Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Một số vấn đề về chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới

Khoá luận tốt nghiệp
Chơng 1
một số vấn đề cơ bản về xuất khẩu Và
chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu
1.1. Vai trò hoạt động xuất khẩu trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội theo hớng hội nhập.
Ngày nay, không một nớc nào có thể phát triển nếu thực hiện chính sách tự
cung tự cấp, bởi vì mỗi quốc gia trên thế giới đều tồn tại trong mối quan hệ nhiều
mặt với các quốc gia khác. Tuy nhiên, trong các mối quan hệ này, quan hệ kinh tế
chi phối hầu hết các mối quan hệ khác, bởi bất cứ mối quan hệ nào cũng liên quan
tới quan hệ kinh tế. Quan trọng nhất trong quan hệ kinh tế là quan hệ thơng mại, nó
cho thấy trực diện lợi ích của quốc gia khi quan hệ với các quốc gia khác thông qua
lợng ngoại tệ thu đợc qua thơng mại quốc tế.
Thơng mại quốc tế bao gồm các hoạt động thu chi ngoại tệ nh: xuất khẩu,
nhập khẩu, gia công cho nớc ngoài và thuê nớc ngoài gia công, tái xuất khẩu, hoạt
động chuyển khẩu, xuất khẩu tại chỗ. Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ đi sâu vào
phân tích hoạt động xuất khẩu.
1.1.1. Khái niệm xuất khẩu.
Xuất khẩu là quá trình hàng hoá đợc sản xuất ở trong nớc nhng tiêu thụ ở nớc
ngoài. Xuất khẩu thể hiện nhu cầu về hàng hoá của các quốc gia khác đối với quốc
gia chủ thể. Xuất khẩu còn chỉ ra những lĩnh vực có thể chuyên môn hoá đợc, những
công nghệ và t liệu sản xuất trong nớc còn thiếu để sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu
đạt đợc chất lợng quốc tế.
1.1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu.
1. Xuất khẩu tạo ra nguồn thu ngoại tệ.
Trong các nguồn thu ngoại tệ cho Ngân sách quốc gia có một số nguồn thu
chính:
- Xuất khẩu hàng hoá - dịch vụ.
- Đầu t nớc ngoài trực tiếp và gián tiếp.
Nguyễn Thị Bích Liên - K45 KTĐN
5
Khoá luận tốt nghiệp
- Vay nợ của Chính phủ và t nhân.
- Kiều bào nớc ngoài gửi về.
- Các khoản thu viện trợ,
Tuy nhiên, chỉ có thu từ xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ là tích cực nhất vì
những lý do sau: không gây ra nợ nớc ngoài nh các khoản vay của Chính phủ và t
nhân; Chính phủ không bị phụ thuộc vào những ràng buộc và yêu sách của nớc khác
nh các nguồn tài trợ từ bên ngoài; phần lớn ngoại tệ thu đợc từ hoạt động xuất khẩu
thuộc về các nhà sản xuất trong nớc đợc tái đầu t để phát triển sản xuất, không bị
chuyển ra nớc ngoài nh nguồn đầu t nớc ngoài, qua đó cho phép nền kinh tế tăng tr-
ởng chủ động, đỡ bị lệ thuộc vào bên ngoài.
Do đó, đối với bất kỳ quốc gia nào, để tránh tình trạng nợ nớc ngoài, giảm
thâm hụt cán cân thanh toán, con đờng tốt nhất là đẩy mạnh xuất khẩu. Nguồn ngoại
tệ thu đợc từ xuất khẩu sẽ làm tăng tổng cung ngoại tệ của đất nớc, góp phần ổn
định tỷ giá hối đoái, ổn định kinh tế vĩ mô. Liên hệ với cuộc khủng hoảng tài chính
Đông Nam á (tháng 7/1997), ta thấy nguyên nhân chính là do các quốc gia bị thâm
hụt cán cân thơng mại thờng xuyên trầm trọng, khoản thâm hụt này đợc bù đắp bằng
các khoản vay nóng của các doanh nghiệp trong nớc. Khi các khoản vay nóng này
hoạt động không hiệu quả sẽ dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp không có khả
năng trả nợ và buộc tuyên bố phá sản. Sự phá sản của các doanh nghiệp gây ra sự rút
vốn ồ ạt của các nhà đầu t nớc ngoài, càng làm cho tình hình thêm căng thẳng, đến
nỗi Nhà nớc cũng không đủ sức can thiệp vào nền kinh tế, từ đó gây ra cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ.
2. Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá
(CNH - HĐH) đất nớc.
Sự tăng trởng kinh tế của mỗi quốc gia đều đòi hỏi có các điều kiện về nhân
lực, tài nguyên, vốn, kỹ thuật. Song không phải bất cứ quốc gia nào cũng có đủ cả 4
điều kiện trên, trong thời gian hiện nay, các nớc đang phát triển (LDCs) đều thiếu
vốn, kỹ thuật, lại thừa lao động. Mặt khác, trong quá trình CNH - HĐH, để thực
hiện tốt quá trình đòi hỏi nền kinh tế phải có cơ sở vật chất để tạo đà phát triển. Để
khắc phục tình trạng này, các quốc gia phải nhập khẩu các thiết bị, máy móc, kỹ
thuật công nghệ tiên tiến.
Nguyễn Thị Bích Liên - K45 KTĐN
6
Khoá luận tốt nghiệp
Hơn nữa, xu thế tiêu dùng của thế giới ngày nay đòi hỏi ngày càng cao về
chất lợng sản phẩm. Để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trờng quốc tế,
các doanh nghiệp bắt buộc phải đầu t để nâng cao trình độ công nghệ của mình -
đây là một yêu cầu cấp bách đặt ra đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu. Từ đó, xuất hiện nhu cầu nâng cao công nghệ của các doanh nghiệp, trong khi
xu hớng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ cũng đang ngày càng
phát triển và các nớc phát triển (DCs) muốn chuyển giao công nghệ của họ sang
LDCs. Hai nhân tố trên có tác động rất quan trọng tới quá trình chuyển giao công
nghệ, nâng cao trình độ công nghệ quốc gia. Tuy nhiên, một yếu tố vô cùng quan
trọng mà nếu thiếu nó thì quá trình chuyển giao công nghệ không thể diễn ra đợc,
đó là nguồn ngoại tệ, nhng khó khăn này đợc khắc phục thông qua hoạt động xuất
khẩu. Hoạt động xuất khẩu đem lại nguồn thu ngoại tệ và các quốc gia có thể dùng
nguồn thu này để nhập công nghệ phục vụ cho sản xuất. Trên ý nghĩa đó, có thể nói,
xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ nhập khẩu.
3. Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hớng CNH - HĐH.
Do xuất khẩu mở rộng đầu ra, mang lại nguồn ngoại tệ cao nên các nhà đầu t
sẽ có xu hớng đầu t vào những ngành có khả năng xuất khẩu. Sự phát triển của các
ngành sản xuất sản phẩm xuất khẩu tạo ra nhu cầu đối với các ngành sản xuất đầu
vào nh: điện, nớc, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị Các nhà sản xuất đầu vào sẽ
đầu t mở rộng sản xuất để đáp ứng các nhu cầu này, tạo ra sự phát triển cho ngành
công nghiệp nặng. Hoạt động xuất khẩu đem lại nguồn thu ngoại tệ cho NSNN để
đầu t cơ sở hạ tầng, đầu t vốn, công nghệ cao cho những ngành công nghiệp trọng
điểm, mũi nhọn. Xuất khẩu tạo ra nguồn thu nhập cao cho ngời lao động, khi ngời
lao động có thu nhập cao sẽ tạo ra nhu cầu cho các ngành sản xuất công nghiệp nhẹ,
hàng điện tử, hàng cơ khí, làm nâng cao sản lợng của các ngành sản xuất hàng tiêu
dùng. Tỷ trọng ngành công nghiệp ngày càng tăng kéo theo sự phát triển của ngành
dịch vụ với tốc độ cao hơn. Nh vậy, thông qua các mối quan hệ trực tiếp, gián tiếp,
hoạt động xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu đầu t và cơ cấu nền kinh tế theo
hớng công nghiệp hoá và hội nhập. Một nền kinh tế mà sản xuất và xuất khẩu những
hàng hoá thị trờng thế giới đang có nhu cầu chứ không phải sản xuất và xuất khẩu
những gì mà đất nớc có. Điều này sẽ tạo cho sự dịch chuyển kinh tế của đất nớc một
cách hợp lý và phù hợp.
Nguyễn Thị Bích Liên - K45 KTĐN
7
Khoá luận tốt nghiệp
4. Xuất khẩu góp phần giải quyết việc làm cho xã hội và
nâng cao hiệu quả của nền kinh tế trong quan hệ th-
ơng mại quốc tế.
Xuất khẩu góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. ở đây, chúng ta sẽ
xem xét hiệu quả dới góc độ nghĩa rộng, bao gồm cả hiệu quả kinh doanh và hiệu
quả kinh tế. Theo tính toán của các nhà kinh tế, nếu đẩy mạnh xuất khẩu, tăng giá trị
kim ngạch xuất khẩu sẽ góp phần tạo mở công ăn việc làm đối với ngời lao động.
Nếu tăng thêm 1 tỷ USD giá trị kim ngạch xuất khẩu sẽ tạo ra từ 40.000 -50.000 chỗ
làm việc trong nền kinh tế. Giải quyết việc làm sẽ bớt đi một gánh nặng cho nền
kinh tế quốc dân, có tác dụng ổn định chính trị, tăng cao mức thu nhập của ngời lao
động.
Xuất khẩu tăng sẽ tạo điều kiện để tăng việc làm, đặc biệt trong ngành nông
nghiệp, công nghiệp chế biến các sản phẩm nông - lâm - ng nghiệp, công nghiệp dệt
may - là những ngành sử dụng nhiều lao động. Đó là vì xuất khẩu đòi hỏi nông
nghiệp phải tạo ra những vùng nguyên liệu lớn, đáp ứng cho nhu cầu lớn của nền
công nghệ sản xuất hàng loạt với khối lợng lớn để nâng cao hiệu quả, đồng thời xuất
khẩu cũng buộc công nghiệp chế biến phải phát triển để phù hợp với chất lợng quốc
tế, phục vụ thị trờng bên ngoài. Hiện nay, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của LDCs là
hàng nông sản, hàng công nghiệp nhẹ, dầu thô, thủ công mỹ nghệ Điều đó sẽ giải
quyết tình trạng thiếu công ăn việc làm trầm trọng ở các nớc này. Việt Nam là nớc
đang phát triển, có dân số phát triển nhanh và thuộc loại dân số trẻ, tức là lực lợng
lao động rất đông, tuy nhiên trình độ tay nghề, trình độ khoa học công nghệ cha cao.
Hơn nữa, Việt Nam lại là nớc nông nghiệp với trên70% dân số làm việc trong lĩnh
vực nông nghiệp, các hoạt động mang tính thời vụ, do đó, vào thời điểm nông nhàn,
số lao động không có việc làm ở nông thôn rất lớn, tràn ra thành thị tạo ra sức ép về
việc làm đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung và đối với các thành phố nói riêng.
Hoạt động xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp góp phần mở rộng sản xuất
nông nghiệp, nâng cao giá trị nông sản, nâng cao thu nhập cho ngời nông dân, tạo ra
nhu cầu về hàng công nghiệp tiêu dùng ở vùng nông thôn và hàng công nghiệp phục
vụ sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, cũng phải kể đến một hoạt động xuất khẩu góp
phần giải quyết công ăn việc làm là xuất khẩu lao động và hoạt động sản xuất hàng
gia công cho nớc ngoài, đây là hoạt động rất phổ biến trong ngành may mặc ở nớc ta
và đã giải quyết đợc rất nhiều việc làm.
Nguyễn Thị Bích Liên - K45 KTĐN
8
Khoá luận tốt nghiệp
5. Xuất khẩu là cơ sở để thực hiện phơng châm đa dạng
hoá và đa phơng hoá trong quan hệ đối ngoại của
Đảng.
Thông thờng hoạt động xuất khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối
ngoại khác, nên nó thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn, xuất khẩu và
sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu t, vận tải quốc tế Đến lợt
nó, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
Thông qua xuất khẩu, các quốc gia mới có điều kiện trao đổi hàng hoá - dịch
vụ qua lại. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại. Chuyển dịch cơ cấu xuất
khẩu là thiết thực góp phần thực hiện phơng châm đa dạng hoá và đa phơng hoá
quan hệ đối ngoại của Việt Nam, thông qua:
- Phát triển khối lợng hàng xuất khẩu ngày càng lớn ra thị trờng các nớc, nhất
là những mặt hàng chủ lực, những sản phẩm mũi nhọn.
- Mở rộng thị trờng xuất khẩu sang những thị trờng mới mà trớc đây ta cha
xuất đợc nhiều.
- Thông qua xuất khẩu nhằm khai thác hết tiềm năng của đối tác, tạo ra sức
cạnh tranh nhiều mặt giữa các đối tác nớc ngoài trong làm ăn, buôn bán với Việt
Nam.
Tóm lại, xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau sâu
sắc, hình thành đan xen giữa lợi ích và mâu thuẫn, giữa hợp tác và cạnh tranh kinh
tế, thơng mại giữa các trung tâm, giữa các quốc gia ngày càng gay gắt. Nghệ thuật
khôn khéo, thông minh của ngời lãnh đạo là biết phân định tình hình, lợi dụng mọi
mâu thuẫn, tranh thủ mọi thời cơ và khả năng để đẩy mạnh xuất khẩu, đa đất nớc
tiến lên trong cuộc cạnh tranh phức tạp, gay gắt.
1.2. Sự cần thiết phải đổi mới cơ cấu hàng xuất khẩu trong quá trình
phát triển kinh tế Việt Nam.
1.2.1. Khái niệm cơ cấu xuất khẩu.
Cơ cấu xuất khẩu là tổng thể các bộ phận giá trị hàng hoá xuất khẩu hợp
thành tổng kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia cùng với những mối quan hệ ổn
định và phát triển giữa các bộ phận hợp thành đó trong một điều kiện kinh tế - xã
hội cho trớc tơng ứng với một thời kỳ xác định.
Nguyễn Thị Bích Liên - K45 KTĐN
9
Khoá luận tốt nghiệp
Cơ cấu xuất khẩu là kết quả quá trình sáng tạo ra của cải vật chất và dịch vụ
của một nền kinh tế thơng mại tơng ứng với một mức độ và trình độ nhất định khi
tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế. Nền kinh tế nh thế nào thì cơ
cấu xuất khẩu nh thế và ngợc lại, một cơ cấu xuất khẩu phản ánh trình độ phát triển
kinh tế tơng ứng của một quốc gia. Chính vì vậy, cơ cấu xuất khẩu mang đầy đủ
những đặc trng cơ bản của một cơ cấu kinh tế tơng ứng với nó, nghĩa là nó mang
những đặc trng chủ yếu sau đây:
- Cơ cấu xuất khẩu bao giờ cũng thể hiện qua hai thông số: số lợng và chất l-
ợng. Số lợng thể hiện thông qua tỷ trọng của từng bộ phận trong tổng thể và là hình
thức biểu hiện bên ngoài của một cơ cấu xuất khẩu. Còn chất lợng phản ánh nội
dung bên trong, không chỉ của tổng thể kim ngạch xuất khẩu mà còn của cả nền
kinh tế. Sự thay đổi về số lợng vợt qua ngỡng giới hạn nào đó, đánh dấu một điểm
nút thay đổi về chất của nền kinh tế.
- Cơ cấu xuất khẩu mang tính khách quan.
- Cơ cấu xuất khẩu mang tính lịch sử, kế thừa. Sự xuất hiện trạng thái cơ cấu
xuất khẩu sau bao giờ cũng bắt đầu và trên cơ sở của một cơ cấu trớc đó, vừa kế thừa
vừa phát triển.
- Cơ cấu xuất khẩu cần phải bảo đảm tính hiệu quả.
- Cơ cấu xuất khẩu có tính hớng dịch, có mục tiêu định trớc.
- Cơ cấu xuất khẩu cũng nh nền kinh tế luôn ở trạng thái vận động phát triển
không ngừng từ thấp đến cao, từ cha hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Do những đặc trng nh vậy nên cơ cấu xuất khẩu là một đối tợng của công tác
kế hoạch hoá phát triển kinh tế - xã hội và là một trong những tiêu thức quan trọng
để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia.
1.2.2. Phân loại cơ cấu xuất khẩu.
Tổng kim ngạch xuất khẩu có thể đợc phân chia theo những tiêu thức khác
nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu và cách thức tiếp cận. Thông thờng, ngời ta tiếp
cận theo hai hớng: giá trị xuất khẩu đã thực hiện ở đâu (theo thị trờng) và giá trị
những gì đã đợc xuất khẩu (theo mặt hàng hay nhóm hàng). Vì vậy, có hai loại cơ
cấu xuất khẩu phổ biến.
Nguyễn Thị Bích Liên - K45 KTĐN
10
Khoá luận tốt nghiệp
a. Cơ cấu thị trờng xuất khẩu.
Là sự phân bổ giá trị kim ngạch xuất khẩu theo nớc, nền kinh tế và khu vực
lãnh thổ thế giới, với t cách là thị trờng tiêu thụ. Loại cơ cấu này phản ánh sự mở
rộng quan hệ buôn bán với các nớc trên thế giới và mức độ tham gia vào phân công
lao động quốc tế. Xét về bản chất, cơ cấu thị trờng xuất khẩu là kết quả tổng hợp của
nhiều yếu tố: kinh tế, chính trị, khoa học công nghệ, chính sách đối ngoại của một
quốc gia. Thị trờng xuất khẩu xét theo lãnh thổ thế giới thờng đợc chia ra nhiều khu
vực khác nhau: thị trờng châu á, Bắc Mỹ, Đông Nam á, EU Do đặc điểm kinh tế,
chính trị, xã hội và truyền thống khác nhau nên các thị trờng có những đặc điểm
không giống nhau về cung, cầu, giá cả và đặc biệt là những quy định về chất lợng,
do đó, khi thâm nhập vào những thị trờng khác nhau cần tìm hiểu những điều kiện
riêng nhất định của họ.
2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu.

Cơ cấu hàng xuất khẩu.
Có thể hiểu một cách đơn giản, cơ cấu hàng xuất khẩu là tỷ lệ tơng quan giữa
các ngành, mặt hàng xuất khẩu hoặc tỷ lệ tơng quan giữa các thị trờng xuất khẩu.
Thơng mại là một lĩnh vực trao đổi hàng hoá, đồng thời là một ngành kinh tế
kỹ thuật có chức năng chủ yếu là trao đổi hàng hoá thông qua mua bán bằng tiền,
mua bán tự do trên cơ sở giá cả thị trờng. Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu là một phân hệ
của cơ cấu thơng mại, là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu, tơng đối ổn định của các
yếu tố kinh tế hoặc các bộ phận của lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất thuộc hệ
thống kinh doanh thơng mại trong điều kiện lịch sử cụ thể.
Mặt hàng xuất khẩu của mỗi quốc gia rất đa dạng, phong phú nên có thể phân
loại cơ cấu hàng xuất khẩu theo nhiều tiêu thức khác nhau:
- Xét theo công dụng của sản phẩm: coi sản phẩm xuất khẩu thuộc t liệu sản
xuất hay t liệu tiêu dùng và trong t liệu sản xuất lại chia thành nguyên liệu đầu vào,
máy móc thiết bị, thiết bị toàn bộ.
- Căn cứ vào tính chất chuyên môn hoá sản xuất theo ngành: phân chia thành:
(i) sản phẩm công nghiệp nặng và khoáng sản, (ii) công nghiệp nhẹ và thủ công
nghiệp, (iii) sản phẩm nông - lâm - ng nghiệp Đây cũng chính là tiêu thức mà
thống kê của Việt Nam thờng lựa chọn và đợc chia thành 3 nhóm chính (i), (ii), (iii).
Nguyễn Thị Bích Liên - K45 KTĐN
11
Khoá luận tốt nghiệp
- Căn cứ vào trình độ kỹ thuật của sản phẩm: phân chia thành sản phẩm thô,
sơ chế hoặc chế biến.
- Dựa vào hàm lợng các yếu tố sản xuất mà cấu thành nên giá trị của sản
phẩm: sản phẩm có hàm lợng lao động cao, sản phẩm có hàm lợng vốn cao hoặc
công nghệ cao.
Mỗi loại cơ cấu mặt hàng theo cách phân loại nói trên chỉ là phản ánh một
mặt nhất định của cơ cấu mặt hàng xuất khẩu. Điều đó có nghĩa khi nhìn vào cơ cấu
mặt hàng xuất khẩu của một quốc gia trong một giai đoạn, có thể đánh giá đợc
nhiều vấn đề khác nhau, tuỳ vào góc độ xem xét. Nhìn chung, cơ cấu mặt hàng xuất
khẩu phản ánh hai đặc trng cơ bản: sự d thừa hay khan hiếm về nguồn lực và trình
độ công nghệ của sản xuất cũng nh mức độ chuyên môn hoá.
Hiện nay, theo phân loại của tổ chức thơng mại quốc tế (WTO), các hàng hoá
tham gia thơng mại quốc tế đợc chia thành 10 nhóm theo mã số nh sau:
0 - lơng thực, thực phẩm
1 - đồ uống và thuốc lá
2 - nguyên liệu thô
3 - dầu mỏ
4 - dầu, chất béo động thực vật
5 - hoá chất
6 - công nghiệp cơ bản
7 - máy móc, thiết bị, giao thông vận tải
8 - sản phẩm chế biến hỗn hợp
9 - hàng hoá khác
Theo cơ cấu này cho thấy một cách tơng đối đầy đủ về hàng hoá xuất khẩu
của một quốc gia. Tuy nhiên, khi áp dụng vào điều kiện Việt Nam thì cơ cấu này trở
nên không đầy đủ, vì sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu nằm ở nhóm 0 và
nhóm 2, 3, hơn nữa còn thể hiện ở nhóm sản phẩm thủ công mỹ nghệ (nhóm sản
phẩm truyền thống của Việt Nam).
Khi định hớng chuyển dịch cơ cấu theo tiêu chuẩn này sẽ gặp nhiều khó
khăn. Để có thể phát huy đợc u điểm và khắc phục đợc nhợc điểm khi áp dụng vào
điều kiện Việt Nam, ta đa ra cách phân loại hàng xuất khẩu Việt Nam thành các
nhóm sau:
Nguyễn Thị Bích Liên - K45 KTĐN
12
Khoá luận tốt nghiệp
1 - lơng thực, thực phẩm
2 - nguyên liệu thô
3 - nhiên liệu, năng lợng
4 - cơ khí, điện tử
5 - dệt may, da giày
6 - hàng chế biến tổng hợp
7 - thủ công mỹ nghệ
8 - hàng hoá khác
Riêng các sản phẩm hàng hoá, hệ thống phân loại quốc tế SITC (System of
International Trade Classification) chia thành 3 nhóm sản phẩm lớn:
Nhóm 1: sản phẩm lơng thực, thực phẩm,
đồ hút, đồ uống, nguyên nhiên liệu thô và khoáng sản.
Nhóm 2: sản phẩm chế biến.
Nhóm 3: sản phẩm hoá chất, máy móc
thiết bị và phơng tiện vận tải.
Trên đây là một số loại cơ cấu phân theo các tiêu thức khác nhau, mỗi loại cơ
cấu có u điểm, nhợc điểm khác nhau, thậm chí u điểm trong thời gian này lại là nh-
ợc điểm trong thời gian khác. Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu việc chuyển
dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu.
1.2.3. Sự cần thiết phải đổi mới cơ cấu hàng xuất khẩu.
Thứ nhất, đổi mới cơ cấu xuất khẩu có mối quan hệ hữu cơ với quá trình
CNH - HĐH và hội nhập kinh tế. Để có đợc đánh giá chính xác và toàn diện thực
trạng chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu trong thời gian vừa qua và định hớng cho thời
gian tới, cần phải dựa trên quan điểm cụ thể về CNH - HĐH.
Báo cáo Chính trị tại Đại hội toàn quốc IX của Đảng đã chỉ rõ: Đẩy mạnh
CNH - HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đa nớc ta trở thành một nớc công
nghiệp; u tiên phát triển lực lợng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù
hợp theo định hớng XHCN; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực
bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả bền
vững; tăng trởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bớc cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và
cải thiện môi trờng; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cờng quốc phòng - an
ninh. Những mục tiêu, quan điểm và t tởng chỉ đạo về CNH - HĐH đất nớc đợc
phản ánh rõ nét nhất là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH - HĐH; hớng
Nguyễn Thị Bích Liên - K45 KTĐN
13
Khoá luận tốt nghiệp
mạnh về xuất khẩu có lựa chọn; CNH - HĐH theo hớng mở cửa và hội nhập với thế
giới.
Rõ ràng, giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với CNH - HĐH có mối quan hệ
biện chứng, cái nọ vừa là hệ quả nhng lại là tiền đề cho cái kia. Song xuất khẩu hàng
hoá chỉ là một khâu trong quá trình tái sản xuất và là một bộ phận trong tổng thể
nền kinh tế nói chung, cho nên một mặt nó giữ vai trò thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hớng CNH - HĐH, mặt khác với t cách là chủ thể vừa diễn ra trong quá
trình CNH - HĐH, lại vừa diễn ra quá trình chuyển dịch cơ cấu trong bản thân lĩnh
vực xuất khẩu.
Thứ hai, những thay đổi trong cơ cấu xuất khẩu trên thị trờng quốc tế có
những chiều hớng mới, các xu hớng rõ nét nhất là:
- Xuất khẩu ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân của
các quốc gia, thể hiện mức độ mở cửa của các nền kinh tế quốc gia trên thị trờng thế
giới.
- Tốc độ tăng trởng của hàng hoá vô hình nhanh hơn các hàng hoá hữu
hình.
- Giảm đáng kể tỷ trọng các nhóm hàng lơng thực, thực phẩm.
- Giảm mạnh tỷ trọng của nguyên liệu, tăng nhanh tỷ trọng của dầu mỏ và
khí đốt.
- Tăng nhanh tỷ trọng của sản phẩm công nghiệp chế biến, nhất là máy móc
thiết bị.
Tình hình trên bắt buộc Việt Nam phải thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu.
Thứ ba, chỉ có thay đổi cơ cấu xuất khẩu hàng hoá, chúng ta mới phát huy thế
mạnh lợi thế của đất nớc về nguồn lao động dồi dào, tài nguyên thiên nhiên phong
phú, và vị trí địa lý thuận lợi, đồng thời khắc phục đợc yếu kém về vốn, trình độ kỹ
thuật và kinh nghiệm quản lý.
Thứ t, chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu sẽ tăng cờng sức cạnh tranh của
hàng hoá Việt Nam trên thị trờng thế giới.
Một xu hớng của thị trờng thế giới hiện nay là các sản phẩm có hàm lợng
khoa học và công nghệ cao, sức cạnh tranh mạnh mẽ, trong khi các sản phẩm
nguyên liệu thô ngày càng mất giá và kém sức cạnh tranh. Chu kỳ sống của các loại
sản phẩm xuất khẩu đợc rút ngắn, việc đổi mới thiết bị, công nghệ, mẫu mã hàng
Nguyễn Thị Bích Liên - K45 KTĐN
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét