Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

145 Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH ở VN


nền quốc phòng an ninh. Sự nghiệp quốc phòng và an ninh gắn liền với sự nghiệp
phát triển văn hoá, kinh tế xã hội.
Thành tựu công nghiệp hoá tạo ra tiền đề kin tế cho sự phát triển đồng bộ về
kinh tế - chính trị, văn hoá xã hội, quốc phòng và an ninh. Thành công của sự
nghiệp công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân là nhân tố quyết định sự thắng lợi
của con đờng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Chính vì vậy
mà công nghiệp hoá kinh tế đợc coi là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội.
3. Lý luận nguồn nhân lực.
Ngày nay khi vai trò của nguồn nhân lực đang ngày càng đợc thừa nhận nh
một yếu tố quan trọng bên cạnh vốn và công nghệ cho mọi sự tăng trởng thì một
trong những yêu cầu để hoà nhập vào nền kinh tế khu vực cũng nh thế giới là
phải có đợc một nguồn nhân lực có đủ sức đáp ứng đựơc những yêu cầu của trình
độ phát triển của khu vực, của thế giới, của thời đại.
Nguồn nhân lực là toàn bộ những ngời lao động đang có khả năng tham gia
vào các quá trình lao động và các thế hệ nôid tiếp sẽ phục vụ cho xã hội.
Nguồn nhân lực với t cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội là
khả năng lao động cả xã hội đợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân c
trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực
tơng đơng với nguồn lao động.
Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con ngời cụ thể
tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần đ-
ợc huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm
những ngời từ giới hạn dới độ tuổi lao động trở lên.
Nguồn nhân lực đợc xem xét trên giác độ số lợng và chất lợng. Số lợng
nguồn nhân lực đợc biểu hiện thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn
nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu quy mô và tốc độ
tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến
5

quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngợc lại. Tuy nhiên, mối quan
hệ dân số và nguồn nhân lực đợc biểu hiện sau một thời gian nhất định (vì đến
lúc đó con ngời muốn phát triển đầy đủ, mới có khả năng lao động).
Khi tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con ngời đóng vai
trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hớng nó tới
mục tiêu nhất định. Vì vậy, nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lợng lao
động đã có và sẽ có mà nó còn phải bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí
lực, kỹ năng làm việc, thái độ và phong cách làm việc tất cả các yếu tố đó ngày
nay đều thuộc về chất lợng nguồn nhân lực và đợc đánh giá là một chỉ tiêu tổng
hợp là văn hoá lao động. Ngoải ra, khi xem xét nguồn nhân lực, cơ cấu của lao
động - bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề cũng là một chỉ tiêu rất
quan trọng.
Cũng giống nh các nguồn lực khác, số lợng và đặc biệt là chất lợng nguồn
nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất và tinh
thần cho xã hội.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động, những
ngời lao động phải đợc đào tạo, phân bổ và sử dụng theo cơ cấu hợp lý, đảm bảo
tính hiệu quả cao trong sử dụng. Một quốc gia có lực lợng lao động đông đảo, nh-
ng nếu phân bổ không hợp lý giữa các ngành, các vùng, cơ cấu đào tạo không
phù hợp với nhu cầu sử dụng thì lực lợng lao động đông đảo đó không những
không trở thành nguồn lực để phát triển mà nhiều khi còn là gánh nặng cản trở sự
phát triển.
4. Vai trò của nguồn nhân lực với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và với nền kinh tế tri thức ở nớc ta.
Ngày nay, trớc sự phát triển nh vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ và thông tin, sự giao lu trí tuệ và t tởng liên minh kinh tế giữa các khu vực
trên thế giới. Sự ra đời của nhiều công ty xuyên quốc gia đã tạo ra tốc độ yăng tr-
ởng cha từng thấy. Tình hình đó đã dẫn đến sự quốc tế hoá kinh tế thế giới, gây
6

nên những đảo lộn về chính trị xã hội sâu sắc mang tính toàn cầu và đang đi đến
thiết lập một trật tự thế giới mới. Trong bối cảnh đó khu vực Châu á - Thái Bình
Dơng đang nổi lên là khu vực kinh tế năng động nhất. Một trong những yếu tố
chủ chốt thức đẩy tăng trởng kinh tế nhanh chóng là vai trò của nguồn nhân lực.
Nền kinh tế tri thức là kinh tế dựa trên các trụ cột chủ yếu là công nghệ
thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới Để có đợc nền kinh tế tri
thức cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc để phát triển khoa học công
nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin; đồng thời phải đầu t cho phát triển giáo
dục đào tạo hay nói cách khác phải đầu t cho phát triển nguồn nhân lực. Các nớc
muốn phát triển nền kinh tế tri thức cần phải đầu t cho phát triển con ngời mà cốt
lõi là phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đàu t phát triển nhân tài. Nhà kinh
tế học ngời Mỹ, ông Garry Becker- ngời đợc giải thởng Nobel về kinh tế năm
1992, đã khẳng định: " không có đầu t nào mang lại nguồn lợi lớn nh đầu t cho
giáo dục" (Nguồn: The Economist 17/10/1992). Nhờ có sự đầu t cho phát triển
nguồn nhân lực mà nhiều nớc chỉ trong một thời gian ngắn đã nhanh chóng trở
thành nớc công nghiệp phát triển.
Việt Nam là nớc đang phát triển có lực lợng sản xuất ở trình độ thấp, nền
kinh tế tri thức đối với Việt Nam là khái niệm hoàn toàn mới mẻ. Do vậy, có ý
kiến cho rằng nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam hiện nay quá xa và không
hiện thực; cho rằng Việt Nam phải xây dựng xong công nghiệp hoá, hiện đại hoá
để làm tiền đề cho kinh tế tri thức ra đời và phát triển, kinh tế tri thức không chỉ
bao gồm các ngành mới xuất hiện dựa trên công nghệ cao, mà còn cả các ngành
truyền thống đựoc cải tạo bàng khoa học công nghệ cao. Do đó không nên chờ
cho đến khi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá kết thúc mới tiến hành xây
dựng kinh tế tri thức, mà ngay trong giai đoạn này, để phát triển và theo kịp các
nớc trên thế giới, chúng ta phải đồng thời phải quan tâm tới những lĩnh vực mà
chúng ta có thể tiếp cận.
7

Đối với Việt Nam, một đất nớc nông nghiệp, rõ ràng chúng ta không thể xây
dựng và phát triển nền kinh tế tri thức nh các nớc công nghiệp phát triển. Thực ra
đó là sự tiếp tục quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc ở một trình độ
cao hơn, dựa trên chất xám của con ngời. Mặt khác do xuất phát điểm của lực l-
ợng sản xuất của ta thấp, mà tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam phải phù hợp
với điều kiện của Việt Nam, tức mang những đặc thù của mình. Do đó việc xác
định nội dung các ngành kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
chuẩn bị các điều kiện vật chất và con ngời để tiếp cận kinh tế tri thức trở thành
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mọi cấp, mọi ngành, nhất là các cấp hoạch
định chiến lợc. Trong việc chuẩn bị ấy việc nghiên cứu thực trạng mạnh, yếu và
tìm ra giải pháp phát triển nguồn nhân lực là quan trọng và cấp bách nhất trong
giai đoạn hiện nay.
Theo kinh nghiệm của nhiều nớc thì nếu chỉ có lực lợng lao động đông và rẻ
thì không thể tiến hành công nghiệp hoá, mà đòi hỏi phải có một đội ngũ lao
động có trình độ chuyên môn cao. Chính nhờ lực lợng có trình độ chuyên môn
cao mà Nhật Bản và các nớc Nics (các nớc công nghiêpj mới) vận hành có hiệu
quả công nghệ nhập khẩu hiện đại, sản xuất ra nhiều mặt hàng có sức cạnh tranh
cao với các nớc công nghiệp phát triển trên thế giới.
Để đảm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc, phải bồi dỡng và phát huy nhân tố con ngời. Với t cách là mục tiêu và động
lực phát triển, con ngời có vai trì to lớn không những trong đời sông kinh tế mà
con trong lĩnh vực hoạt động khác. Bởi vậy phải quan tâm, nâng cao chất lợng
con ngời, không chỉ với t cách là ngời lao động sản xuất, mà với t cách là công
dân trong xã hội, một cá nhân trong tập thể, một thành viên trong cộng đồng
nhân loại Không thể thực hiện đợc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nếu không có
đội ngũ đông đảo những công nhân lành nghề, những nhà khoa học kỹ thuật tài
năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo vát, những nhà
lãnh đạo, quản lý tận tuỵ, biết nhìn xa trông rộng.
8

Vào những năm 80, quan điểm phát triển nguồn nhân lực đã trở thành vấn
đề quan tâm đặc biệt ở Châu á - Thái Bình Dơng. Con ngời đợc coi là yếu tố
quan trọng nhất của sự phát triển. Trong thời đại mới, muốn giải quyết hài hoà
các yếu tố cung và cầu có liên quan đến chiến lợc ohát triển nguồn nhân lực thì
cần xem xét khía cạnh nguồn nhân lực theo quan hệ một phía. Phải thấy đợc vai
trò sản xuất của nguồn là vấn đề cốt lõi của học thuyết vốn con ngời. Và vai trò
sản xuất của nguồn nhân lực có quan hệ chặt chẽ với vai trò tiêu dùng đợc thể
hiện bằng chất lợng cuộc sống. Cơ chế nối liền hai vai trò là trả công cho ngời lao
động tham gia các hoạt động kinh tế và thu nhập đầu t trở lại để nâng cao mức
sống của con ngời tạo nên khả năng nâng cao mức sống cho toàn xã hội và làm
tăng năng suất lao động Các nớc nghèo ở Châu á đều nhận thức do tốc độ tăng
dân số quá nhanh nhiều quốc gia coi việc giảm đói nghèo còn quan trọng hơn cả
giáo dục, đó là một thiệt hại to lớn.
Việt Nam đang hớng tới một nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa có sự quản lý vĩ mô của nhà nớc với mục tiêu bảo đảm cho dân giàu, nớc
mạnh, xã hội công bàng văn minh, an ninh quốc gia và sự bền vững của môi tr-
ờng. Nền kinh tế Việt Nam chỉ có thể đạt đợc tốc độ tăng trởng nhanh, Hiệu quả
kinh tế xã hội cao khi nền kinh tế ấy thực sự dựa trên cơ sở công nghiệp hóa, hiện
đại hoá, trong đó phải lấy việc phát huy nguồn lực con ngời làm yếu cơ bản cho
sự phát triển bền vững.
II. Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả của đào tạo và
sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sụ nghiệp công nghiệp hoá
- hiện đại hoá ở Việt Nam.
1. Thực trạng nguồn nhân lực nớc ta.
a. Số lợng (quy mô) Nguồn nhân lực Việt Nam.
Quy mô nguồn nhân lực Việt Nam.
9

Việt Nam là một trong những nớc đông dân, dân số với quy mô dân số đứng
thứ hai Đông Nam á và thứ mời ba trên thế giới. Một đất nớc với cơ cấu dân số
trẻ với số ngời trong độ tuổi 16 - 34 chiếm 60% trong tổng số 35,9 triệu ngời lao
động: Nguồn bổ sung hàng năm là 3% - tức khoảng 1,24 triệu ngời. Theo tổng
điều tra dân số ngày 1-4-1999, quy mô dân số nớc ta là 76,3 triệu ngời và dự tính
đến năm 2010 quy mô dân số nớc ta khoảng 95 triệu và số ngời trong độ tuổi lao
động gần 58 triệu, chiếm 60,7% dân số . Dự báo thời kỳ 2001 đến 2010 cần tạo
thêm chỗ làm việc mới cho khoảng 11 - 12 triệu lao động (cha kể số lao động tồn
đọng các năm chuyển sang), bình quân mỗi năm phải tạo thêm 1,1 đến 1,2 triệu
chỗ làm việc mới. Tính đến 1/7/2000, tổng lực lợng lao động cả nớc có
38.643.089 ngời, so với kết quả điều tra tại thời điểm 1/7/1996 tăng bình quân
hàng năm là 975.645 ngời, với tốc độ tăng 2,7% một năm, trong khi tốc độ tăng
bình quân hàng hàng năm của thời kỳ này là 1,5% một năm.
Quy mô nguồn nhân lực qua đào tạo của Việt Nam và việc sử dụng
nguồn nhân lực này.
Việt Nam tuy có lực lợng lao động dồi dào nhng lực lợng lao động đã qua đào tạo
thực tế lại thiếu, đó là mâu thuẫn về quy mô của nguồn nhân lực nớc ta, chúng ta
vừa thừa vừa thiếu nguồn nhân lực.
Hiện nay đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhà nớc
thuộc các bộ, các ngành ở các cơ quan trung ơng có 129763 ngời, trong đó có
74% công chức có trình độ từ đại học trở lên.
b. Về chất lợng nguồn nhân lực Việt Nam.
Theo số liệu điều tra lao động việc làm từ năm 1996 1999 thì đối với
35,866 37,784 triệu ngời lao động trong cả nớc , số ngời lao động cha biết chữ
vẫn còn tới 5,75% năm 1996, 5,10% năm 1997, 3,84%năm 1998 và 4,10% năm
1999
10

Trong số ngời cha biết chữ , có vùng chiếm tỷ lệ cao nh đồng bằng sông
Cửu Long ( vùng chiếm 21% lao động cả nớc ) năm 1999 còn tới 33% , vùng
đông Bắc ( vùng chiếm 15% lao động cả nớc) còn tới 19%
Trong số ngời biết chữ , vẫn còn nhiều ngời cha tốt nghiệp cấp .Năm 1996
có 20,92 , năm 1997 có 20,26%năm 1998 có 18,50% và năm 1999 còn18,00%.
Số ngời tốt nghiệp phổ thông trung học chỉ có 13 14% các năm 1996-1997 và
16- 17% năm 1998, 1999
Nhìn chung trình độ văn hoá của ngời lao động đã khá hơn sau 10 năm , số
ngời biết chữ nâng lên từ 84% năm 1989 lên 96% năm 1999. Số ngời biết chữ nh-
ng cha tốt nghiệp cấp cũng giảm dần, tuy còn chậm , lớp học bình quân của ng-
ời lao động đã tăng từ 3,3/12năm 1997 lên lớp 7,4/12năm1999
Bên cạnh đó chỉ số HDI của Việt Nam năm 2000 xếp thứ 100/171 nớc .
Qua điều tra lao động - việc làm ở Việt Nam các năm 1996 1999 cho thấy
: lực lợng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm trong tổng
số lực lợng lao động đợc điều tra ( 35,8 37,7 triệu ngời ) ngày càng giảm qua
các năm . Cụ thể nh sau :
Năm Lực lợng lao động không có trình độ/ tổng số lao động
1996 87,69%
1997 87,71%
1998 86,69%
1999 86,13%
2000 80 82%
Tuy nhiên ở nhiều vùng số lao động không có trình độ, chuyên môn kỹ
thuật còn chiếm tỷ lệ khá cao : năm1999 số không có chuyên môn nghiệp vụ ở
vùng Tây Bắc là 92,36% ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là91,7%
Số lao động có chuyên môn ngày càng tăng mặc dù không cao. Năm 1996 là
12,31%, năm 1997 : 12,29% năm 1998: 13,31% năm 1999 : 13,87% và đến
năm 2000 là 18 20%
Về trí lực và thể lực.
11

Ngời Việt Nam có truyền thống cần cù, thông minh, ham học hỏi, Cầu tiến
bộ, có ý chí và tinh thần tự lực tự cờng dân tộc phát triển khá về thể lực, trí lực,
có tính cơ động cao có thể tiếp thu nhanh kiến thức khoa học công nghệ tiên tiến,
hiện đại, có thể nói đây là một trong số các lợi thế so sánh của ta trong quá trình
hội nhập.
Bảng: một số chỉ tiêu về sức khoẻ, y tế của các nớc ASEAN.
Chỉ tiêu Thời gian Việt
Nam
Brunây Inđônêxia Malaixia Philippin Thái
Lan
Xingapo
Tuổi thọ bình quân 1992 63,4 74 62 70,4 64,4 68,7 74,2
Cung cấp calo bình quân/ngời 1988-1990 2220 2860 2610 2670 2340 2280 3210
Tỷ lệ cung cấp calo/ngời so với
nhu cầu tối thiểu(%)
1988-1990 102 _

112 124 108 100 144
Tỷ lệ đợc dịch vụ y tế(%) 1985-1990 90 96 80 90 75 70 100
Tỷ lệ đợc dùng nớc sạch(%) 1988-1991 27 95 51 72 82 76 100
Nguồn: chỉ số và chỉ tiêu phát triển con ngời. NXB Thống Kê. Hà Nội 1995.
Qua bảng trên ta thấy: các chỉ số của Việt Nam luôn luôn ở mức thấp, có
những chỉ số ở mức thấp nhất trong khu vực. Những chỉ tiêu liên quan và ảnh h-
ởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất, thể lực của ngời lao động Việt Nam rất
thấp: Cung cấp cao bình quân đầu ngời chỉ có 2220 calo, thấp nhất trong khu vực.
Về tỷ lệ cung cấp calo bình quân đầu ngời so với nhu cầu bình quân tối thiểu,
Việt Nam chỉ cao hơn Thái Lan (100%), Inđônêxa (122%), Xingapo (144%),
Philippin (108%), Malaixia (124%). Một loạt các chỉ tiêu khác liên quan đến y
tế, chăm sóc sức khoẻ của Việt Nam cũng còn ở mức thấp, điều đó lý giải phần
nào sự hạn chế về mặt thể lực của nguồn nhân lực Việt Nam. Cho đến nay thể lực
của ngời lao động Việt Nam còn cha đáp ứng đợc những yêu cầu của nền sản
xuất công nghiệp lớn và ỏ đây đã bộc lộ một trong những yếu điểm cơ bản của
nguồn nhân lực Việt Nam.
Những mặt mạnh từ trớc đến nay của ngời lao động Việt Nam vẫn đợc nhắc
đến là: có truyền thống lao động cần cù, có tinh thần vợy khó và đoàn kết cao,
thông minh sáng tạo, có khả năng nắm bắt và ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện
12

đại, có khả năng thích ứng với nhiều tình huống phức tạp. Nhng thực tế cũng cho
thấy những điểm yếu không thể không thừa nhận là trình độ kỹ thuật, tay nghề,
kỹ năng trình độ và kinh nghiệm quản ký của ngời Vệt Nam còn rất thấp, cha kể
những tác hại của thói quen và tâm lý của ngời sản xuất nhỏ.
Khả năng t duy của lao động nớc ta.
Nguồn nhân lực Việt Nam với xuất phát điểm thấp, trớc yêu cầu lớn của quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế tỏ ra bất cập. Từ nền kinh
tế nông nghiệp, phong cách t duy con ngời Việt Nam còn mang nặng tính chất
sản xuất nhỏ, thủ công, lạc hậu. Sản xuất và quản lý bằng kinh nghiệm theo kiểu
trực giác, lấy thâm niên công tác, cụ thế nghề nghiệp và lòng trung thành để đánh
giá kết quả lao động và phân chia thu nhập. Lao độgn cha đợc đào tạo và rèn
luyện trong môi trờng sản xuất công nghiệp nên hiệu xuất lao động cha đợc đề
cao và đánh giá đúng mức. Khi tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại
đợc thâm nhập và chuyển giao vào Việt Nam thì mâu thuẫn giữa trình độ hiện đại
của trang thiết bị kỹ thuật - công nghệ với trình độ lạc hậu của ngời sử dụng xuất
hiện. Ngời quản lý ngời sử dụng công nghệ thì không thể tiếp thu, càng không
thể khai thác có hiệu quả công nghệ, nên giảm hiệu xuất của vốn đầu t.
Hiện nay, công nghệ Việt Nam ở mức trung bình kém. Trong các ngành
công nghiệp, hệ thống máy móc thiết bị lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ so với thế giới.
Các chỉ tiêu chủ yếu cề tiêu hao nguyên, nhiên, vật liệu gáp 1,5 đến 2 lần mức
chung của thế giới, giá thành sản phẩm cao, năng suất lao động công nghiệp chỉ
đạt 30% mức trung bình của thế giới ( theo số liệu báo cáo cuả GS đặng hữu tại
hội cán bộ khoa học công nghệ toàn quốc ngày 12/2/1995). Số nhân công có
trình độ bậc 4 trở lên chỉ bằng 1/3 tổng số công nhân kỹ thuật, công nhân có trình
độ bạc 7 chỉ có 4000 ngời nà đa phần tuổi đã cao. Thiếu công nhân kỹ thuật, đặc
biệt là công nhân bậc cao là nhân tố trực tiếp ảnh hởng đến quá trình chuyển giao
công nghệ, làm giảm hiệu xuất sử dụng của thiết bị công nghệ.
13

Hiện nay các nhà công nghệ, công trình s, kỹ s thực hành nớc ta rất thiếu,
nhất là cán bộ ở các ngành công nghệ thông tin, vi điện tử sinh học, tự động hoá
sản xuất Số cán bộ khoa học thuộc các ngành kỹ thuật liên quan đến công nghệ
chỉ chiếm 11% tổng cán bộ trong cơ chế kinh tế cũ nên kinh nghiệm, năng lực
sáng tạo thực tiễn, khả năng sáng tạo công nghệ yếu.
Sự lạc hậu, non yếu về trình độ của nguồn nhân lực Việt Nam so với
nhân lực trong khu vực và thế giới.
Trình độ lao động kỹ thuật nớc ta vừa yếu, vừa thiếu, vừa bất hợp lý về cơ
cấu đào tạo, vừa phân bố không đồng đều giữa các ngành, các vùng, các thành
phần kinh tế. Trình độ non kém, lạc hậu về khoa học công nghệ, tác phong lao
dộng, kỷ luật, sự thiếu hiểu biết về kinh tế thị trờng, tính từ chịu trách nhiệm cá
nhân thấp ảnh hởng đến cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam khi hoà nhập
vào thị trờng nhân lực tiên tiến của thế giới.
Hiện nay, nguồn nhân lực đồi dào, giá nhân công rẻ, về lâu dài không thể là
lợi thế phảt triển Việt Nam, Vì lợi thế nhân công rẻ trên thế giới đang dần mất đi
và thay vào đó là trình độ trí tuệ cao đồng đều của nhân công.
Trong quan hệ kinh tế quốc tế, trình độ, năng lực của các bộ đối tác, sự sắc
sảo mềm dẻo, nhạy bén, linh hoạt trong ngoại giao của cán bộ ảnh hởng rất đến
lợi ích của những quốc gia. Để giảm đợc những bất lợi, tạo ra sự tơng đồng trong
hoà nhập, cạnh tranh với thị trờng nhân lực khu vực và thế giới, ngời lao động
Việt Nam phải đợc trang bị các kiến thức chuyên môn nghề nghiệp, ngoại ngữ,
lao động, kỷ luật, tác phong lao động và nhận thức đúng đắn mối quan hệ chủ -
thợ trong nền kinh tế thị ỷờng, phải hiểu biết đợc phong tục tập quán, đặc điểm
của các nớc bạn tong cùng thị tròng lao động.
Trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài lao động Việt Nam cũng
bộc lộ những nhợc điểm lạc hậu về trình độ kỹ thuật - công nghệ, kỷ luật và thói
quen lao động. Năng lực quản lý kinh tế yếu kém, tính tuỳ tiện của ngời sản xuất
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét