Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Agriviet.com

Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 4
- Nhóm ra hoa phía trên như: Cymbidium, Dendrobium, Oncidium…
- Nhóm ra hoa ở đỉnh: Cattleya, Laelia, Epidendrum…
Ngoài ra còn có một số giống mang tính chất trung gian như:
Centropetatum, Phachyphllum, Dichaea…

Hình 2.1: Cấu tạo cơ quan sinh sản.
a. Cấu tạo hoa chi tiết.
b. Quả lan chín.


Hình 2.2: Một số giống hoa đẹp của họ Orchidaceae.

Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 5
II. Giới thiệu về Dendrobium.
2.1 Nguồn gốc và sự phân bố:
Giống lan này được đặt tên vào năm 1799. Chữ Dendrobium có nguồn gốc của
chữ Hy Lạp. Dendro có nghóa là cây gỗ, cây lớn; bio là sống, vì tất cả các loài của
Dendrobium đều là phụ sinh sống bám trên cây gỗ [16].
Dendrobium rất phong phú về chủng loại, nay lớn thứ nhì của họ Lan với
khoảng 1.600 loài phân bố trên các vùng thuộc châu Á nhiệt đới, tập trung nhiều
nhất ở Đông Nam Á và Úc châu [16].
Điều kiện sinh thái của Dendrobium cũng rất đa dạng có nhiều loài chỉ mọc và
ra hoa ở vùng lạnh, có loài ở vùng nóng, có loài ở trung gian, và cũng có loài thích
nghi với bất cứ điều kiện khí hậu nào [11].
2.2 Vò trí phân loại:
Lan Dendrobium thuộc:
- Ngành : Angiospermatophyta
- Lớp : Liliopsida (Monocotyledones)
- Lớp phụ : Liliidae
- Bộ : Orchidales
- Họ : Orchidaceae
- Giống : Dendrobium sp.


Hình 2.3: Tổng quan về lan Dendrobium.
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 6
2.3 Đặc điểm về hình thái.
Dendrobium là loài đa thân với nhiều giả hành, các giả hành thường mang một
thân với nhiều lá mọc xen kẽ, trên thân có rất nhiều mắt ngủ. Căn hành với khoảng
cách giữa các mắt ngắn hơn Cattleya. Hoa có thể mọc từ thân thành từng chùm hay
từng hoa cô độc [11]. Hoa có màu trắng, vàng đến tím. Thường lá đài sau nằm một
mình, 2 lá đài bên dài ra dính lại với nhau ở mép dưới và dính vào đáy của trụ tạo
thành một phần dưới chân của trụ phía dưới gọi là cằm. Môi gắn vào cằm, đôi khi
kéo dài về phía sau tạo thành cựa, móc hay túi. Môi nguyên hay có thùy, gai, sọc
có lông hay không. 2 cánh hoa bên giống như 2 lá đài. Trụ thấp. Phần đực của đỉnh
trụ có nắp đậy, nắp gắn vào trụ nhờ 1 chỉ ngắn về phái sau. 4 khối phấn nhỏ dính
lại với nhau từng cặp, không vó, không gót.
Dendrobium được chia ra làm 2 nhóm theo dạng thân của chúng:
- Dạng thòng hay Nobile là dạng thân mềm thường ở vùng hơi lạnh như
Đà Lạt.
- Dạng đứng hay Phalaenopsis là dạng thân cứng thường sống ở vùng có
khí hậu nóng hơn.
Cả Dendrobium nobile và Dendrobium phalaenopsis đều có chung đặc điểm
trong việc tạo lập các giả hành mới và trong sự biệt hóa chồi sơ khởi ở nách lá dọc
theo giả hành; nhưng chúng lại rất khác biệt trong việc trong việc tạo lập chồi hoa.
- Dendrobium nobile ra hoa từ chồi sơ khởi của giả hành đã trưởng
thành. Như Long tu, Giả hạc chúng chỉ ra hoa với giả hành đã rụng hết
lá.
- Dendrobium phalaenopsis thì hoa mọc ở giả hành cũ lẫn giả hành mới.
giả hành mới, chồi non nhất ở gần ngọn là chồi đầu tiên phát triển
thành vòi hoa.
Hình dạng của Dendrobium cũng rất biến thiên:
- Nhóm có giả hành rất dài và mang lá dọc theo chiều dài của giả hành ấy,
thường rụng hết lá khi ra hoa như Long tu (Dendrobium primulinum), Ý
thảo (Dendrobium gratio sissimum)…
- Nhóm giả hành to ngắn , tận cùng thường có 2-3 lá dai, bền, không rụng.
Phát hoa tập trung ở phần này tạo thành chùm đứng hay thòng như:
Thủy tiên trắng (Dendrobium farmeri), Thủy tiên vàng (Dendrobium
thyrisflorum), Vảy cá (Dendrobium lindleyi)…
- Nhóm cá giả hành rất mảnh mai, dài hay ngắn, có lá dọc theo chiều dài
của chúng, dai bền không rụng. Hoa thường cô độc ở nách như Hương
duyên (Dendrobium revolutum)…
Ngoài ra còn có một số loài Dendrobium khác cũng thường được trồng:
- Kim điệp (Dendrobium chysotosum var delacuorii): Hoa vàng tươi, môi
vàng dưới trung tâm đậm.
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 7
- Nhất điểm hồng (Dendrobium dracoins): Hoa trắng bóng như sáp với
môi sọc đỏ ở đáy.
- Thạch hộc (Dendrobium crumenatum): Hoa trắng, môi có bớt vàng, thơm
nhưng mau tàn, ít hoa nhưng nở rộ cùng lúc.
- Giả hạc (Dendrobium anosmum, Dendrobium superbum): Hoa màu
hường, có hai bớt đậm màu trắng hay tuyền. Rất thơm [16].
2.4 Các điều kiện cơ bản để nuôi trồng lan Dendrobium sp.:
2.4.1 Nhiệt độ.
Nhiệt độ tác động ở cây lan qua con đường quang tổng hợp, cường độ quang
hợp gia tăng theo nhiệt độ, thường nhiệt độ tăng 10% thì tốc độ quang hợp tăng lên
gấp đôi. Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến sự ra hoa ở một số loài lan như lan Bạch câu
Dendrobium crumenatum đòi hỏi giảm nhiệt độ khoảng 5-6
0
C trong vài giây thì 9
ngày sau chúng sẽ nở hoa đồng loạt. 18,5
0
Dendrobium nobile chỉ tăng trưởng mà
không ra hoa nhưng chúng sẽ ra hoa khi nhiệt độ hạ xuống 13
0
C hay thấp hơn [16].
Căn cứ vào nhu cầu nhiệt độ, có thể tạm chia Dendrobium thành hai nhóm
chính:
- Nhóm ưa lạnh sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ lý tưởng là 15
0
C,
gồm các giống được lấy từ các vùng cao nguyên ở độ cao trên 1.000m.
các loài này nếu được trồng ở nhiệt độ cao hơn hoặc bằng 25
0
C, thì cây
vẫn sống, thì cây vẫn sống nhưng hiếm khi ra hoa.
- Nhóm ưa nóng, nhiệt độ thích hợp cho các loài của nhóm này là 25
0
C,
gồm đa số các giống Dendrobium ở vùng nhiệt đới, và các loài của giống
Dendrobium lai hiện đang trồng tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh
phía Nam…
- Ngoài ra, còn có một nhóm Dendrobium trung gian có thể sống ở cả
vùng lạnh và vùng nóng, nhưng ở vùng lạnh cây sinh trưởng và ra hoa
nhiều hơn như Dendrobium primulinum, Dendrobium farmeri nhiệt độ lý
tưởng của các loài này là 20
0
C [11].
2.4.2 m độ.
Các cây lan, nhất là phong lan, sống bám trên các cây cao, chúng lấy nước từ
các trận mưa, từ hơi nước trong không khí. Chính ẩm độ quyết đònh sự hiện diện
của các loài phong lan [16].
Thông thường ẩm độ tương đối tối thiểu 70% thích hợp cho sự tăng trưởng của
nhiều loài. Tuy nhiên ẩm độ lý tưởng vẫn là ẩm độ của vùng bản xứ mà loài lan đó
được tìm thấy.
Dendrobium cũng như đa số các giống lan khác chỉ phát triển tốt trong không
khí ẩm và thoáng. m độ tương đối cần thiết là 40-70%. Cấu tạo giá thể quá ẩm và
úng thì bộ rễ sẽ bò thối và biểu hiện là cây con keiki mọc ra từ phần ngọn của thân
[11].
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 8
2.4.3 nh sáng.
nh sáng là điều kiện cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây lan
thông qua quá trình quang hợp. Đây là yếu tố quyết đònh sự trổ hoa của lan [16].
Dendrobium là giống ưa sáng, có thể trồng trong điều kiện ánh sáng trực tiếp
hay khuếch tán. nh sáng hữu hiệu cho giống Dendrobium là 70%.
Nếu thừa ánh sáng, cây sẽ bò vàng lá, giả hành bò teo lại, cây xấu đi nhưng cây
sẽ thích nghi dần, vẫn ra hoa nhiều và đẹp. Nếu thiếu ánh sáng, cây sẽ bò thoái
hóa rõ rệt, cây èo uột và số lượng hoa sẽ ít đi [11].
2.4.4 Nhu cầu phân bón.
Dendrobium thân đứng đòi hỏi dinh dưỡng cao, chúng cần rất nhiều phân bón
và có thể dùng nhiều dạng phân bón khác nhau. Còn các loại Dendrobium thân
thòng hấp thu phân chậm nên phải dùng nồng độ thật loãng.
Các loại phân hữu cơ như: phân heo, bánh dầu khô, phân tôm cá, phân trâu bò
khô… có thể dùng rất tốt bằng cách pha loãng với nước rồi tưới, hoặc vò chặt từng
viên đặt trên bề mặt giá thể, rễ lan sẽ hấp thụ dần dần các dưỡng chất được phóng
thích qua quá trình tưới nước.
Các loại phân vô cơ được dùng thường có công thức 30-10-10 dùng 3 lần/tuần
với nồng độ 1 muỗng cà phê/4lít. Trong suốt mùa tăng trưởng, ta bón phân 10-20-
30 làm 2 lần/tuần để tạo một sức chòu đựng cho cây trước khi bước vào mùa nghỉ.
Trong mùa tăng trưởng nếu cây có nụ hoa, ta thay phân 30-10-10 bằng phân 10-20-
20 với chu kỳ bón như trên cho đến khi hoa tàn.
Trong mùa nghỉ hoàn toàn không bón phân cho Dendrobium, hay đúng hơn
giảm và không bón phân cho Dendrobium khi cây hoàn tất thời kì tăng trưởng hằng
năm của nó.
Không nên dùng các loại phân riêng rẽ, thường phân bón được dùng ở dạng hỗn
hợp và bổ sung thêm các chất phụ gia là các sinh tố và các nguyên tố vi lượng.
2.4.5 Sâu bệnh và các vấn đề khác.
Vì lan Dendrobium cần được bón nhiều loại phân hữu cơ khác nhau và môi
trường sơ dừa sẽ mục nát sau một thời gian ngắn được trồng. Đây là 2 nguyên nhân
gây ra nhiều sâu bệnh hại.
Một loại rệp dính màu vàng, kích thước rất bé thường xuất hiện trên bề mặt lá.
Loại này gây tác hại trên cây qua việc hút nhựa.
Đối với các loài côn trùng cắn phá Dendrobium thì loại trừ chúng tương đối dễ
dàng bằng Serpa, Bassa, nồng độ 1/500.
Mặc dù Dendrobium là cây kháng bệnh rất mạnh, tuy nhiên cây vẫn bò nấm và
virus tấn công nếu điều kiện vệ sinh quá kém. Nguy hiểm nhất là bệnh khô thân
gần gốc giả hành do một loài virus thâm nhập làm cho các giả hành bò khô và chết.
Có thể ngừa bệnh bằng cách nửa tháng xòt Topsil, Zineb, Benomyl với nồng độ
1/400 [11].
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 9


Hình 2.4: Một số dạng hoa đẹp của giống Dendrobium.



Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 10
III. Các phương pháp nhân giống.
3.1 Nhân giống ngoài thiên nhiên.
3.1.1 Nhân giống vô tính.
a. Tách bụi: đây là phương pháp đã được các nghệ nhân sử dụng đối
với các giống lan đa thân như Cattleya, Dendrobium, Cymbidium,
Paphiopelium…ở Cattleya, Dendrobium, và những giống tương tự: ở
mỗi gốc của giả hành thường có ít nhất một mắt ngủ nên có thể tách
mỗi hành giả thành một đơn vò để trồng.
b. Chiết cành: ở Dendrobium thường tạo ra cây con trên giả hành
(Keiki) một cách tự nhiên. Khi các cây con này khá mạnh, có rễ tốt,
có thể tách ra khỏi giả hành để trồng.
3.1.2 Nhân giống hữu tính.
a. Sự thụ phấn: Trong thiên nhiên sự thụ phấn ở lan do côn trùng thực
hiện. Cấu trúc của hoa lan là hoàn toàn để thích ứng cho sự thụ phấn
ấy.
Có hai phương pháp thụ phấn:
- Sự tự thụ phấn: Khi phấn hoa của bông hoa này được rơi vào
nuốm của chính hoa ấy. Điều này hiếm khi xảy ra trong tự
nhiên ở hoa lan vì cấu trúc của bộ phận sinh dục đực và cái ở
hoa lan.
- Sự thụ phấn chéo: Khi phấn hoa ở hoa này được để vào nuốm
của hoa khác của cùng cây hay cùng loài (thường xảy ra trong
thiên nhiên do côn trùng thực hiện), hoặc khác loài, khác giống
(thường do con người thực hiện).
b. Quả lan: Nếu sự thụ phấn có kết quả, thì có thể ngay trong ngày hay
sang ngày hôm sau, các phiến hoa xụ lại nhưng không rụng. Và để
trành sự thụ phấn khác do côn trùng người ta dùng bao nilong trùm
hoa lại, nhưng không buộc kín miệng vì hầm hơi sẽ làm hư trái.
Sau khi thụ phấn, bầu noãn từ từ trương phù to ra thành trái. Mỗi trái
có thể chứa hàng ngàn hay đến cả triệu hột. Khi tr từ màu xanh lục
chuyển sang màu vàng lục thì nên hái trái.
c. Gieo hạt:
Trong thiên nhiên muốn hạt lan nẩy mầm thì hạt lan phải được
nhiễm một loại nấm kí sinh. Người ta đã khám phá ra một số loài
nấm giúp nẩy mầm ở hạt lan, mỗi loài chỉ giúp nẩy mầm một số
giống lan mà thôi.
- Rhizoctonia repens giúp nảy mầm ở Cattleya, Laelia,
Angraecum, Cypripedium (Paphiopedilum).
Download» http://Agriviet.Com
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 11
- Rhizoctonia mucoroides giúp nẩy mầm ở Vanda, Phalaenopsis.
- Rhizoctonia lanugiosa giúp cho hột nẩy mầm ở Oncidium,
Odontoglossum và Miltonoa [16].
3.2 Nhân giống trong phòng thí nghiệm.
Trong phòng thí nghiệm lan Dendrobium được chúng tôi nhân giống bằng
phương pháp gieo hạt in-vitro. Trong thiên nhiên, vì hột lan quá nhỏ, không chứa
chất dự trữ và chỉ có một phôi chưa phân hóa, nên không thể phát triển theo một
phương cách bình thường được và vì vậy mà việc cho hột lan nẩy mầm và phát
triển thành cây lan trưởng thành là vấn đề khó khăn. Người trồng lan đã tìm nhiều
cách gieo hạt nhưng không thành công. Năm 1922, Knudson ở Mỹ, thành công
trong việc thay thế nấm bằng đường ở môi trường thạch để gieo hạt [16]. Phương
pháp này có nhiều ưu điểm như:
- Kết hợp với kỹ thuật lai giống tạo ra nhiều giống lan mới
cung cấp cho thò trường.
- Giúp bảo tồn các loài lan quý, và nhân nhanh số lượng giúp
cho công tác bảo tồn.
IV. Sơ lược về kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật.
Nhân giống in vitro hay nuôi cấy mô đều là thuật ngữ mô tả các phương thức
nuôi cấy các bộ phận thực vật trong ống nghiệm có chứa môi trường xác đònh ở
điều kiện vô trùng [5]. Kỹ thuật in vitro dựa trên nguyên lý là tế bào thực vật có
tính toàn thể, nghóa là từ một mô, một cơ quan hoặc một tế bào của bất kỳ bộ phận
nào của cây đều có thể phát triển thành một cây hoàn chỉnh nếu được nuôi trong
môi trường thích hợp [6].
4.1 Điều kiện nuôi cấy tế bào thực vật.
a. Yêu cầu cơ bản nhất của phòng nuôi cấy mô là phải đảm bảo vô
trùng. Khái niệm vô trùng này bao gồm vô trùng môi trường nuôi cấy
và cả sự bảo đảm sao cho mẫu nuôi cấy được hoàn toàn vô trùng.
b. Các yêu cầu cơ bản của kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật:
- Khi thiết lập phòng nuôi cấy mô thực vật phải đảm bảo được
tính liên tục thuận lợi cho các thao tác, các giai đoạn trong
suốt quá trình nuôi cấy mô.
- Đảm bảo được vệ sinh (tính vô trùng) của sản phẩm cuối
cùng.
- Chuẩn bò môi trường đúng cách, chọn đúng môi trường cho
từng loại thực vật và từng giai đoạn nuôi cấy.
- Chọn và xử lý mô thích hợp trước khi cấy [7].
Download» http://Agriviet.Com
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 12
c. Các thành phần cơ bản của môi trường nuôi cấy bao gồm: nước,
muối khoáng (đa lượng và vi lượng), nguồn cacbon, vitamin, chất
điều hòa sinh trưởng, agar (đối với môi trường rắn) [14].
- Nước: nước dùng trong môi trường nuôi cấy là nước cất, hoặc
nước khử ion, tốt nhất là nước cất hai lần từ các máy cất nước
hoàn toàn bằng thủy tinh.
- Đường: tạo nguồn cacbon giúp mô tổng hợp nên cacbohydrat
cho cây mà không phải do quanh hợp của mô cây tạo nên;
đường sử dụng phổ biến là saccarose (1-6%
w
/
v
), glucose (2%

w
/
v
).
- Các muối khoáng đa lượng: nuôi cấy mô thực vật đòi hỏi một
lượng nhất đònh các nguyên tố đa lượng như N, P, K, Ca, Mg,
S, Fe, …
- Các muối khoáng vi lượng có vai trò quan trọng trong đời
sống thực vật. Chúng tham gia vào các quá trình sinh hóa
trong tế bào, tham gia vào trung tâm hoạt tính của enzyme và
vitamin, tăng tính chống chòu của thực vật với các điều kiện
môi trường bất lợi. Các vi lượng thông dụng là Mn, B, Zn, Cu,
Co, I, nồng độ sử dụng trong môi trường rất thấp.
- Vitamins: chủ yếu myo-inositol, acid nicotinic, puridoxin HCl
(B
6
), thiamin HCl (B
1
)…Các vitamin dễ bò hỏng do nhiễm tạo
nên cần giữ ở t
0
< 0
0
C [9].
- Chất điều hòa tăng trưởng: tùy theo từng mục đích nuôi cấy
có thể chọn các nồng độ và tổ hợp các nồng độ và tổ hợp các
chất điêu hòa sinh trưởng phù hợp. Các chất điều hòa sinh
trưởng thường dùng là IAA, NAA, 2,4D, Kinetin, BAP,
IBA…[14]
- Agar(đối với môi trường đặc): là một polisacarit làm từ rong
biển. Agar tan ở 100
0
C và khi nguội sẽ đông đặc lại. Hàm
lượng sử dụng từ 8-10g/l tùy hãng chế tạo[10].
d. Nhiệt độ, ánh sáng và pH ảnh hưởng đến quá trình cấy:
- Nhiệt độ: nhiệt độ của phòng nuôi cấy thường được điều
chỉnh ổn đònh từ 22-25
0
C. ở mỗi tế bào thực vật khác nhau thì
nhiệt độ nuôi cấy cũng khác nhau [5].
- nh sáng: có ảnh hưởng đến quá trình phát sinh hình thái cây
nuôi cấy. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: cường độ, chu kỳ,
thành phần quang phổ ánh sáng. Cường độ ánh sáng từ: 1000-
2500 lux được dùng phổ biến cho nuôi cấy nhiều loại mô [5].
- pH: là một yếu tố quan trọng. Sự ổn đònh pH môi trường là
yếu tố duy trì trao đổi các chất trong tế bào. Để điều chỉnh
Download» http://Agriviet.Com
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 13
pH môi trường có thể dùng dung dòch 10% hoặc 1N NaOH
hoặc 1N HCl [14].
4.2 Kỹ thuật gieo hạt trong ống nghiệm.
a. Đặc điểm của hạt lan.
Không giống những loại hạt khác, hạt lan rất nhỏ, như hạt bụi và
không chứa nguồn dự trữ thức ăn. Trong tự nhiên, hạt có thể nẩy
mầm nhưng sẽ không phát triển nếu không có sự tác động của nấm
mycorrhizal [22]. Loại nấm này tiêu hóa các vật chất hữu cơ trên cây
chủ hoặc trong đất, chuyển hóa thành các đường đơn giản giúp hạt
lan nẩy mầm và giúp phôi phát triển [23]. Khi hạt lan đã nẩy mầm,
nó sẽ tạo ra một lượng lớn các tế bào không phân hóa được gọi là
protocorm. Nếu tất cả đều tốt, protocorm sẽ tiếp tục trong vài tuần,
vài tháng, thậm chí cả năm tùy loài, cho đến khi đủ lớn để tạo thân
và rễ. các loài lan đất, duy trì mối quan hệ cộng sinh này rất quan
trọng trong suốt giai đoạn đầu tiên của cây, vì protocorm nằm dưới
đất nên không thể tự tổng hợp thức ăn. các loài lan phụ sinh,
protocorm thường xanh, và vì thế nó có thể tự tổng hợp được một ít
thức ăn [22].
b. Khử trùng trái lan.
Việc khử rùng trái lan có thể thực hiện theo hai phương pháp:
- Quả lan sau khi mổ ra, hạt thu được trước khi đem gieo cần
tuyển chọn các hạt chắc, các hạt lép không thụ tinh cần phải
loại bỏ đi bằng cách đem ly tâm trong nước cất; các hạt lan
tốt sẽ lắng phía dưới ống nghiệm, hạt lép nổi lên trên, được
gạn bỏ đi. Các hạt tốt được tiếp tục khử trùng bằng
Hypochlorite de calcium 10%.
Sau đấy, cho hạt lan và nước khử trùng vào ống nghiệm, vừa
đủ phủ kín hạt lan, lắc mạnh, đều và để yên trong vòng 10
phút, sau đó đổ nước khử trùng ra bằng ống hút, và tiếp tục
rửa hạt lan 3 lần bằng nước cất vô trùng. Cuối cùng hạt lan đã
khử trùng sẽ được gieo vào các bình chứa môi trường.
- Khi quả lan đã được cắt trên cây, mang vào phòng thí nghiệm,
cần để nơi sạch sẽ, thoáng mát. Nếu chưa gieo hạt ngay thì có
thể giữ quả trong tủ lạnh, trong vòng 3-4 ngày.
Khi gieo hạt, trước tiên quả lan cần cắt bỏ các cuống dài,
đuôi còn sót lại các lá đài, cánh hoa…Dùng bông gòn có tẩm
alcol 70
0
để lau toàn bộ mặt ngoài của quả.
Một khi vào tủ cấy vô trùng, quả lan sẽ được:
- Nhúng vào alcol 90-96
0
, trong 1 phút, hơ nhanh qua ngọn lửa.
- Nhúng vào Hypochlorite de calcium 10%, trong 10 phút, rửa
lại 3 lần bằng nước cất vô trùng.
Download» http://Agriviet.Com

Xem chi tiết: Agriviet.com


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét