Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
sự tín nhiệm hay nguyên tắc nhất định khi cho vay. TDNH đợc thực hiện theo 3
nguyên tắc:
+ Vốn vay phải đợc hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn đã đăng ký
trong HĐTD
+Vốn vay phải đợc sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả
+ Vốn vay phải đợc đảm bảo bằng hàng hoá có giá trị tơng đơng.
I.1.2. phân loại TDNH
Trong nền KTTT, hoạt động TD rất đa dạng và phong phú với nhiều hình
thức khác nhau. Để sử dụng và quản lý TD có hiệu quả thì phải tiến hành phân loại
TD. Có nhiều tiêu thức phân loại TD khác nhau:
+ Căn cứ vào thời hạn tín dụng: có TD ngắn hạn (dới 12 tháng); TD trung hạn
(1-5 năm); TD dài hạn trên 5 năm
+căn cứ vào đối tợng tín dụng: có tín dụng vốn lu động và tín dụng vốn cố
định.
+ Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, có tín dụng sản xuất và lu thông hàng
hoá; tín dụng tiêu dùng.
+Căn cứ vào loại tiền có tín dụng bằng đồng nội tệ, ngoại tệ hoặc bằng vàng.
+ Căn cứ theo khách hàng có tín dụng cấp cho doanh nghiệp, cho hộ sản xuất,
các tổ chức tài chính hay tín dụng cấp cho dân c.
+ Căn cứ vào hình thức của tín dụng có tín dụng thuê mua, tín dụng bảo lãnh,
chiết khấu thơng phiếu, tín dụng ứng trớc.
Ngoài ra còn có một số tiêu thức khác nh căn cứ vào mức độ đảm bảo (có tín
dụng có đảm bảo và tín dụng không có đảm bảo); căn cứ vào xuất xứ của tín dụng
có tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
I.1.3. Chức năng của TDNH
Nh chúng ta đã biết, TDNH có một vị trí quan trọng trong việc phát triển KT-
XH đất nớc và vị trí đó trớc hết đợc biểu hiện qua các chức năng của TDNH.
Tín dụng ngân hàng có 2 chức năng cơ bản đó là chức năng tập trung và phân
phối theo nguyên tắc hoàn trả; chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động của
nền kinh tế.
I.1.3.1. Chức năng tập trung và phân phối vốn theo nguyên tắc hoàn trả,
hay chức năng phân phối lại.
Sự tồn tại khách quan của phạm trù tín dụng là một tiền đề quan trọng cho sự
vận động liên tục của vốn trong nền kinh tế quốc dân, những vốn tạm thời cha sử
dụng phát sinh ra trong nền kinh tế sẽ đợc ngân hàng huy động và tập trung lại.
Trên cơ sở nguồn vốn đó, ngân hàng tiến hành phân phối bằng hình thức cho vay
theo nhu cầu của nền kinh tế. Giữa tập trung và phân phối luôn có mối quan hệ
ràng buộc lẫn nhau. Thực hiện tốt tập trung vốn tạo cơ sở để tiến hành cho vay
đồng thời chỉ khi việc phân phối vốn có hiệu quả sẽ thúc đẩy nhu cầu tập trung
vốn. Sự phân phối của tín dụng tuân theo một vòng tuần hoàn từ khi cho vay đến
vốn tín dụng đợc sử dụng theo nhu cầu và sau khi hoàn thành việc tham gia vào
quá trình phục vụ nhu cầu, trở lại hình thái tiền tệ thì nó đợc hoàn trả ngời cho vay.
Đây là bản chất vận động của tín dụng. Đó là sự vận động với t cách lợng giá trị
vận động, do đó lợng giá trị này luôn đợc bảo tồn theo thời gian khi hoàn trả.
I.1.3.2. Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động của nền kinh tế.
Khả năng kiểm soát các hoạt động kinh tế của TDNH là rộng lớn hơn so với
các hình thức TD khác. Bên cạnh quan hệ tín dụng đối với các doanh nghiệp và cá
nhân, ngân hàng còn có quan hệ về tiền tệ, thanh toán với họ. Các mối quan hệ này
bổ sung cho nhau, tạo điều kiện cho ngân hàng kiểm soát các doanh nghiệp dễ
dàng hơn. Không những thế, tín dụng cũng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy
bén đối với mọi biến đổi của nền kinh tế. Thông qua hoạt động thu vốn nhàn rỗi có
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
thể đánh giá đợc tình hình tiêu dùng, tiết kiệm và các tiềm năng khác của nền kinh
tế. Mặt khac, thông qua hoạt động cấp vốn có thể đánh giá đợc khả năng phát triển
của các ngành các lĩnh vực, sự hợp lý của cơ cấu nền kinh tế qua đó có sự điều
chỉnh cơ cấu đầu t cho phù hợp. Do đó tín dụng đợc coi là công cụ quan trọng để
nhà nớc kiểm soát và thực hiện các chiến lợc phát triển kinh tế.
I.1.4.Vai trò của tín dụng ngân hàng
I.1.4.1. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự tồn tại và phát triển
của bản thân ngân hàng.
Trớc hết hoạt động tín dụng ngân hàng là 1 trong 3 hoạt động tiền đề cho sự
ra đời của NHTM, đây cũng là hoạt động quyết định sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng. Bởi lẽ, khoản mục tín dụng chiếm khoảng 70% tổng tài sản và các
khoản mục tín dụng này mang lại thu nhập lớn nhất schó ngân hàng. Vì vậy việc
duy trì và mở rộng tín dụng mang một ý nghĩa sống còn với các NHTM. Khi các
ngân hàng không thực hiện đợc duy trì và mở rộng thì vốn ngân hàng huy động đ-
ợc sẽ bị ứ đọng, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho phần vốn ứ đọng trong khi không
có thu nhập từ lãi cho vay khiến ngân hàng bị thua lỗ và có khả năng rơi vào tình
trạng phá sản. Hơn nữa, việc nâng cao chất lợng và mở rộng hoạt động tín dụng sẽ
tạo điều kiện để ngân hàng phát triển thêm các hoạt động khác nh mở tài khoản tại
ngân hàng, dịch vụ t vấn, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền kết quả là ngân hàng
vừa tăng đợc nguồn vốn, vừa phát triển đợc các hoạt động dịch vụ tăng thu nhập và
phân tán rủi ro.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
I.1.4.2. Vai trò của tín dụng đối với sự phát triển của nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng có vai trò đặc biệt trong việc tổ chức điều hoà lu thông
tiền tệ, phục vụ quá trình phát triển KT-XH đất nớc và là một công cụ quan trọng
để điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Ta thấy trong xã hội luôn có một số ngời thừa vốn cần đầu t và một số ngời
thiếu vốn muốn đi vay. Song những ngời này khó có thể trực tiếp gặp nhau để cho
nhau vay. Hoặc có thể gặp nhau thì chi phí rất cao và không kịp thời, nên TDNH là
cầu nối giữa ngời có vốn và ngời cần vốn và để giải quyết nhu cầu thoả đáng trong
mối quan hệ này. Nghĩa là tín dụng ngân hàng thu hút tập trung mọi nguồn vốn
tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, dân c để đầu t cho quá trình mở
rộng sản xuất, tăng trởng kinh tế, đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn, thúc đẩy lu
thông hàng hoá, tăng tốc độ chu chuyển vốn cho xã hội, góp phần thúc đẩy tái sản
xuất mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển bền vững.
Thông qua tín dụng ngân hàng, có thể kiểm soát đợc lợng tiền cung ứng trong
lu thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lu thông tiền tệ. Mặt khác, tín dụng ngân
hàng còn thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cờng chế độ hạch toán kinh doanh, giúp
các doanh nghiệp khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh
doanh. Đồng thời tín dụng ngân hàng còn tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế
với nớc ngoài, là cầu nối cho việc giao lu kinh tế và là phơng tiện để thắt chặt mối
quan hệ kinh tế với các nớc trên thế giới.
Nh vậy tín dụng ngân hàng có một vai trò hết sức quan trọng đối với phát
triển kinh tế cũng nh đối với hoạt động kinh doanh của NHTM. Để phát huy vai trò
đó, các nớc trên thế giới đã sử dụng tín dụng ngân hàng nh một công cụ đắc lực để
thúc đẩy phát triển KT-XH. Tuy nhiên, đây lại là một hoạt động tiềm ẩn rất nhiều
rủi ro khó lờng trớc. Để tín dụng ngân hàng thực sự phát huy vai trò của mình,
nghiên cứu rủi ro tín dụng là một yêu cầu cần thiết.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
I.2. Rủi ro tín dụng của NHTM.
I.2.1. Những vấn đề chung về rủi ro ngân hàng
I.2.1.1. Khái niệm về rủi ro ngân hàng.
Cũng nh với bất kỳ ngành kinh doanh nào khác, ngân hàng có thể gặp rủi ro
và có thể bị mất vốn. Hơn nữa, ngân hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt
động ngân hàng với bản chất của nó, chịu ảnh hởng của rất nhiều loại rủi ro. Rủi ro
của ngân hàng có thể đợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau nhng đều có
bản chất chung đó là khả năng xẩy ra những tổn thất cho ngân hàng.
Một số quan điểm cho rằng, rủi ro là toàn bộ tổn thất có thể xảy ra đối với
ngân hàng. Một số khác lại cho rằng rủi ro chỉ là những tổn thất xảy ra ngoài dự
kiến.
Dù có nhiều cách quan niệm khác nhau về rủi ro, nhng tựu chung lại có thể
rút ra các kết luận sau:
+ Rủi ro ngân hàng là khả năng xẩy ra những tổn thất trong hoạt động ngân
hàng, nằm ngoài ý muốn của ngân hàng.
+ Rủi ro đợc xem là một biến cố ngẫu nhiên, tuy nhiên ta có thể xác định đợc
khả năng xuất hiện của rủi ro để lờng trớc hậu quả có thể xảy ra.
+ Mức độ rủi ro phụ thuộc nhiều vào trình độ quản lý của đơn vị, không thể
coi rủi ro là hoàn toàn không thể tránh khỏi và để nó tự vận động. Rủi ro có thể đ-
ợc hạn chế khi tăng cờng khả năng kiểm soát của đơn vị mà điều này lại phụ thuộc
chủ yếu vào trình độ quản lý của đơn vị kinh doanh.
+ Rủi ro do nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan, nhng dù rủi ro
do nguyên nhân nào gây ra thì cũng đều có khả năng phòng ngừa với các phơng
pháp khác nhau.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
I.2.1.2. Tính khách quan của rủi ro ngân hàng.
Tính khách quan của rủi ro ngân hàng chính là do chúng là những biến cố
ngẫu nhiên xẩy ra ngoài ý muốn của con ngời. Chúng ta hầu nh không thể nào biết
trớc mà tránh, hoặc loại bỏ chúng.
Trong hoạt động kinh tế, kho các chủ thể kinh tế tiến hành kinh doanh trên
bất kỳ lĩnh vực nào thì nguy cơ rủi ro luôn tiềm tàng, vấn đề chỉ là chấp nhận rủi
ro, tiên đoán đợc cái gì đang đợi họ để có những giải pháp quản lý, ngăn ngừa rủi
ro ở mức tối thiểu có thể đạt đợc.
Trên lĩnh vực Tài chính-Ngân hàng cũng không có ngoại lệ nào khác là việc
phải chấp nhận rủi ro, bởi lẽ trong hoạt động của mình, ngân hàng phải có rất
nhiều các mối quan hệ, các mối quan hệ này lại cực kỳ phức tạp, đa dạng trong mớ
chằng chịt với các mối quan hệ khác. Hơn nữa, các mối quan hệ mà ngân hàng
tham gia vào có liên quan đến nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực, nhiều chủ thể
kinh tế, các nhân, tổ chức, quốc gia, tổ chức quốc tế Mặt khác, đối tợng kinh
doanh của ngân hàng lại là tiền tệ, do vậy ngân hàng không thể biết trớc đợc hết
những rủi ro đang chờ đón họ, vì thế ngân hàng thờng phải chấp nhận rủi ro, sống
chung với rủi ro, phải luôn thực hiện các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro.
Đó chính là tính khách quan của rủi ro.
I.2.1.3. ảnh hởng của rủi ro đối với hoạt động ngân hàng
Rủi ro gắn liền với hoạt động NHTM, phản ánh các tình huống bất thờng xảy
ra gây tổn thất cho ngân hàng. Khi tổn thất xảy ra, trớc hết thu nhập của ngân hàng
giảm sút, dẫn đến tỷ suất lợi tức và thị giá cổ phiếu của ngân hàng giảm. Từ đó có
thể kéo theo việc bán hàng loạt cổ phiếu trên thị trờng, là điểm mở đầu của quá
trình mua lại, sát nhập hoặc thay thế ban quản lý ngân hàng. Rủi ro tín dụng và lãi
suất có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản với việc hàng loạt ngời gửi tiền rút tiền ra
khỏi ngân hàng, buộc ngân hàng phải đóng cửa và tuyên bố phá sản. Tổn thất làm
giảm quỹ dự phòng, giam vốn và quỹ của ngân hàng. Để đối phó với tình trạng
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
trên, ngân hàng có thể phải giảm tiền lơng (hoặc chi phí khác), giảm lao động dẫn
đến các ảnh hởng không tốt về nhân sự, về trạng thái nguồn và công nghệ.
I.2.1.4. Phân loại chung
Có thể chia rủi ro trong hoạt động ngân hàng thành các loại sau:
+Rủi ro tín dụng (sẽ nghiên cứu ở phần sau)
+ Rủi ro hối đoái: là khả năng xẩy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu
khi tỷ giá hối đoái thay đổi vợt quá thay đổi dự tính.
+ Rủi ro lãi suất: là khả năng xẩy ra những tổn thất khi lãi suất thay đổi ngoài
dự tính.
+ Rủi ro thanh khoản: là rủi ro khi khả năng thanh toán của ngân hàng không
đáp ứng đợc cho khách hàng khi họ đến rút vốn vợt quá mức dự trữ thanh toán của
ngân hàng.
+ Rủi ro tồn đọng vốn: xẩy ra khi vốn bị tồn đọng lớn không cho vay, đầu t đ-
ợc và các loại rủi ro khác
I.2.1.5. Quy luật đánh đổi rủi ro-lợi nhuận trong hoạt động của các NHTM.
Theo quy luật này thì các chủ thể kinh tế phải chấp nhận một mức độ rủi ro,
hoặc điều chỉnh giảm thiểu rủi ro tới một mức độ nhất định nào đó sao cho hợp lý
để hy vọng đạt đợc phần lớn lợi nhuận bù đắp mức độ rủi ro đó. Mối quan hệ đánh
đổi ở đây mang tính tỷ lệ thuận nhiều hơn, tuy nhiên nói nh vậy không có nghĩa là
cứ rủi ro càng cao thì kiếm đợc lợi nhuận càng nhiều, mà muốn đợc nhiều lợi
nhuận thì ngoài việc chấp nhận rủi ro hợp lý còn phải có nhiều yếu tố khác kết
hợp. Trong đó quan trọng nhất là phải có đầu óc kinh doanh, nắm bắt đợc thời cơ
và biến thời cơ thành hiện thực. Ngân hàng cũng vậy, không phải là càng gặp nhiều
rủi ro thì càng thu đợc nhiều lợi nhuận mà vấn đề là phải quản lý đợc danh mục
đầu t một cách hợp lý. Đó chính là việc ngân hàng chấp nhận cơ cấu rủi ro hợp lý
để hy vọng kiếm đợc lợi nhuận để tồn tại và phát triển.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
I.2.2. Rủi ro trong hoạt động tín dụng.
I.2.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động thờng xuyên và chủ yếu của ngân hàng. Do
đó rủi ro tín dụng cũng là rủi ro thờng gặp nhất trong hoạt động ngân hàng. Có
nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm rủi ro tín dụng:
+ Rủi ro tín dụng là quá trình hàm chứa nguy cơ vốn và lãi không đợc hoàn
trả đúng hạn.
+ Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có khi cấp tín dụng cho một
khách hàng.
Nh vậy, ngay từ khi cấp tín dụng cho khách hàng, khoản tín dụng đó đã có rủi
ro. Chỉ có điều, đó mới chỉ là rủi ro tiềm năng. Còn khi phát sinh việc vốn và lãi
không đợc trả đúng hạn thì khi đó rủi ro đã xảy ra, đã trở thành hiện thực. Từ đó ta
có thể đi đến khái niệm rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng đợc hiểu là khả năng xẩy ra những thiệt hại do khách
hàng không thực hiện đợc nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ, hoặc không thực hiện
nghĩa vụ hoàn trả đúng hạn hay cả hai, các khoản tiền đã vay cùng với số tiền
lãi theo quy định trong HĐTD
Khái niệm trên chỉ đúng khi xét một dự án riêng lẻ. Nhng nếu xét trong mối
quan hệ với các dự án khác thì rủi ro tín dụng không chỉ là thiệt hại về vốn và lãi
của khoản vay mà còn là thiệt hại mang tính chi phí cơ hội. Thậm chí ngay cả khi
khách hàng hoàn toàn có khả năng trả nợ cho ngân hàng thì rủi ro tín dụng vẫn có
thể xảy ra. Đó là rủi ro về việc ngân hàng mất cơ hội sử dụng vốn vào những dự án
có khả năng sinh lời lớn hơn. Tức là hoạt động tín dụng đã hàm chứa một thiệt hại
mang tính so sánh. Bên cạnh chi phí cơ hội, rủi ro tín dụng còn là rủi ro về thời gian
của tiền. Ngay cả khi vốn và lãi đợc trả đúng hạn thì rủi ro vẫn xẩy ra vì dới tác
động của lạm phát và sự biến động của lãi suất trên thị trờng khiến đồng vốn mà
ngân hàng thu về kém về giá trị hơn so với ban đầu.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
I.2.2.2. Bản chất của rủi ro tín dụng.
Trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể
tránh khỏi, là khách quan và ngân hàng không thể loại bỏ hoàn toàn đợc rủi ro
mà chỉ có thể hạn chế đợc nó.
Thực vậy, ta thấy rằng tín dụng là quan hệ vay mợn dới dạng tiền tệ có hoàn
trả gốc và lãi, giữa ngời có vốn và ngời thiếu vốn. Quan hệ này là quan hệ kinh tế
bình đẳng giữa ngời cho vay và ngời đi vay, là sự cam kết thoả thuận bằng các điều
khoản của HĐTD, nhng tình trạng vi phạm cam kết đó xẩy ra khá phổ biến, kể cả
trong trờng hợp ngời vay có năng lực tài chính để thực hiện các điều khoản cam
kết đó. Thậm chí ngay cả trờng hợp có đảm bảo nợ vay nh thế chấp, cầm cố tình
trạng rủi ro tín dụng vẫn xẩy ra, do tài sản dùng làm đảm bảo nợ vay rủi ro về giá
trị vì những biến động về thời gian và thị trờng. Điều đó có nghĩa là, một khi còn
có hoạt động ngân hàng thì còn có rủi ro trong hoạt động tín dụng. Hay rủi ro tín
dụng là hệ quả, là không thể tránh khỏi. Nhiều quan điểm nhất trí cho rằng, rủi ro
tín dụng là bạn đờng của trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế chứ không
thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn đợc xác định trớc trong chiến lợc hoạt
động chung của ngân hàng.
I.2.2.3.Phân loại rủi ro tín dụng
Trên thực tế, rủi ro tín dụng cũng rất phức tạp và đa dạng nh chính hoạt động
tín dụng vốn đã đa dạng, phức tạp. Cũng có nhiều cách phân loại nhng ở đây ta chỉ
nghiên cứu hai cách phân loại cơ bản.
Trên phơng diện quản lý, rủi ro đợc chia làm 2 loại: rủi ro tín dụng có thể
kiểm soát đợc và rủi ro tín dụng không thể kiểm soát đợc.
+ Rủi ro tín dụng có thể kiểm soát đợc (hay còn gọi là rủi ro khả kháng) là
loại rủi ro tín dụng mà ngân hàng có thể phần nào dự đoán đợc chủ thể gây ra rủi
ro đó, ớc tính đợc mức độ ảnh hởng, dự kiến đợc thời gian chúng phát sinh mà từ
đó có những biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế ở mức thấp nhất có thể.
Những rủi ro tín dụng thuộc loại này thờng do chủ quan con ngời gây ra, cụ thể có
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
thể là do khách hàng hoặc chính bản thân ngân hàng gây cho mình. Tuy nhiên,
khách hàng thờng chủ yếu gây ra loại rủi ro này.
+ Rủi ro không thể kiểm soát đợc (rủi ro bất khả kháng) là loại rủi ro tín dụng
mà các ngân hàng không thể dự đoán, không thể biết chúng sẽ xẩy ra vào thời
điểm nào, cũng không thể tính toán đợc một cách chính xác nhất những ảnh hởng
mà chúng gây ra. Những rủi ro tín dụng này thờng không do con ngời gây ra mà
chủ yếu la do những bất lợi về yếu tố tự nhiên gây ra nh hạn hán, lũ lụt, mất mùa,
hoả hoạn Các NHTM thờng phải tập trung vào ngăn chặn những những rủi ro có
thể kiểm soát đợc, còn những rủi ro không thể kiểm soát đợc thì chỉ có cách là chống
đỡ.
Ngoài cách phân loại trên thì dựa vào tính chất của rủi ro tín dụng mà ta có
thể chia ra làm 2 loại: rủi ro sai hẹn và rủi ro mất vốn.
+ Rủi ro sai hẹn là rủi ro tín dụng xẩy ra khi ngời cho vay vốn ngân hàng
không hoàn trả đủ gốc, lãi hoặc cả gốc và lãi tiền vay đúng hẹn đã cam kết trong
HĐTD.
+ Rủi ro mất vốn là rủi ro tín dụng xẩy ra khi ngời vay vốn ngân hàng không
hoàn trả gốc tiền vay một cách đầy đủ.
Dù với cách phân loại nào đi nữa thì rủi ro tín dụng luôn mang lại cho ngân
hàng nhiều hậu quả xấu. Để hạn chế rủi ro tín dụng cần phải có biện pháp để quản
lý đợc rủi ro tín dụng, khống chế nó ở một tỷ lệ hợp lý. Đó không phải là một vấn
đề đơn giản dễ thực hiện. Để thực hiện đợc vấn đề này, chúng ta cần xem xét, tìm
hiểu rủi ro tín dụng trên các khía cạnh trình bầy dới đây.
I.2.2.4. Các hình thức biểu hiện của rủi ro tín dụng.
a) Nợ có vấn đề: phản ánh rủi ro tiềm năng.
Khi ngân hàng cho khách hàng vay, quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp
gặp nhiều khó khăn, có thể do nhiều nguyên nhân (thiên tai hoặc địch hoạ, hàng
hoá không tiêu thụ đợc) đã ảnh hởng xấu đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp
nhng khoản nợ đó cha đến hạn. Các khoản nợ này sẽ đợc xếp vào nợ có vấn đề.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét