mục lục
Trang
mở đầu 2
Chơng 1: một số vấn đề lý luận chung về hợp tác
quốc tế trong tố tụng hình sự
6
1.1. Khái niệm hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự và ý nghĩa
của việc ghi nhận chế định hợp tác quốc tế trong luật tố
tụng hình sự Việt Nam
7
1.2. Lợc khảo lịch sử hình thành và phát triển những quy định
về hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình sự Việt Nam trớc
khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ra đời
8
1.3. Những quy định về hợp tác quốc tế trong pháp luật tố
tụng hình sự một số nớc trên thế giới
10
Chơng 2: những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự hiện hành về hợp tác quốc tế và
thực tiễn áp dụng
11
2.1 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành
về hợp tác quốc tế
11
2.2. Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở Việt Nam
12
Chơng 3: các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp
dụng những quy định của pháp luật tố
tụng hình sự về hợp tác quốc tế
15
3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả việc áp dụng những
quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế
15
3.2. Những quan điểm của Đảng và Nhà nớc cần quá triệt
trong việc nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định
của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế
17
3.3. Cách giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy
định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế
trong thời gian tới ở nớc ta
17
kết luận 22
mở đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện Việt Nam đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế
và khu vực từ những năm 90 đến nay, bên cạnh những mặt tích cực, tình
hình tội phạm có tính quốc tế (hay còn gọi là tội phạm xuyên quốc gia,
tội phạm có yếu tố nớc ngoài) diễn biến phức tạp. Tình trạng ngời Việt
Nam phạm tội ở nớc ngoài, ngời nớc ngoài phạm tội ở Việt Nam, ngời
Việt Nam phạm tội ở trong nớc bỏ trốn ra nớc ngoài, ngời nớc ngoài
phạm tội ở nớc ngoài trốn sang Việt Nam, các băng nhóm tội phạm ở
trong nớc cấu kết với các tổ chức tội phạm nớc ngoài mua bán phụ nữ, trẻ
em, làm hộ chiếu giả, làm, tàng trữ, vận chuyển, lu hành tiền giả, các giấy
tờ có giá giả khác, buôn lậu vũ khí, sản xuất, buôn bán hàng giả, sản
xuất, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy có xu hớng gia tăng cả
về mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội. Tình hình này không những
xâm hại tính mạng, sức khỏe của ngời dân, lợi ích hợp pháp của Nhà nớc,
tổ chức, làm thiệt hại đến nền kinh tế đất nớc, mà còn thực sự đe dọa phá
vỡ chính sách kinh tế - xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với sự
lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nớc, gây ra những hậu quả
nặng nề về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Thậm chí tình hình tội
phạm có tính quốc tế còn tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tình báo
nớc ngoài lợi dụng tiến hành các hoạt động mua chuộc, thu thập tình báo,
phá hoại sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Để đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính quốc tế đạt hiệu quả
cao, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này trở thành vấn đề mang tính tất
yếu, phù hợp với xu thế chung của thời đại. Đáp ứng yêu cầu này, Bộ luật
tố tụng hình sự (sửa đổi) đợc Quốc hội nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XI, thông qua tại kỳ họp thứ t, ngày 26-11-2003, đã dành
riêng Phần thứ tám quy định về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự. Tuy
nhiên, thực tiễn thi hành hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự cũng đã đặt
1 2
ra nhiều vấn đề vớng mắc đòi hỏi khoa học luật tố tụng hình sự phải
nghiên cứu giải quyết nh dẫn độ ngời phạm tội để truy cứu trách nhiệm
hình sự hoặc thi hành án, từ chối dẫn độ ngời phạm tội, việc chuyển giao
hồ sơ, tài liệu, vật chứng của vụ án Trong khi đó, xét về mặt lý luận,
chế định hợp tác quốc tế cha đợc tập trung nghiên cứu một cách thỏa
đáng, và xung quanh chế định này, còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí
trái ngợc nhau.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Chế định hợp tác quốc tế trong luật
tố tụng hình sự Việt Nam" mang tính cấp thiết, không những về lý luận,
mà còn là đòi hỏi thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong
tố tụng hình sự ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là vấn đề quan trọng và nhạy
cảm, đã đợc một số nhà luật học, cơ quan ở trong và ngoài nớc quan tâm
nghiên cứu. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ T pháp có đề tài
nghiên cứu khoa học cấp bộ: "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng pháp
lệnh tơng trợ t pháp quốc tế" (Bộ T pháp, Hà Nội, 2000); Tổng cục Cảnh
sát, Bộ Công an có đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: "Dẫn độ tội phạm
và tơng trợ t pháp hình sự trong phòng chống tội phạm ở Việt Nam - thực
trạng và giải pháp" (Bộ Công an, Hà Nội, 2000); Bùi Anh Dũng - Học
viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an có luận văn thạc sĩ luật học: "Quan
hệ phối hợp giữa lực lợng Cảnh sát nhân dân Việt Nam với Cảnh sát nớc
ngoài trong đấu tranh phòng, chống tội phạm" (Học viện Cảnh sát nhân
dân, Hà Nội, 2000)
Các công trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về
hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, tơng trợ t pháp
hình sự, nhng cha có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có
hệ thống về chế định hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình sự, cũng nh
thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận
văn
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn hợp tác quốc
tế trong tố tụng hình sự, đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả
việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác
quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt đợc mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các
nhiệm vụ sau:
1) Làm sáng tỏ khái niệm hợp tác quốc tế, các hình thức hợp tác
quốc tế trong tố tụng hình sự.
2) Phân tích, làm rõ sự hình thành và phát triển các quy định của
pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế ở Việt Nam.
3) Nghiên cứu, làm rõ các quy định của pháp luật về hợp tác quốc tế
của một số nớc trên thế giới.
4) Làm sáng tỏ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành
về hợp tác quốc tế và thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở nớc
ta.
5) Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế.
Đối tợng nghiên cứu của luận văn
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về hợp tác
quốc tế, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về hợp tác
quốc tế và thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự của Việt Nam
với các nớc trong khu vực và trên thế giới.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu đề tài này dới góc độ luật tố tụng hình sự.
1 2
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng
Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì
dân, về chính sách hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
của Đảng và Nhà nớc ta.
Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết
của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nớc về hợp tác quốc tế trong
đấu tranh phòng, chống tội phạm. Cơ sở thực tiễn của luận văn là các báo
cáo tổng kết, số liệu về hợp tác quốc tế của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Cơ sở phơng pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong khi thực hiện đề tài, các phơng pháp
hệ thống, phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgíc, thống kê, so sánh pháp luật,
xã hội học đã đợc sử dụng để hoàn thành các nhiệm vụ mà tác giả luận
văn đã đặt ra.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt
Nam ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách tơng đối
toàn diện và tơng đối có hệ thống về chế định hợp tác quốc tế trong luật
tố tụng hình sự Việt Nam. Có thể xem những nội dung sau đây là những
đóng góp mới của luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hợp tác quốc tế trong tố tụng
hình sự.
- Phân tích làm rõ thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng hình
sự hiện hành về hợp tác quốc tế và thực tiễn áp dụng ở nớc ta.
- Nghiên cứu, so sánh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự của
nớc ta về hợp tác quốc tế với những quy định tơng ứng trong pháp luật tố
tụng hình sự của một số nớc trên thế giới để rút ra những giá trị hợp lý về
hoạt động lập pháp tố tụng hình sự.
- Đề xuất phơng hớng nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những giải pháp đợc đề xuất trong luận văn có
ý nghĩa quan trọng đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói
chung, hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự nói riêng. Thông qua hệ
thống các giải pháp, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình
vào sự phát triển của kho tàng lý luận pháp lý tố tụng hình sự và tổng kết,
nghiên cứu thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở Việt Nam.
Đồng thời, tác giả hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ luận cứ khoa học cho
việc đổi mới tổ chức, bộ máy, bố trí cán bộ trong các cơ quan t pháp hình
sự, góp phần vào công cuộc cải cách t pháp ở nớc ta hiện nay.
Luận văn có thể đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác
nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật tố tụng
hình sự nói riêng, cũng nh trong đào tạo, bồi dỡng cán bộ chuyên trách về
hợp tác quốc tế thuộc các ngành T pháp, Tòa án, Viện Kiểm sát, Công an.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chơng, 8 mục.
nội dung cơ bản của luận văn
Chơng 1
Một số vấn đề lý luận chung
về Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Trong chơng này, tác giả tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
chung về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, ý nghĩa của việc ghi nhận
chế định hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, lợc khảo
lịch sử hình thành và phát triển những quy định về hợp tác quốc tế trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam trớc khi Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam
1 2
năm 2003 ra đời, những quy định về hợp tác quốc tế trong pháp luật tố
tụng hình sự một số nớc trên thế giới.
1.1. Khái niệm hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự và ý nghĩa
của việc ghi nhận chế định hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình sự
Việt Nam
1.1.1. Khái niệm hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Tác giả đã phân tích làm sáng tỏ khái niệm hợp tác quốc tế trong tố
tụng hình sự và đa ra định nghĩa khoa học của khái niệm này: Hợp tác
quốc tế trong tố tụng hình sự có thể đợc hiểu là sự trợ giúp qua lại lẫn
nhau giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ngời có thẩm
quyền tiến hành tố tụng của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với
các cơ quan có thẩm quyền, ngời có thẩm quyền tơng ứng của nớc ngoài đ-
ợc thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình
đẳng cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp của nớc Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế. Trên
cơ sở khái niệm này, tác giả đã ra rút ra những đặc điểm của hợp tác quốc
tế trong tố tụng hình sự nh sau:
Thứ nhất, chủ thể của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là các cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền tơng ứng của nớc ngoài.
Thứ hai, việc thực hiện hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự phải bảo
đảm các nguyên tắc hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự.
Thứ ba, mục đích của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nớc, tổ chức và công dân của
các quốc gia trên lãnh thổ của nhau, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm
quốc tế, tội phạm có tính quốc tế, góp phần củng cố và phát triển quan hệ
hữu nghị, hợp tác về nhiều mặt giữa nớc ta và các quốc gia hữu quan.
Thứ t, các hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự rất đa dạng
nh dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự, từ chối dẫn độ; chuyển giao
hồ sơ, vật chứng của vụ án; việc giao nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật,
tiền liên quan đến vụ án.
1.1.2. ý nghĩa của việc ghi nhận chế định hợp tác quốc tế trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả cho rằng, việc ghi nhận chế định hợp tác quốc tế trong tố
tụng hình sự có những ý nghĩa sau đây:
Thứ nhất, tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng
hình sự, nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nớc ta.
Thứ hai, góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nớc, quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
Thứ ba, góp phần thực hiện chủ trơng hội nhập quốc tế và khu vực
của Đảng và Nhà nớc ta.
Thứ t, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.
Việc Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chính thức ghi nhận chế định
hợp tác quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về phơng diện lý luận,
cũng nh phơng diện thực tiễn của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
trong điều kiện tăng cờng, mở rộng hội nhập và hợp tác quốc tế trên các
lĩnh vực hiện nay.
1.2. Lợc khảo lịch sử hình thành và phát triển những quy định về
hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình sự Việt Nam trớc khi Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 ra đời
1.2.1. Những quy định về hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình
sự Việt Nam thời kỳ từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm
1975
Tác giả đã phân tích tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở nớc ta thời kỳ
này. Trong tình hình rất khó khăn, nhng Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng
hòa đã chủ trơng việc thiết lập và phát triển các mối quan hệ chính trị, kinh
tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật với các nớc trên thế giới. Chủ trơng này đã
1 2
đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trong
lĩnh vực pháp lý nói chung và trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, chỉ từ những năm năm mơi trở đi,
khi các nớc xã hội chủ nghĩa nh Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô
viết, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và một số nớc xã hội chủ nghĩa khác
thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam thì việc hợp tác quốc tế về
pháp luật và t pháp mới bắt đầu chính thức đợc thiết lập và thực hiện trên
thực tế. Giữa Việt Nam và các nớc cha ký kết Hiệp định tơng trợ t pháp,
do đó cha hình thành cơ sở pháp lý để điều chỉnh vấn đề hợp tác quốc tế
trong hoạt động tố tụng hình sự.
1.2.2. Những quy định về hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình
sự Việt Nam thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1992
Với Đại thắng mùa Xuân năm 1975, miền Nam đợc hoàn toàn giải
phóng, nớc nhà đợc thống nhất, dới sự lãnh đạo của Đảng, cả nớc bớc vào
thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ này, Nhà nớc ta đã
ký 6 Hiệp định tơng trợ t pháp với các nớc xã hội chủ nghĩa anh em. Vấn
đề hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự đợc quy định trong các
hiệp định trên nh sau:
Một là, về dẫn độ ngời phạm tội.
Các hiệp định đều quy định chi tiết về các nghĩa vụ dẫn độ, các trờng
hợp từ chối dẫn độ, yêu cầu dẫn độ, hoãn dẫn độ, dẫn độ tạm thời, việc chuyển
giao ngời bị yêu cầu dẫn độ và vật chứng, tái dẫn độ, dẫn độ quá cảnh đến n-
ớc thứ ba. Riêng Hiệp định tơng trợ t pháp ký với Hung-ga-ri còn có quy
định về việc chuyển giao ngời bị kết án phạt tù cho nớc ký kết mà họ là công
dân thể thi hành hình phạt sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Thứ hai, về việc tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự. Các hiệp định
đều có quy định cụ thể về nghĩa vụ truy cứu trách nhiệm hình sự, nội
dung yêu cầu tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, về những vấn đề khác thuộc tơng trợ pháp lý về hình sự. Các
hiệp định đều có quy định về những vấn đề khác thuộc tơng trợ pháp lý
về hình sự nh chuyển giao đồ vật liên quan đến vụ án, thông báo các bản
án và án tích, cách thức liên hệ
Nh vậy, trong thời kỳ này, hoạt động tơng trợ t pháp nói chung, tơng
trợ pháp lý về hình sự nói riêng đợc quy định và thực hiện chủ yếu trong
quan hệ với các nớc xã hội chủ nghĩa trên cơ sở ký kết các Hiệp định tơng
trợ t pháp.
1.2.3. Những quy định về hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình
sự Việt Nam thời kỳ từ năm 1992 cho đến trớc khi Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2003 ra đời
Năm 1992, Nhà nớc ta ban hành Hiến pháp mới, tạo cơ sở pháp lý
vững chắc cho việc tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nớc, hội nhập
kinh tế quốc tế và khu vực. Từ sau năm 1992, Nhà nớc ta đã ký kết 9 Hiệp
định tơng trợ t pháp. Việt Nam cũng đã ký kết, phê chuẩn nhiều điều ớc quốc
tế quan trọng khác nh Điều ớc quốc tế về chống khủng bố, 3 Công ớc quốc
tế về kiểm soát ma túy, Công ớc quốc tế về phòng, chống tội phạm xuyên
quốc gia, Công ớc quốc tế về phòng, chống tham nhũng
Nghiên cứu các Hiệp định tơng trợ t pháp nói trên cho thấy:
Thứ nhất, các Hiệp định tơng trợ t pháp đợc ký trong bối cảnh tình
hình quốc tế có nhiều thay đổi cơ bản, đa số các nớc ký kết với ta là
những nớc có nền kinh tế đang chuyển đổi theo cơ chế thị trờng và có chế
độ chính trị, xã hội khác nhau.
Thứ hai, trong số 9 hiệp định trên chỉ có 7 hiệp định đề cập tơng trợ
pháp lý về hình sự, Hiệp định tơng trợ t pháp ký với Liên bang Nga, Cộng
hòa Pháp không đề cập tơng trợ pháp lý về hình sự.
Thứ ba, pháp luật nớc ta và pháp luật các nớc ký Hiệp định tơng trợ t
pháp với ta cũng đã có nhiều thay đổi, nhằm đáp ứng yêu cầu của tình
hình mới.
1 2
1.3. Những quy định về hợp tác quốc tế trong pháp luật tố tụng
hình sự một số nớc trên thế giới
Tác giả đã nghiên cứu những quy định về hợp tác quốc tế trong tố
tụng hình sự của Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Cộng hòa
Hàn Quốc, Vơng quốc Thái Lan và rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự là nhu cầu
mang tính khách quan của các nớc. Tuy nhiên, do tình hình chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội của các nớc khác nhau, cho nên nhận thức và
quan điểm của mỗi nớc về lĩnh vực này cũng khác nhau.
Thứ hai, pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định rất cụ thể thủ
tục phối hợp hoạt động của Tòa án, Kiểm sát viên, Dự thẩm viên và các cơ
quan điều tra ban đầu với các cơ quan và ngời có thẩm quyền tơng ứng của
các quốc gia khác và với các tổ chức quốc tế. Cơ quan, ngời có thẩm quyền
có thể áp dụng những quy định này một cách thống nhất mà không cần văn
bản hớng dẫn nh ở nớc ta và đây có thể coi là một kinh nghiệm lập pháp cần
đợc nghiên cứu, áp dụng cho phù hợp với điều kiện cụ thể của nớc ta.
Thứ ba, những hiệp định mẫu của Liên Hợp quốc về hợp tác quốc tế
trong hoạt động tố tụng hình sự đề cập nhiều vấn đề, lĩnh vực hợp tác.
Đây là những vấn đề mới ta cần nghiên cứu để học tập những kinh
nghiệm lập pháp cần thiết trong lĩnh vực này.
Chơng 2
Những quy định của pháp luật
tố tụng hình sự hiện hành về hợp tác quốc tế
và thực tiễn áp dụng
Trong chơng này, tác giả tập trung nghiên cứu, làm rõ những quy
định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về hợp tác quốc tế và thực
tiễn áp dụng.
2.1. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về
hợp tác quốc tế
2.1.1. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về
các nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Tác giả cho rằng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định các
nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là nhằm xác định những t t-
ởng mang tính chỉ đạo cần quán triệt về mặt nhận thức và hành động trong
quá trình thực hiện, từ đó đã phân tích làm sáng tỏ bốn nguyên tắc hợp tác
quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự: 1) nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc của nhau,
bình đẳng và cùng có lợi; 2) nguyên tắc phù hợp với Hiến pháp và các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế; 3) nguyên tắc phù hợp với các
điều ớc quốc tế mà nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia
nhập và quy định của pháp luật Việt Nam; 4) nguyên tắc có đi có lại.
2.1.2. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về
hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Trên cơ sở nghiên cứu Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và các Hiệp
định tơng trợ t pháp về hình sự, tác giả đã phân tích những quy định của
pháp luật tố tụng hình sự về sáu vấn đề sau:
Thứ nhất, về việc thực hiện tơng trợ t pháp.
Thứ hai, về việc từ chối thực hiện yêu cầu tơng trợ t pháp.
Thứ ba, dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án.
Thứ t, từ chối dẫn độ.
Thứ năm, về việc chuyển giao hồ sơ, chứng cứ của vụ án.
Thứ sáu, về việc giao nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật, tiền liên
quan đến vụ án.
2.2. Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình
sự về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở Việt Nam
Trong điều kiện đất nớc mở cửa, tình hình tội phạm có tính quốc tế
1 2
(hay còn gọi là tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nớc ngoài),
ở nớc ta diễn biến phức tạp vào có chiều hớng gia tăng. Tình trạng ngời Việt
Nam phạm tội ở nớc ngoài, ngời nớc ngoài phạm tội ở Việt Nam, ngời Việt
Nam phạm tội ở trong nớc bỏ trốn ra nớc ngoài, ngời nớc ngoài phạm tội ở
nớc ngoài trốn sang Việt Nam, các băng nhóm tội phạm ở trong nớc cấu kết
với các tổ chức tội phạm nớc ngoài làm, tàng trữ, vận chuyển, lu hành tiền
giả, các giấy tờ có giá giả khác, buôn lậu vũ khí, sản xuất, buôn bán hàng
giả, sản xuất, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, mua bán phụ
nữ, trẻ em, làm hộ chiếu giả có xu hớng gia tăng, gây thiệt hại nghiêm
trọng đến công cuộc đổi mới của nớc ta.
Thời kỳ trớc năm 1992, khi còn tồn tại Liên Xô và các nớc xã hội
chủ nghĩa khác, Việt Nam đã ký sáu Hiệp định tơng trợ t pháp về dân sự và
hình sự với các nớc xã hội chủ nghĩa anh em, hiện nay còn bốn hiệp định
đang có hiệu lực, đó là hiệp định ký với Cộng hòa Cu Ba ngày 30-11-1984;
hiệp định ký với Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc ngày 12-10-1982
(Cộng hòa Séc, Cộng hòa Slovakia đều kế thừa hiệp định này); hiệp định
ký với Cộng hòa nhân dân Hung-ga-ri ngày 18-01-1985; hiệp định ký
Cộng hòa nhân dân Bun-ga-ri ngày 03-10-1986. Các hiệp định nói trên
đều có quy định về hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự.
Việc triển khai các hiệp định nói trên, cũng nh triển khai các quy
định về hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự trong thời kỳ này
hầu nh không có kết quả. Đặc biệt, từ khi ở Liên Xô và các nớc Đông âu
có sự biến động lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thì các nớc này
hầu nh không đề cập thực hiện các hiệp định đã đợc ký kết.
Hiệp định tơng trợ t pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự
giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga cha đợc thực
hiện nghiêm chỉnh. Nhiều trờng hợp không cần có ý kiến của phía Việt
Nam, phía Nga đã trục xuất về Việt Nam số ngời Việt Nam phạm tội trên
lãnh thổ Liên bang Nga trong khi phía Nga hoàn toàn có thể trao đổi,
thực hiện các thủ tục để dẫn độ số ngời này theo quy định tại Chơng II -
Dẫn độ để truy tố hình sự và thi hành án - Hiệp định tơng trợ t pháp và
pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự mà hai nớc đã ký kết.
Về các nớc khác thuộc Đông Âu cũ, tình hình thực hiện các Hiệp
định tơng trợ t pháp mà Nhà nớc ta đã ký kết cũng hết sức khó khăn. Hồ
sơ yêu cầu hợp tác về tố tụng hình sự hoặc hồ sơ trục xuất ngời Việt Nam
phạm tội thờng không đầy đủ, nhất là về phía Cộng hòa Liên bang Đức,
tình hình ngời Việt Nam phạm tội ở nớc này rất phức tạp.
Đối với những quốc gia khác, trong thời kỳ từ 1992 đến năm 2000,
theo số liệu của Tổng cục Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an, Cơ quan Công
an đã phối hợp với Cảnh sát các nớc dẫn độ và tiếp nhận dẫn độ hơn 20
đối tợng, chủ yếu với các nớc, các vùng lãnh thổ trong khu vực và các nớc
có cộng đồng ngời Việt Nam sinh sống đông nh Đài Loan, Hồng Kông,
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Vơng quốc Cămpuchia
Từ năm 2001 đến tháng 6-2006, theo số liệu của Tổng cục Cảnh sát
nhân dân, Bộ Công an, lực lợng Công an nhân dân đã phối hợp xử lý
thông tin liên quan đến khoảng 10.000 đối tợng truy nã quốc tế, đối tợng
khủng bố và nghi khủng bố; đã phát lệnh truy nã 30 đối tợng phạm tội;
phối hợp xử lý, tiếp nhận 74 đối tợng phạm tội đã thi hành án ở nớc
ngoài; phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật nớc ngoài xử lý hàng
vạn lợt thông tin về các loại tội phạm có yếu tố nớc ngoài, góp phần đấu
tranh có hiệu quả với các loại tội phạm có tính quốc tế.
Thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự thời gian qua đã bộc
lộ một số tồn tại, vớng mắc sau:
Thứ nhất, trừ Hiệp định tơng trợ t pháp về dân sự và hình sự và Hiệp
định hợp tác phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma túy đợc ký kết với
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đợc thực hiện tơng đối nghiêm chỉnh còn
các Hiệp định tơng trợ t pháp đã ký với các nớc khác cha đợc thực hiện
nhiều, hiệu quả thấp, cha tơng xứng với tiềm năng và thế mạnh của mỗi bên.
Thứ hai, lực lợng Cảnh sát Việt Nam mới chỉ có sĩ quan liên lạc ở
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Liên bang Nga, Cộng hòa Liên bang Đức
1 2
mà cha có mạng lới sĩ quan liên lạc ở những nớc có đông ngời Việt Nam
sinh sống nh Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Vơng quốc Cămpuchia, Vơng quốc
Thái Lan cho nên gặp nhiều khó khăn trong việc phối hợp với Cảnh sát
của nớc sở tại trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Thứ ba, sự phối hợp, hiệp đồng giữa các cơ quan, đơn vị trong từng
ngành và giữa Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án của nớc ta cha
thật nhịp nhàng, chặt chẽ.
Thứ t, các cơ quan chuyên trách về hợp tác quốc tế của Cơ quan
Công an, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cha đợc thành lập hoặc đã đợc thành
lập nhng cha đủ mạnh để thực hiện có hiệu quả hợp tác quốc tế trong hoạt
động tố tụng hình sự.
Thứ năm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ của một số cán bộ
làm công tác hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự còn yếu, ảnh hởng lớn đến
sự hội nhập của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Việt Nam vào
hoạt động phối hợp của các cơ quan tơng ứng các nớc trên thế giới trong
đấu tranh phòng, chống tội phạm quốc tế, tội phạm có tính quốc tế.
Chơng 3
Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng
những quy định của pháp luật tố tụng hình sự
về hợp tác quốc tế
Trong chơng này, tác giả phân tích làm sáng tỏ sự cần thiết phải nâng
cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự
về hợp tác quốc tế, những quan điểm của Đảng và Nhà nớc cần quán triệt
trong việc nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật tố
tụng hình sự về hợp tác quốc tế và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế.
3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy
định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế
Tác giả đã phân tích tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của
nớc ta là những lý do mang tính định hớng của việc nâng cao hiệu quả
việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác
quốc tế. Đồng thời, theo tác giả, sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả
việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác
quốc tế còn bắt nguồn từ những nhu cầu sau đây:
Thứ nhất, nhu cầu tăng cờng hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự.
Ngày nay, nhu cầu hội nhập quốc tế đã trở thành một đòi hỏi mang
tính tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển. Quá trình hội nhập quốc tế
ở các quốc gia nói chung, ở Việt Nam nói riêng, đòi hỏi phải có một hệ
thống pháp luật hoàn thiện, thực thi pháp luật có hiệu quả. Do đó, hợp tác
quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự, cũng giống nh hợp tác quốc tế giữa
các quốc gia trong các lĩnh vực kinh tế, thơng mại, khoa học, kỹ thuật, văn
hóa, giáo dục cũng phải đợc nhìn nhận nh một yếu tố mang tính khách
quan, một quy luật tất yếu của thế giới không ngừng vận động và phát triển.
Thứ hai, nhu cầu xây dựng Nhà nớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân, dới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong Nhà nớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, pháp luật đợc
đề cao và đợc bảo đảm thực hiện; những quyền con ngời cơ bản, trong đó có
quyền sống đợc tôn trọng và bảo vệ. Vì vậy, hợp tác quốc tế trong hoạt động
tố tụng hình sự cũng phải đợc đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức, bảo
đảm phục vụ có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi
ích của Nhà nớc, các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Thứ ba, nhu cầu khắc phục những yếu kém của hệ thống pháp luật
hiện hành nói chung, những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về
hợp tác quốc tế nói riêng.
Sau hai mơi năm đổi mới, hệ thống pháp luật nớc ta nói chung, những
quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế nói riêng đã từng
bớc hình thành, phát triển, tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn chỉnh hơn
để Nhà nớc quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an
1 2
ninh, quốc phòng nhng nhìn chung, hệ thống pháp luật đó cha đáp ứng
các đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
Đối với việc hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự, chúng ta
còn thiếu nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này.
Thứ t, nhu cầu làm phong phú thêm kho tàng lý luận luật tố tụng hình sự
Việt Nam về hợp tác quốc tế. Đây không những là nhu cầu chính đáng của
cán bộ nghiên cứu khoa học pháp lý, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học
viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành t pháp hình sự mà còn là nhu
cầu của những cán bộ thực tiễn trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm.
3.2. Những quan điểm của Đảng và Nhà nớc cần quán triệt trong
việc nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự về hợp tác quốc tế
Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và Nhà nớc có liên quan về hợp tác
quốc tế trong tố tụng hình sự, có thể rút ra một số quan điểm chỉ đạo của
Đảng và Nhà nớc cần quán triệt trong việc nâng cao hiệu quả áp dụng những
quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế nh sau:
Thứ nhất, hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự phải quán triệt
đờng lối, chủ trơng, chính sách của Đảng về quan hệ đối ngoại, bám sát và
phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng.
Thứ hai, việc nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp
luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế cần đặt trong tổng thể cải cách t
pháp, xuất phát từ yêu cầu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ
quốc, gắn với đổi mới công tác lập pháp, cải cách hành chính.
Thứ ba, việc nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp
luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế phải kế thừa truyền thống pháp lý
của dân tộc, những thành tựu đã đạt đợc của nền t pháp xã hội chủ nghĩa;
tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nớc ngoài phù hợp với hoàn
cảnh của nớc ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế, đáp ứng đợc xu
thế phát triển của xã hội trong tơng lai.
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của
pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế trong thời gian tới ở nớc ta
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự về hợp tác quốc tế
Sau khi phân tích những bất cập của những quy định của pháp luật tố
tụng hình sự về hợp tác quốc tế, tác giả cho rằng, hớng hoàn thiện các
quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế nh sau:
Thứ nhất, ban hành Luật dẫn độ ngời phạm tội và chuyển giao ngời
bị kết án phạt tù. Luật này cần có những nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, có quy phạm ghi nhận định nghĩa của khái niệm dẫn độ ngời
phạm tội và khái niệm chuyển giao ngời bị kết án phạt tù.
Hai là, có quy phạm ghi nhận định nghĩa của các khái niệm: đẩy trả ngời
phạm tội, trục xuất ngời vi phạm pháp luật và trình tự, thủ tục thực hiện.
Ba là, có quy định về những nguyên tắc cơ bản của dẫn độ tội phạm
và chuyển giao ngời bị kết án phạt tù, đó là nguyên tắc chủ quyền quốc
gia, nguyên tắc có đi có lại, nguyên tắc tội phạm kép (double
criminality), nguyên tắc quốc tịch (extradition of national).
Bốn là, có quy định về yêu cầu dẫn độ, từ chối dẫn độ. Theo tác giả,
nớc ta chỉ chấp nhận dẫn độ ngời phạm tội, nếu có đủ căn cứ chứng minh
ngời bị yêu cầu dẫn độ là ngời phạm tội và tội phạm do ngời đó thực hiện
là loại tội phạm có thể đợc chấp nhận dẫn độ.
Năm là, có quy định về tạm giữ để dẫn độ. Sau khi nhận đợc yêu cầu
dẫn độ, nớc nhận đợc yêu cầu phải áp dụng những biện pháp cần thiết để
truy tìm ngời bị yêu cầu dẫn độ đang bỏ trốn và ra lệnh bắt giữ. Trong tr-
ờng hợp cha nhận đợc văn bản yêu cầu dẫn độ, nhng đã có đề nghị dẫn độ
qua các kênh thông tin khác, thì có thể ra lệnh bắt đối tợng với tính chất
là bắt ngời trong trờng hợp khẩn cấp.
Sáu là, có quy định về trờng hợp nhiều nớc yêu cầu dẫn độ cùng một
đối tợng. Trên thực tế, có những trờng hợp một nớc nhận đợc yêu cầu dẫn
độ của nhiều quốc gia về cùng một đối tợng, về cùng một tội danh hay
1 2
nhiều tội danh khác nhau và nớc đợc yêu cầu phải lựa chọn để chấp nhận
một trong các yêu cầu dẫn độ đó. Theo tác giả, trong Luật dẫn độ ngời
phạm tội và chuyển giao ngời bị kết án phạt tù có quy định theo hớng: việc
lựa chọn sẽ đợc tiến hành trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội, thời gian, địa điểm phạm tội, quốc tịch
của ngời bị yêu cầu dẫn độ và thời gian gửi yêu cầu dẫn độ.
Bảy là, có quy định về quá cảnh. Luật dẫn độ ngời phạm tội và chuyển
giao ngời bị kết án phạt tù có quy định theo hớng: việc làm thủ tục xin
quá cảnh cũng phải đợc thực hiện nh thủ tục xin dẫn độ, vì thực chất nó
cũng là việc dẫn độ đối tợng qua lãnh thổ nớc ta cho một quốc gia khác.
Tám là, có quy định về thông báo kết quả truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với ngời bị dẫn độ. Để thể hiện sự tôn trọng và duy trì mối quan hệ hữu
nghị với các quốc gia khác trong hoạt động tố tụng hình sự, Luật dẫn độ ngời
phạm tội và chuyển giao ngời bị kết án phạt tù có quy định theo hớng: sau
khi tiến hành các hoạt động tố tụng, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng của nớc ta phải thông báo kết quả truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
ngời bị dẫn độ cho nớc đợc yêu cầu dẫn độ biết. Nếu bản án hình sự đã có
hiệu lực pháp luật, thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nớc ta
gửi cho bản sao bản án cho nớc đợc yêu cầu dẫn độ biết.
Chín là, có quy định về cơ quan đầu mối thực hiện liên hệ về dẫn độ
ngời phạm tội. Để việc hợp tác quốc tế về dẫn độ ngời phạm tội đợc thuận
tiện, thống nhất, Luật dẫn độ ngời phạm tội và chuyển giao ngời bị kết án
phạt tù có quy định theo hớng: Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan
đầu mối thực hiện hợp tác quốc tế về dẫn độ ngời phạm tội.
Mời là, có quy định về chuyển giao ngời bị kết án phạt tù.
Thứ hai, các tổ chức tội phạm quốc tế đang và sẽ tăng cờng liên kết
với các băng nhóm tội phạm ở Việt Nam để hoạt động, gây thiệt hại cho
nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Để chống lại sự liên kết này, các
cơ quan bảo vệ pháp luật các nớc có liên quan, nhất là các nớc có nhiều
ngời Việt Nam sinh sống hoặc có chung đờng biên giới với Việt Nam,
cũng phải phối hợp với nhau chặt chẽ hơn.
Thứ ba, đối với các nớc có chung đờng biên giới với Việt Nam nh
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Vơng
quốc Campuchia, cần tiếp tục củng cố mối quan hệ hữu nghị, hợp tác
thân thiện giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật để đấu tranh có hiệu quả với
tội phạm có tính quốc tế.
3.3.2. Giải pháp tăng cờng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế
Để nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự về hợp tác quốc tế, tác giả cho rằng, cần tập trung một số việc sau đây:
Thứ nhất, để những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác
quốc tế đi vào cuộc sống thì các quy định của nó trớc hết phải rõ ràng, dễ
hiểu và phải đợc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục để cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng, cũng nh ngời dân đợc biết, hiểu đợc theo đúng
tinh thần của điều luật.
Thứ hai, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đóng
một vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân.
Các cấp ủy Đảng, chính quyền cần quan tâm chỉ đạo, giúp các cơ quan
bảo vệ pháp luật phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong
việc tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, những quy định của
pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế nói riêng. Phải coi đây là
hoạt động thờng xuyên, liên tục của cấp ủy, chính quyền địa phơng.
Thứ ba, cán bộ các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác
định rõ việc học tập, nghiên cứu để hiểu biết pháp luật tố tụng hình sự nói
chung, những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế
nói riêng là trách nhiệm của mình. Cán bộ các cơ quan này phải là những
ngời gơng mẫu trong việc giữ gìn kỷ cơng, phép nớc và góp phần phổ
biến giáo dục pháp luật về lĩnh vực này trong nhân dân.
Thứ t, phải xây dựng chơng trình, kế hoạch tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế
cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện thực tế của các cơ
1 2
quan bảo vệ pháp luật, trình độ dân trí của từng vùng, miền, địa phơng,
từng đối tợng; bám sát sự chỉ đạo, hớng dẫn của cấp trên, đồng thời phát
huy tính sáng tạo của địa phơng, cơ sở.
Thứ năm, Nhà nớc cần quan tâm đầu t kinh phí, điều kiện bảo đảm cho
hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, những quy
định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế nói riêng; xây dựng và
đa vào sử dụng rộng rãi các cơ sở dữ liệu pháp luật điện tử để cán bộ, nhân
dân dễ dàng truy cập, tìm hiểu các văn bản pháp luật, trong đó có các văn
bản pháp luật về hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự.
Thứ sáu, cùng với việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến,
giáo dục pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần lựa
chọn các vụ thực hiện tơng trợ t pháp điển hình, những trờng hợp dẫn độ
ngời phạm tội, từ chối dẫn độ ngời phạm tội để nâng cao ý thức của ngời
dân về hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự.
3.3.3. Giải pháp về công tác tổ chức, cán bộ có nhiệm vụ thực hiện
hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Đối với lĩnh vực hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự,
công tác tổ chức, cán bộ có vai trò rất quan trọng. Theo tác giả, các ngành
Công an, Tòa án, Viện Kiểm sát cần xây dựng những tiêu chuẩn cụ thể
cho số cán bộ đợc giao nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng
hình sự, đồng thời tiến hành các biện pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, tổ chức học tập các Nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị
quyết số 08-NQ/TW ngày 02-02-2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm
vụ trọng tâm công tác t pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48-
NQ/TW ngày 25-04-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lợc xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hớng đến
năm 2020, Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02-06-2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lợc cải cách t pháp đến năm 2020.
Thứ hai, trên cơ sở tiêu chí biên chế cán bộ của từng ngành, cần nghiên
cứu bố trí cán bộ làm công tác hợp tác quốc tế một cách chặt chẽ. Quy
hoạch và đào tạo cán bộ lãnh đạo công tác hợp tác quốc tế phải đáp ứng
đúng những tiêu chuẩn nêu trên và tiêu chuẩn do Bộ Nội vụ quy định.
Thứ ba, tăng cờng công tác đào tạo, bồi dỡng, nâng cao trình độ năng
lực cán bộ thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng
hình sự. Chú trọng bồi dỡng, phát huy trình độ, tác dụng thi hành nhiệm
vụ của số cán bộ mới tuyển làm công tác này.
Thứ t, coi trọng công tác chính trị, t tởng trong số cán bộ đợc giao
nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự, làm cho số cán
bộ này yên tâm công tác, gắn bó với công việc, không vi phạm kỷ luật,
quán triệt và chấp hành tốt đờng lối, chính sách đối ngoại của Đảng và
pháp luật của Nhà nớc.
Thứ năm, Nhà nớc cần quan tâm cung cấp kinh phí và các điều kiện
cần thiết khác để lực lợng Cảnh sát có mạng lới sĩ quan liên lạc ở các nớc
có đông Việt kiều làm ăn, sinh sống.
Thứ sáu, quản lý chặt chẽ các hoạt động hợp tác quốc tế nói chung,
hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng, kịp thời báo cáo,
tham mu với các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ về các vấn đề phát sinh.
Hoạt động hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự phải hớng vào việc thực
hiện đờng lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nớc là củng cố môi tr-
ờng hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để góp phần đẩy mạnh phát
triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
kết luận
1. Trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam, các quy phạm pháp
luật về hợp tác quốc tế đã hình thành và phát triển từ sau Cách mạng tháng
Tám. Chế định hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự lần đầu tiên đợc quy
định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 của nớc ta, có ý nghĩa về mặt
lập pháp hết sức to lớn, đánh dấu sự trởng thành về kỹ thuật lập pháp ở nớc ta.
Đối với chế định hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, khái niệm hợp
tác quốc tế trong tố tụng hình sự là khái niệm cơ bản, khái niệm xuất phát, để
1 2
từ đó xác định các quy phạm khác của chế định hợp tác quốc tế trong hoạt
động tố tụng hình sự nh nguyên tắc hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng
hình sự, thực hiện tơng trợ t pháp, từ chối thực hiện yêu cầu tơng trợ t pháp,
dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án, từ chối dẫn độ, việc
chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án, việc giao nhận, chuyển giao tài liệu,
đồ vật, tiền liên quan đến vụ án Việc nhận thức và áp dụng đúng đắn chế
định này trong thực tiễn là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc
pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, nhằm góp phần
đấu tranh phòng, chống có hiệu quả với tội phạm có tính quốc tế ở nớc ta.
2. Trong điều kiện đất nớc mở cửa, tình hình tội phạm có tính quốc tế
(hay còn gọi là tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nớc ngoài), ở n-
ớc ta diễn biến phức tạp vào có chiều hớng gia tăng. Tình trạng ngời Việt
Nam phạm tội ở nớc ngoài, ngời nớc ngoài phạm tội ở Việt Nam, ngời Việt
Nam phạm tội ở trong nớc bỏ trốn ra nớc ngoài, ngời nớc ngoài phạm tội ở
nớc ngoài trốn sang Việt Nam, các băng nhóm tội phạm ở trong nớc cấu kết
với các tổ chức tội phạm nớc ngoài làm, tàng trữ, vận chuyển, lu hành tiền
giả, các giấy tờ có giá giả khác, buôn lậu vũ khí, sản xuất, buôn bán hàng
giả, sản xuất, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, mua bán phụ nữ,
trẻ em, làm hộ chiếu giả có xu hớng gia tăng, gây ảnh hởng nghiêm trọng
đến công cuộc đổi mới của nớc ta.
Để đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính quốc tế đạt hiệu quả cao,
hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này trở thành vấn đề mang tính tất yếu, phù
hợp với xu thế chung của thời đại. Tuy nhiên, tình hình hợp tác quốc tế trong
hoạt động tố tụng hình sự ở các thời kỳ khác nhau, rất khác nhau, phụ thuộc
vào bối cảnh của tình hình quốc tế và tình hình của mỗi nớc ký kết.
3. Trong thời gian qua, hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đã góp
phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự kỷ cơng pháp luật và xã hội, góp
phần tích cực thúc đẩy sự phát triển các quan hệ hợp tác, hữu nghị với cơ
quan bảo vệ pháp luật các nớc trên thế giới. Tuy nhiên, các quy định về
hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự cũng đã bộc lộ một số
thiếu sót nh nhiều vấn đề quy định rất chung chung hoặc cha đợc quy
định, dẫn đến khó thống nhất áp dụng pháp luật. Thực tiễn hợp tác quốc
tế trong tố tụng hình sự cũng đã đặt ra một số vấn đề vớng mắc cần
nghiên cứu giải quyết nh: tổ chức, bộ máy, biên chế cán bộ làm công tác
hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự, chức năng, nhiệm vụ của
sĩ quan liên lạc, cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động
4. Trong thời gian tới, để hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự có
hiệu quả, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm,
cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
- Phải chủ động triển khai các hoạt động xây dựng và hoàn thiện những
quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế theo lộ trình hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất
nớc. Nghiên cứu ban hành Luật dẫn độ ngời phạm tội và chuyển giao ngời bị
kết án phạt tù. Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, đề xuất Nhà nớc ta
gia nhập các điều uớc quốc tế đa phơng nh Công ớc quốc tế về chống tội
phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Nghị định th về chống buôn bán ngời ,
khẩn trơng đàm phán, ký kết các Hiệp định tơng trợ t pháp về hình sự với các
nớc có nhiều ngời Việt Nam sinh sống nh Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Cộng
hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Philippines, Liên bang
Ôxtrâylia Đối với những nớc mà Nhà nớc ta đã ký Hiệp định tơng trợ t
pháp về hình sự, qua thực tiễn thực hiện, các cơ quan chức năng cần nghiên
cứu đề xuất để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới ở Việt
Nam cũng nh ở nớc đối tác.
- Cần tăng cờng công tác tuyên truyền, phổ biến những quy định của
pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế, những văn bản pháp lý quốc tế
mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập về đấu tranh phòng, chống tội phạm
có tính quốc tế để cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật, các ngành, các cấp,
các tầng lớp nhân dân nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí, nội dung của các
văn bản này để thực hiện tốt hơn những cam kết quốc tế về lĩnh vực này.
- Phải kiện toàn tổ chức, bộ máy đợc giao nhiệm vụ hợp tác quốc tế của
cả ba ngành Công an, Tòa án, Viện Kiểm sát. Tăng cờng công tác đào tạo,
bồi dỡng, nâng cao trình độ năng lực cán bộ có nhiệm vụ hợp tác quốc tế
trong hoạt động tố tụng hình sự. Coi trọng công tác chính trị, t tởng trong số
cán bộ đợc giao nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự,
1 2
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét