu được thấp hơn so với cho vay trung và dài hạn. Mục đích của
cách phân loại này chủ yếu giúp các NHTM dự kiến và đề phòng rủi ro liên quan
khi căn cứ vào thời hạn cho vay.
Dựa vào loại hình tiền tệ cho vay, chúng ta có hai hình thức: Cho vay bằng
nội tệ và cho vay bằng ngoại tệ. Việc phân loại này phản ánh sự hội nhập của lĩnh
vực Ngân hàng nói riêng và của nền kinh tế quốc gia sở tại nói chung với thế giới.
Và còn nhiều cách phân loại cho vay khác, ví dụ như phân loại theo cho vay theo
phương pháp hoàn trả, theo ngành nghề kinh doanh, theo khu vực kinh tế.
Tóm lại, việc phân loại cho vay khá linh hoạt và đa dạng giúp ngân hàng
quản lý hoạt động cho vay cũng như thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng vay.
Điều này luôn được các ngân hàng quan tâm đúng mức bởi vì đây là một yếu tố
quan trọng hàng đầu quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
* Quy trình cho vay:
Cho vay là hoạt động chính của ngân hàng thương mại nên nó rất phức tạp
và chứa đựng nhiều rủi ro, hành động chủ quan duy ý chí làm chiếu lệ sẽ gây ra
những tổn thất nặng nề cho ngân hàng. Để giải quyết cho vay chính xác, tiết kiệm
thời gian và chi phí đồng thời đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng hoạt động cho
vay phải tuân thủ theo một quy trình chặt chẽ gồm các bước sau:
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét