Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Quá trình hình thành và phát triển các ngành công nghệ cao của Trung Quốc

4
- Chương trình Tia chớp (1986): Đây là bước xúc tiến chú trọng vào phát triển kinh tế nông thôn
Trung Quốc bằng việc áp dụng các tiến bộ KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp thông qua các
chương trình thí điểm và sự thành lập các “Khu Tăng cường Công nghệ Tia chớp”.
- Chương trình nghiên cứu và phát triển công nghệ cao/Chương trình 863 (có nghĩa là Chương
trình được thực hiện vào tháng 3 năm 1986): Chương trình này chú trọng vào các lĩnh vực R-D
chiến lược của Trung Quốc, tập trung vào nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trong 8 lĩnh vực công
nghệ then chốt. Chương trình tiếp tục chú trọng vào sự phát triển công nghệ quốc phòng và dân sự
chiến lược và đặt ra mục tiêu đạt trình độ ngang hàng về công nghệ với các quốc gia công nghiệp
hóa.
- Chương trình Ngọn đuốc (1988): Chú trọng phát triển công nghiệp công nghệ cao và nghiên
cứu ứng dụng, đặc biệt là ứng dụng thương mại của các kết quả nghiên cứu đạt được từ Chương
trình 863;
- Chương trình sản phẩm mới quốc gia (1988): Chương trình này hỗ trợ cho các nỗ lực R-D đưa
đến các sản phẩm công nghệ cao mới, đặc biệt là các sản phẩm dựa trên tài sản trí tuệ mới, được chế
tạo chủ yếu bằng nội lực trong nước (các thành phần nội địa chiếm từ 80% trở lên), có tiềm năng
xuất khẩu cao hoặc đạt tiêu chuẩn quốc tế.
- Chương trình Phổ biến KH&CN quốc gia (1990): Chương trình này hỗ trợ cho các SOE trong
việc ứng dụng các kết quả R-D KH&CN để có thể thương mại hóa được. Chương trình cung cấp tài
chính thông qua các khoản vay của Nhà nước, tài trợ của các chính quyền địa phương và vốn đầu tư
của các doanh nghiệp.
- Chương trình các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản ưu tiên quốc gia (1991): Chương trình này thúc
đẩy sự chú trọng hơn nữa đến nghiên cứu khoa học cơ bản.
- Chương trình phát triển các lĩnh vực ưu tiên nghiên cứu cơ bản quốc gia/Chương trình 973
(1997): đây là một chương trình có cách tiếp cận chiến lược, đa ngành và định hướng tương lai,
nhằm xác định và thúc đẩy các nhu cầu về R-D cơ bản, khoa học và giáo dục trong các lĩnh vực
phát triển kinh tế, phát triển công nghệ cao, các công nghệ môi trường và thân thiện sinh thái, các
nguồn năng lượng cải tiến và chăm sóc sức khỏe.
Qua sự phản ánh của các chương trình KH&CN trong thời kỳ cải cách cho thấy, cộng đồng khoa
học của Trung Quốc đã bị thúc đẩy để chuyển định hướng các nỗ lực của họ sang các nghiên cứu
nhằm đáp ứng thị trường và mang định hướng kết quả hơn. Các chương trình phát triển KH&CN
trên sẽ giúp dẫn hướng cho sự chuyển đổi này bằng cách tạo ra các biện pháp khuyến khích đổi mới
và tinh thần khởi sự doanh nghiệp, cũng như bằng việc hạn chế bớt sự phân bổ tài trợ của Nhà nước
đối với hầu hết các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp, qua đó buộc các nhà nghiên cứu và các tổ
chức R-D phải cạnh tranh để có được các nguồn tài trợ của Nhà nước. Cho đến nay, các Chương
trình 863 và Chương trình Ngọn đuốc là những chương trình thành công nhất và có ảnh hưởng rộng
lớn đến sự phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao. Hai chương trình này sẽ được đề cập
chi tiết hơn ở dưới đây.

2. Chương trình R-D Công nghệ Cao Quốc gia (Chương trình 863)
Chương trình 863 là chương trình R-D công nghệ cao có tính chiến lược của Trung Quốc, được
thiết kế để: (1) Tập trung các nguồn lực công nghệ tốt nhất ở Trung Quốc cho mục tiêu đuổi kịp
trình độ công nghệ cao của thế giới trong các lĩnh vực lựa chọn, (2) Xóa bỏ khoảng cách giữa Trung
Quốc và các nước khác và (3) Tạo các đột phá trong một số lĩnh vực quan trọng.
Các nguyên tắc chủ đạo của Chương trình 863 như sau: đề ra các mục tiêu có giới hạn, xác định
các lĩnh vực ưu tiên, theo dõi sát sao tiến bộ công nghệ toàn cầu, cố gắng tạo đột phá ở các lĩnh vực
có thể và kết hợp R-D dân sự với quân sự đồng thời chú trọng vào R-D dân sự.
5
Chương trình tập trung các nỗ lực vào 8 lĩnh vực ưu tiên: (1) Công nghệ sinh học và nông nghiệp
hiện đại, (2) Thông tin, (3) Chế tạo tiên tiến và tự động hóa, (4) Năng lượng, (5) Vật liệu tiên tiến,
(6) Tài nguyên và môi trường, (7) Biển, (8) Hàng không vũ trụ và lade. 6 ưu tiên đầu là R-D dân sự,
do CMOST quản lý và thực hiện. Các chương trình ưu tiên về biển, hàng không vũ trụ và lade được
thực hiện trên cơ sở giữ bí mật.
Các báo cáo của Chương trình 863 thường thể hiện chi tiêu về dân sự, các thành tựu và các kế
hoạch chi tiêu trong tương lai. Không có dữ liệu về R-D quốc phòng trong Chương trình 863. Giữa
năm 2001 và 2005, Trung Quốc dự định chi 15 tỷ NDT (1,81 tỷ USD) cho 6 lĩnh vực R-D dân sự,
cao gần gấp 2,7 lần so với tổng chi tiêu trong 15 năm từ 1986 đến 2001. Trong giai đoạn 1986-
2001, tổng chi tiêu của Chương trình 863 là 11 tỷ NDT (1,33 triệu USD); 6 lĩnh vực R-D dân sự
chiếm 5,7 tỷ NDT (689 triệu USD), khoảng 52% của tổng số. Từ các con số này, cho thấy R-D
quân sự của Chương trình 863 trong giai đoạn 1986 - 2001 khoảng 5,3 tỷ NDT (641 triệu USD) và
chiếm 48% ngân sách của Chương trình 863.
Một nghiên cứu cho thấy, 15 năm sau khi Chương trình 863 bắt đầu, Trung Quốc đã thu hẹp
đáng kể khoảng cách tổng thể về công nghệ với các nước tiên tiến. 60% các công nghệ của Trung
Quốc bắt đầu từ vạch xuất phát đã đạt hoặc gần bằng trình độ của thế giới; 11% đạt trình độ tiên tiến
của quốc tế.
Một trong những thành công của Chương trình 863 là tiêu chuẩn TD-SCDMA của Hãng Datang.
Sự tham gia của Hãng Siemen AG rất quan trọng đối với khả năng của Hãng Công nghiệp và Công
nghệ Viễn thông Datang để phát triển công nghệ. Hãng Siemen AG đã chi hơn 200 triệu USD kể từ
khi cộng tác với Datang năm 1998 để phát triển TD-SCDMA. Datang là một cơ sở nghiên cứu
thuộc sở hữu Nhà nước, trực thuộc Bộ Thông tin và Công nghiệp khi bắt đầu nghiên cứu hợp tác
với Siemens. Chuẩn TD-SCDMA được Hiệp hội Thông tin Viễn thông Quốc tế chấp nhận là một
trong ba tiêu chuẩn công nghệ viễn thông di động thế hệ 3. Siemens phát triển điện thoại 3G với
Huawei trên cơ sở tiêu chuẩn mới này. Tiêu chuẩn 3G có thể có ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc và
ngoài Trung Quốc, nếu Trung Quốc quyết định sử dụng tiêu chuẩn này làm chuẩn 3G quốc gia.

3. Chương trình Ngọn đuốc (1988) và sự hình thành các khu phát triển công nghệ cao
Được Hội đồng Nhà nước phê chuẩn tháng 8 năm 1988 và do Bộ KH&CN Trung Quốc
(MOST) thực hiện, Chương trình Ngọn đuốc là một chương trình chỉ đạo đối với sự phát triển
ngành công nghiệp công nghệ cao và mới của Trung Quốc. Nhiệm vụ cốt lõi của Chương trình là
phát huy tất cả các thế mạnh và tiềm năng của các lực lượng KH&CN của Trung Quốc và thúc đẩy
nhanh thương mại hóa các thành tựu công nghệ cao và mới, công nghiệp hóa các sản phẩm công
nghệ cao và mới và quốc tế hóa ngành công nghiệp công nghệ cao và mới với định hướng vào thị
trường. Trọng tâm của Chương trình Ngọn đuốc là tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển
ngành công nghiệp công nghệ cao và mới, trong đó bao gồm các xúc tiến như hình thành các chính
sách, luật pháp và các quy định liên quan, thiết lập nên một hệ thống điều hành và quản lý thích hợp
đối với ngành công nghiệp công nghệ cao, khai thác các kênh cung cấp tài chính mới trong đó có cơ
chế đầu tư vốn mạo hiểm, phát triển các nguồn thông tin trong nước và nước ngoài, xây dựng các
mạng lưới thông tin và thiết kế các kế hoạch phát triển trung và dài hạn, cũng như các kế hoạch thực
hiện.
Chương trình Ngọn đuốc là một thành công về tăng cường xây dựng cơ sở công nghiệp công
nghệ cao của Trung Quốc và dường như đã thực hiện rất tốt việc tiến hành công nghiệp hóa một số
kết quả R-D thành công. Chương trình đã được bàn thảo nhiều vì sự phát triển các ngành công
nghiệp công nghệ cao ở Trung Quốc có thể có ảnh hưởng lớn đến cả Trung Quốc và nhiều đối tác
thương mại chính của nước này.
6
Chương trình Ngọn đuốc có mục tiêu tăng tốc thương mại hóa các kết quả R-D và công nghiệp
hóa công nghệ cao. Thông qua Chương trình Ngọn đuốc, 53 Khu Phát triển Công nghiệp Công
nghệ cao (HTIDZ) đã được thiết lập.
Các khu HTIDZ tuân theo 7 chức năng sau:
(1) Làm cơ sở cho sự phát triển các công nghệ cao/mới;
(2) Là nguồn cung cấp các sản phẩm và công nghệ cao/mới cho các ngành công nghiệp truyền
thống;
(3) Là cửa sổ mở ra thế giới bên ngoài;
(4) Các khu thử nghiệm về sự kết hợp chặt chẽ hơn giữa KH&CN với nền kinh tế và thúc đẩy
sự chuyển hóa các thành tựu KH&CN và đổi mới kỹ thuật;
(5) Các khu trình diễn về sự phối hợp chặt chẽ giữa KH&CN với nền kinh tế và thúc đẩy sự
chuyển hóa các thành tựu KH&CN và đổi mới kỹ thuật;
(6) Là các khu đô thị mới với nền văn minh hiện đại xã hội chủ nghĩa;
(7) Là trường đào tạo các nhà công nghiệp công nghệ cao.
HTIDZ được thiết kế như là các cụm bao gồm trường đại học, các viện nghiên cứu, các doanh
nghiệp công nghiệp và đang ngày càng gặt hái được nhiều thành công: các cụm càng phát triển càng
mời được nhiều công ty tham gia mỗi năm. Ví dụ, nhiều hãng công nghệ cao của Trung Quốc như
Levono Group và Huawei đều là các hãng có trụ sở tại HTIDZ. Các trung tâm nghiên cứu của các
hãng công nghệ cao nước ngoài như Microsoft, Motorola, IBM, Nokia, Samsung Electronics và LG
cũng là các hãng cư ngụ ở HTIDZ.
Sự phát triển của HTIDZ quả đúng là một phép màu. Cụ thể là từ 1992 đến 2003, tốc độ tăng
trưởng bình quân hàng năm về doanh thu, xuất khẩu và lợi nhuận ròng tương ứng là 51%, 55% và
42%. Sự tăng trưởng mạnh chủ yếu là do sự phát triển nhanh chóng số lượng các hãng vào HTIDZ
hoạt động hoặc các hãng mới được thành lập ở đây. Năm 2003, HTIDZ có 33000 hãng hoạt động
với 3,95 triệu nhân công. Tổng doanh thu của các hãng có mặt tại HTIDZ đạt 253 tỷ USD, trong đó
xuất khẩu là 51 tỷ USD.
Với sự phát triển nhanh về khối lượng doanh thu và xuất khẩu lớn và số nhân công làm việc ở
HTIDZ, không khó hiểu khi HTIDZ được coi là một thành công lớn đóng góp vào sự phát triển
kinh tế nhanh cả ở quy mô quốc gia lẫn khu vực. Tuy nhiên, lợi nhuận của khu vực này không gây
ấn tượng mạnh như vậy. Năm 2003, tỷ số lợi nhuận ròng so với doanh thu trung bình của các hãng
ở HTIDZ là 5,4% và tỷ số của tổng lợi nhuận trung bình trước thuế so với doanh thu là 10,1%. Con
số này không lớn hơn nhiều so với tỷ số tổng lợi nhuận trước thuế của toàn bộ ngành chế tạo ở
Trung Quốc, năm 2001 là 9,4%.
Chương trình Ngọn đuốc cũng thiết lập các khu ươm tạo công nghệ và các Trung tâm Thúc đẩy
Năng suất để tạo thuận lợi cho quá trình chuyển giao công nghệ, phát triển các hãng công nghệ cao,
khuyến khích tinh thần kinh doanh công nghệ cao và cung cấp dịch vụ đào tạo. Các Khu ươm tạo
công nghệ là các cơ sở trung gian củng cố các mối liên kết chặt chẽ giữa các hãng mới khởi sự và
các bên tham gia vào NIS khác, như các trường đại học, cơ sở R-D, các cơ quan Chính phủ, các cơ
quan tài chính và đội ngũ cán bộ KH&CN.
Rõ ràng là Chính phủ Trung Quốc đặt mục tiêu xây dựng các cụm công nghiệp và các hệ thống
đổi mới theo khu vực trên cơ sở khung Hệ thống Đổi mới Quốc gia (NIS) để thúc đẩy thương mại
hóa các kết quả R-D và công nghiệp hóa các công nghệ cao. Tác dụng sức mạnh đòn bẩy của một
thị trường nội địa lớn và nguồn nhân lực dồi dào của Trung Quốc đã đóng góp đáng kể vào sự thành
công của cách tiếp cận này.
Một thập kỷ sau khi “Quyết định về cải cách hệ thống quản lý KH&CN” được công bố vào năm
1985, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã khẳng định lại các mục tiêu KH&CN của đất nước trong
một Quyết định chung của ủy ban Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và Hội đồng Nhà nước
7
mang tên “Quyết định về việc thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ”, ban hành vào tháng 5
năm 1995 tại Hội nghị Toàn quốc về KH&CN. Văn kiện mới này đã đánh dấu sự khởi đầu của giai
đoạn hai trong nỗ lực cải tổ được thực hiện dựa trên các chương trình KH&CN hiện tại song song
với việc tiến hành “tiếp thêm sinh lực cho đất nước bằng khoa học và giáo dục”.
Văn kiện này được dựa trên 11 nguyên tắc chủ đạo chính như sau:
1. Thực hiện quan điểm cho rằng, KH&CN là lực lượng sản xuất chính trong mọi lĩnh vực;
2. Tích cực đẩy mạnh tiến bộ KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp và các vùng nông thôn;
3. Nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng công nghiệp bằng những tiến bộ về KH&CN;
4. Phát triển công nghệ cao và các ngành công nghiệp công nghệ cao;
5. Thúc đẩy tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển xã hội;
6. Kiên quyết đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản;
7. Tiếp tục cải tổ quản lý KH&CN và thiết lập một hệ thống quản lý KH&CN mới phù hợp
với hệ thống kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và luật pháp về phát triển KH&CN;
8. Đào tạo một đội ngũ nhân lực KH&CN có trình độ cao và nâng cao trình độ KH&CN của
toàn bộ quốc gia;
9. Tăng đầu vào KH&CN thông qua các kênh khác nhau và ở các mức độ khác nhau;
10. Mở cửa hơn nữa Trung Quốc ra với thế giới bên ngoài và tích cực tham gia hợp tác và trao
đổi quốc tế về KH&CN;
11. Tăng cường một cách có hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ đối với công tác
KH&CN.
Hướng tới viễn cảnh năm 2010, Quyết định năm 1995 đã đề ra một loạt các mục tiêu, trong đó
chú trọng đến giáo dục và đào tạo; thành lập các liên doanh (với các đối tác trong nước hoặc nước
ngoài) và thúc đẩy đầu tư vốn mạo hiểm trong nước; hợp tác với các chuyên gia nước ngoài và các
đối tác liên doanh nhằm tiếp thu công nghệ và bí quyết; tăng cường chi tiêu Chính phủ cho
KH&CN (lên đến 1,5% GDP vào năm 2000, như đã nêu rõ trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 9); thúc
đẩy các chương trình và công nghệ phát triển bền vững; tăng cường đổi mới trong nước tại các
ngành công nghiệp then chốt; và phát triển các năng lực công nghệ tiên tiến nhằm “đuổi kịp các
nước tiên tiến trong một số lĩnh vực”.
Năm 1999, Hội nghị Đổi mới Công nghệ Toàn quốc đã được tổ chức và kể từ đó chính sách
KH&CN của Trung Quốc tập trung chủ yếu vào thực hiện 3 mục tiêu chính sau đây:
- Tăng cường đổi mới công nghệ;
- Phát triển công nghệ cao;
- Hỗ trợ công nghiệp hóa nền kinh tế Trung Quốc.
Kế hoạch 5 năm lần thứ X (2001-2005) đã đề ra mục tiêu chung: "Tiếp thêm sinh lực cho đất
nước bằng khoa học và giáo dục". Đó là chủ trương cho rằng KH&CN là lực lượng sản xuất cao
nhất với giáo dục là nền tảng, KH&CN và giáo dục cần được đặt vào vị trí nổi bật trong sự nghiệp
phát triển kinh tế và xã hội, cần nâng cao năng lực KH&CN của đất nước và khả năng chuyển hóa
năng lực đó thành năng suất lao động thực thụ, nâng cao nhận thức KH&CN và trình độ văn hóa
của cả dân tộc, chuyển đổi tiến trình xây dựng kinh tế theo hướng dựa vào tiến bộ KH&CN và hiệu
quả lao động.
Theo đó các ưu tiên chiến lược đối với KH&CN là: 1) Đẩy mạnh nâng cấp công nghệ trong
ngành công nghiệp; và 2) Tăng cường năng lực đổi mới KH&CN. Ưu tiên thứ nhất liên quan đến
việc làm cho các doanh nghiệp trở thành nguồn lực đổi mới công nghệ chính, trong khi ưu tiên thứ
hai đòi hỏi tăng cường vai trò của các trường đại học trong nghiên cứu khoa học.
Để thực hiện mục tiêu nêu trên Chính phủ Trung Quốc theo đuổi ba tập hợp biện pháp chính
sách sau:
Cải thiện R-D khu vực doanh nghiệp và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao:
8
- Thành lập các khu phát triển công nghiệp công nghệ cao mới nhằm thúc đẩy các ngành công
nghiệp công nghệ cao;
- Hỗ trợ phát triển các hình thức doanh nghiệp công nghệ ngoài quốc doanh khác nhau;
- Phát triển các dịch vụ công nghệ bằng cách chuyển các tổ chức R-D thích hợp thành các doanh
nghiệp dịch vụ công nghệ và bằng cách tạo điều kiện cho việc khởi sự các doanh nghiệp.
Tiến hành sâu hơn nữa công cuộc cải tổ hệ thống KH&CN và tối ưu hóa sự phân bổ nguồn lực
cho R-D:
- Chuyển các viện nghiên cứu ứng dụng và thiết kế công nghiệp thành các doanh nghiệp
KH&CN;
- Cải cách hành chính trong việc bổ nhiệm, phong chức danh và tuyển dụng nhân lực KH&CN
theo các nguyên tắc thị trường;
- áp dụng việc xét duyệt công bằng (peer review) và sử dụng các cơ quan thẩm định được công
nhận nhằm cải tiến việc đánh giá các kết quả KH&CN;
- Tăng cường quản lý và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Đẩy mạnh cung cấp tài chính cho R-D:
- Tăng nguồn đầu vào KH&CN của Nhà nước từ mọi cấp chính quyền lên mức 1,5% GDP vào
năm 2005;
- Phát triển các thị trường vốn và cho phép khai thác các phương thức có hiệu quả cung cấp tài
chính cho các ngành công nghiệp công nghệ cao và các doanh nghiệp công nghệ;
- Thành lập Quỹ Đổi mới công nghệ của Chính phủ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp KH&CN
vừa và nhỏ;
- Sử dụng các biện pháp khuyến khích thuế và chính sách thu mua Nhà nước để hỗ trợ KH&CN
và cung cấp tín dụng xuất khẩu nhằm thúc đẩy xuất khẩu công nghệ cao.
Năm 2002, Chính phủ Trung Quốc đề ra mục tiêu dài hạn đầy hoài bão tăng GDP lên gấp 4 lần,
tức là đạt 4 000 tỷ USD, với GDP tính theo đầu người lên tới 3 000 USD vào năm 2020. Chính phủ
lập kế hoạch đạt mục tiêu này bằng cách "thực hiện con đường công nghiệp hóa mới” với KH&CN
và giáo dục là hai trụ cột phát triển nền kinh tế đất nước.
Báo cáo của Chủ tịch Giang Trạch Dân tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVI năm
2002 vạch ra các hướng dẫn thực thi mục tiêu chiến lược trên như sau:
- Chú trọng hơn nữa cải thiện chất lượng và hiệu quả tăng trưởng kinh tế bằng cách dựa vào
KH&CN và nâng cao trình độ lực lượng lao động,
- Củng cố nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu công nghệ cao và thúc đẩy đổi mới các công nghệ
chủ chốt và tích hợp hệ thống để KH&CN Trung Quốc có thể phát triển với bước tiến lớn,
- Mua quyền sở hữu trí tuệ độc lập trong các lĩnh vực chủ chốt của KH&CN tiên tiến,
- Cải cách cơ bản các hệ thống quản lý KH&CN và giáo dục,
- Tích hợp KH&CN và giáo dục vào nền kinh tế và tăng tốc chuyển đổi các thành tựu nghiên
cứu thành nguồn lực sản xuất thực tiễn,
- Thúc đẩy xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia,
- Quản lý hoạt động vốn mạo hiểm hợp lý để hướng các nguồn vốn và nhân lực vào các hãng
mới khởi sự và đổi mới KH&CN,
- Cải tiến hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Báo cáo của Chủ tịch Giang Trạch Dân nhấn mạnh rằng phát triển kinh tế của Trung Quốc
không phải là quá trình tách biệt. Trung Quốc cần mở cửa hơn nữa ra thế giới bên ngoài để "tham
gia tích cực vào hợp tác cũng như là cạnh tranh quốc tế về kinh tế và công nghệ".
Từ chiến lược và các định hướng nêu trên, cho thấy rõ tầm quan trọng của chiến lược mở cửa
hướng ra bên ngoài của Trung Quốc, bên cạnh đó tiến bộ KH&CN và giáo dục được coi là hai trụ
cột chính trong sự nghiệp phát triển một nền kinh tế thịnh vượng trong tương lai.
9

4. Những cải cách về thể chế nhằm nâng cao năng lực công nghệ
Song song với những thay đổi về chính sách được nêu ở phần trên, Trung Quốc còn tiến hành
một số cải cách quan trọng về thể chế mà cho đến nay vẫn tiếp tục tác động tới các nỗ lực phát triển
công nghệ tiên tiến bản xứ. Năm 1986, Trung Quốc đã thành lập Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia
(NNSF). Học tập theo mô hình Quỹ Khoa học Quốc gia của Mỹ, mục đích của NNSF cũng là để
thúc đẩy nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực mới và quan trọng, nhằm điều phối các chương trình
nghiên cứu KH&CN và tăng cường tính chuyên sâu của cộng đồng khoa học Trung Quốc. Lần đầu
tiên NNSF đã áp dụng hình thức xét duyệt và đánh giá công bằng (peer review) đối với các kiến
nghị nghiên cứu và cấp học bổng hay thưởng công dựa trên cơ sở thành tích đạt được.
Một cải cách quan trọng khác về thể chế là sự thành lập vào năm 1992 các Trung tâm Nghiên
cứu Kỹ thuật Quốc gia (NERC). Các trung tâm này thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng và áp dụng kỹ
thuật trong các lĩnh vực công nghiệp ưu tiên vốn được coi là “các ngành công nghiệp trụ cột” và các
lĩnh vực công nghệ cao và mới khác. Trong số các lĩnh vực này có điện tử, viễn thông, chế tạo máy,
công nghiệp nhẹ và ngành dệt, luyện kim, y tế, vật liệu tiên tiến và các ngành công nghiệp then chốt
khác. Mục đích chủ yếu đằng sau các trung tâm này là để liên kết (hay “Spin-off”) hoạt động nghiên
cứu được thực hiện chủ yếu tại các viện nghiên cứu trực thuộc CAS với các quá trình chế tạo và sản
xuất. Ngoài ra, các kỹ sư của NERC được kỳ vọng là sẽ nhập khẩu, lĩnh hội và tiếp thu các công
nghệ nước ngoài để sao cho có thể hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao năng lực công nghệ và điều
chỉnh về cơ cấu. Chính vì mục tiêu này mà NERC có thể nhập khẩu miễn thuế các thiết bị và công
nghệ.
Mục tiêu chương trình tổng thể của NERC là nhằm chuyển hóa R-D một cách nhanh chóng hơn
nữa thành các sản phẩm đổi mới trong khi sử dụng các nỗ lực kết hợp và áp dụng các kỹ thuật quản
lý mới để đạt được mục tiêu này. Bộ Khoa học và Công nghệ (MOST) có vai trò giám sát các
chương trình của NERC và đánh giá theo chu kỳ sự tiến bộ của từng trung tâm, một số các trung
tâm này còn được nhận tài trợ của Ngân hàng Thế giới (WB). Các trung tâm này được tài trợ trong
3 năm đầu, sau thời hạn đó mỗi một trung tâm cần đạt được các mục tiêu đề ra theo kế hoạch phát
triển đã được Nhà nước phê chuẩn. Những trung tâm nào chưa thực hiện đúng theo tiến độ sẽ được
gia hạn để đạt bằng được các mục tiêu của mình. Nhưng không giống như thời gian trước cải tổ,
nếu các trung tâm không đạt được các mục tiêu chính của mình trong khoảng thời gian gia hạn đó,
hoặc là sau hai lần xét duyệt liên tục, thì danh định và cả nguồn tài trợ của trung tâm đó sẽ bị hủy
bỏ.
Tuy nhiên, trên thực tế quy trình đăng ký quá phức tạp và tệ quan liêu đã gây khó khăn cho các
nhà khoa học muốn xin tài trợ để thực hiện nghiên cứu của mình. Nhiều nhà khoa học phàn nàn
rằng chính quyền trung ương cung cấp kinh phí cho NERC không đúng thời hạn, buộc các trung
tâm này phải dựa vào các nguồn kinh phí khác để trang trải cho việc xây dựng các phòng thí nghiệm
hay các chi tiêu vận hành khác. Hay việc nhập khẩu thiết bị của nước ngoài cũng không được xuôn
sẻ do các thủ tục hải quan và những vấn đề kiểm soát xuất khẩu khác. Chính do hậu quả của những
khó khăn trên mà mức độ thành công của NERC không được đồng đều.
Trong thời gian gần đây, các trung tâm này đang được cải tổ để trở thành các doanh nghiệp tự
lập về tài chính, bằng con đường thương mại hóa các sản phẩm mới hay thu lệ phí từ các dịch vụ tư
vấn công nghệ. Những trung tâm nào được vay tiền có bảo lãnh của chính quyền sẽ phải hoàn trả
sau một thời hạn nhất định. Bằng biện pháp này, Chính phủ hy vọng rằng các trung tâm NERC sẽ
trở nên độc lập về tài chính bằng cách xuất khẩu các sản phẩm của mình. Ngoài ra các trung tâm
này còn được khuyến khích phát triển các tiêu chuẩn công nghiệp công nghệ cao mới và của bản xứ.
Ngoài việc thành lập các trung tâm NERC, Chính phủ Trung Quốc còn xây dựng hơn 150
“Phòng thí nghiệm then chốt Nhà nước” với ý định để nâng cao tiêu chuẩn nghiên cứu và đào tạo
10
trong các trường đại học và các viện nghiên cứu công. Các phòng thí nghiệm này được quản lý tuân
theo từng chuyên ngành khoa học và dựa trên các quy định và thủ tục về thưởng công xứng đáng.
Cũng trong giai đoạn cải cách, Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS) đã trải qua những
thay đổi quan trọng về thể chế. Các nhà khoa học và nghiên cứu thuộc CAS cũng phải đối mặt với
một giai đoạn xiết chặt nguồn tài trợ của Nhà nước và các chương trình khuyến khích thương mại
hóa giống như các viện nghiên cứu công khác. Trước những áp lực đó, nhiều phân viện và các nhà
nghiên cứu thuộc CAS đã bắt đầu thành lập các doanh nghiệp vệ tinh (Spin-off), mà một số sau này
đã phát triển thành các công ty công nghệ cao hàng đầu của Trung Quốc. Trong số đó có Legend,
hãng chế tạo máy tính cá nhân hàng đầu của Trung Quốc. Kể từ khi tiến hành cải tổ, các doanh
nghiệp công nghệ cao phi Chính phủ đã bắt đầu phát triển nhanh trên khắp đất nước và trở thành
một bộ phận có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển công nghệ của Trung Quốc.
Một trong những lĩnh vực cải tổ nổi bật nhất, đó là việc các trường đại học của Trung Quốc đã
trải qua một giai đoạn cải tổ về thể chế đẩy ấn tượng. Phục hồi lại từ sau những thanh trừng của
Cuộc cách mạng Văn hóa, các viện nghiên cứu trực thuộc các trường đại học được hưởng một vị trí
nổi bật trong việc cấp kinh phí R-D và ký kết các hợp đồng nghiên cứu, đặc biệt là thông qua các tài
trợ từ NNSF. Cũng giống như các viện nghiên cứu công, các nhà nghiên cứu của các trường đại học
cũng bị chi phối bởi các chính sách của Nhà nước để trở nên độc lập hơn trong tài trợ R-D. Điều này
dẫn đến có nhiều nhà khoa học hơn đã ký kết các hợp đồng cung cấp dịch vụ với các viện nghiên
cứu khác, với các doanh nghiệp và cả với các nhà đầu tư nước ngoài. Vào giai đoạn giữa những
năm 1990, các trường đại học ngày càng tham gia nhiều hơn vào các chương trình R-D, các trung
tâm hay các phòng thí nghiệm do các công ty đa quốc gia (MNC) công nghệ cao tài trợ. Các chương
trình này thường tập trung tại các trường đại học có uy tín của Trung Quốc tại Bắc Kinh và Thượng
Hải, nhưng cũng có thể tìm thấy tại các trường khác, đặc biệt là các trường liên kết với các công
viên khoa học và các khu phát triển công nghệ cao.

5. Vai trò của CAS trong việc thúc đẩy phát triển công nghệ cao
Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS) là trung tâm nghiên cứu và phát triển nổi tiếng và có
uy tín trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ và đổi mới công nghệ cao ở Trung
Quốc. Thành lập năm 1949, Viện được coi tương đương với Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ
hoặc Hội Hoàng gia của Anh. Tuy nhiên, không giống như Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia và
Hội Hoàng gia, CAS điều hành các viện nghiên cứu riêng của mình, với chức năng là những công
cụ nghiên cứu của Chính phủ.
Giữa năm 1999 và 2000, CAS đã thực hiện một cuộc cải cách, gọi là Chương trình Đổi mới Tri
thức (KIP) để điều chỉnh lại trọng tâm nghiên cứu và tái cơ cấu tổ chức. Việc quản lý các cơ sở
nghiên cứu được hợp lý hóa; xóa bỏ nhiều ngành khoa học và lĩnh vực nghiên cứu lạc hậu lỗi thời;
chuyển đổi một số viện nghiên cứu thành doanh nghiệp hoặc các thực thể pháp nhân độc lập và bãi
bỏ chế độ đương nhiệm suốt đời.
Năm 2003, CAS có tổng số cán bộ hơn 50.000 người trong các cơ sở nghiên cứu và các cơ sở hỗ
trợ, trong số đó có khoảng 30000 là cán bộ nghiên cứu và 5000 người là cán bộ quản lý. Các nhà
nghiên cứu của CAS là các nhà khoa học và kỹ sư giỏi nhất ở Trung Quốc; năm 2002, có 5000 Tiến
sĩ, 5100 Thạc sĩ Khoa học và 6700 Cử nhân Khoa học. Tổng thu nhập của CAS năm 2003 là 10,04
tỷ NDT (1,21 tỷ USD). Tài trợ của Chính phủ Trung Quốc chiếm 52% thu nhập của CAS; 48% còn
lại là từ nguồn phi Chính phủ.
Với nguồn lực trí tuệ và các cơ sở của mình, CAS là lực lượng R-D chính. Năm 2003, CAS chịu
trách nhiệm 6 trong số 26 chương trình nghiên cứu cơ bản quốc gia mới được giao (chiếm 23%).
Trong số 333 dự án nghiên cứu cơ bản chủ chốt của quốc gia, CAS chịu trách nhiệm 92 dự án, bằng
27,6% tổng số dự án. Cũng trong năm này, 58 trong số 160 nhà nghiên cứu trẻ xuất sắc của quốc gia
11
(36% tổng số) là các nhà nghiên cứu của CAS. CAS chiếm phần lớn (46%) nguồn tài trợ của Quỹ
Khoa học Tự nhiên Quốc gia (NSFC) cho các dự án chủ chốt năm 2003.
CAS cũng là cơ sở đào tạo sinh viên tốt nghiệp chính. Năm 2002, CAS có 22497 sinh viên tốt
nghiệp đăng ký, trong đó 9736 là ứng cử viên Tiến sĩ và 12761 là học viên Thạc sĩ Khoa học.
CAS với các phân ban khoa học là những tổ chức tư vấn cao nhất ở Trung Quốc về vấn đề chính
sách và phát triển KH&CN của quốc gia và có ảnh hưởng lớn đến các vấn đề chính sách KH&CN.
Ví dụ, Chương trình R-D Công nghệ Cao 863 được bắt đầu năm 1986 có xuất xứ từ đề nghị của
CAS.
CAS cũng duy trì mối quan hệ hợp tác tích cực với khu vực công nghiệp. Đến cuối năm 2003,
CAS đã đầu tư vào 336 hãng, 158 trong số đó thuộc toàn quyền kiểm soát của CAS (tức là, CAS
chiếm hơn 50% cổ phần của hãng). Có lẽ một trong các hãng vệ tinh nổi tiếng nhất phát triển từ
CAS là Hãng Lenovo Group (tên cũ là Legend Group). Hãng Legend bắt đầu hoạt động năm 1984
với vốn do CAS đầu tư là 200.000 NDT và đã phát triển thành một lực lượng chủ chốt của ngành
công nghiệp máy tính Trung Quốc.
Mới đây, CAS đã tạo được các bước đột phá lớn về công nghệ cao. Ví dụ, CAS đã thiết lập Siêu
Máy chủ "Dawning 3000", máy tính này từ đó đã trở thành yếu tố cạnh tranh chính với các sản
phẩm của nước ngoài. CAS cũng hoàn thành việc sắp xếp trình tự và lập bản đồ bộ gen cây lúa, là
một đột phá được thế giới công nhận rộng rãi. CAS còn được coi là tổ chức thực hiện R-D mạnh về
ống nanô cacbon và các vật liệu mới khác. Nếu tính về số các bài báo được xếp vào hạng mục trích
dẫn SCI (Chỉ số trích dẫn khoa học), số lượng xuất bản phẩm của CAS tương đương với tổng số các
bài báo của 20 trường đại học hàng đầu của Trung Quốc. Số sáng chế do CAS nộp đơn đăng ký
cũng tăng mạnh. Khoảng 60% sáng chế đăng ký được phân loại là phát minh, là tỷ lệ phần trăm cao
nhất trong số tất cả các tổ chức nghiên cứu ở Trung Quốc.
CAS đã bắt đầu chú trọng thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp công nghệ cao vào năm 1980,
khi Viện Vật lý thuộc CAS đã thành lập một đơn vị công nghệ đầu tiên không phải do Nhà nước
khởi xướng, không được cung cấp tài trợ và không thuộc sở hữu Nhà nước, đó là Tập đoàn Hệ
thống Thông tin Huaxia Guigu Bắc Kinh (nay là một liên doanh Trung - Mỹ). Tiếp theo đó, các
doanh nghiệp khác theo hình thức này đã được hình thành tại Bắc Kinh; hầu hết đều nhỏ nhưng đã
phát triển nhanh chóng thành các doanh nghiệp độc lập, đặc biệt là trong lĩnh vực vi điện tử.
Các doanh nghiệp công nghệ này ban đầu có xu hướng co cụm tại Bắc Kinh. Trong một sự phát
triển song song, năm 1985 CAS đã chính thức hóa sự co cụm này bằng cách thành lập Công viên
Công nghiệp và Khoa học Thẩm Quyến trong một nỗ lực phối hợp với Chính quyền Thành phố
Thẩm quyến. Mục tiêu là để tạo nên một cơ sở, là nơi mà các công nghệ cao từ CAS và các viện
nghiên cứu khác có thể kết hợp với công nghệ và đầu tư nước ngoài để mở ra con đường cho
thương mại hóa các sản phẩm công nghệ cao. Khái niệm này đã được đề cao và từ đó đã hình thành
được 53 khu phát triển công nghệ cao trên cả nước Trung Quốc.
CAS và các viện nghiên cứu trực thuộc cho đến nay đã thành lập trên 900 doanh nghiệp công
nghệ, trong số đó có khoảng 500 doanh nghiệp mang định hướng công nghệ cao và hơn 400 định
hướng vào cung cấp dịch vụ. Hầu hết các doanh nghiệp còn có quy mô nhỏ nhưng có tiềm năng
phát triển nhanh, theo điều tra có khoảng 10% số doanh nghiệp này được đánh giá là hoạt động rất
có hiệu quả, 30% được coi là thành đạt, 30% ở mức độ khá tốt và số còn lại kém hiệu quả. Số doanh
nghiệp công nghệ này của CAS có số nhân lực khoảng 20.000 người, trong đó có khoảng 10.000
thuộc các viện của CAS, số còn lại làm việc theo chế độ hợp đồng. Đây chính là một chuyển biến
lớn trong việc điều động nhân lực, và sự thay đổi trong nền văn hóa nghiên cứu có thể được coi như
một kết quả thành công của quá trình đổi mới.
Để đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản, CAS đã sớm sử dụng một phần trong nguồn kinh phí của mình
để thúc đẩy nghiên cứu cơ bản các trường đại học thông qua một loạt các biện pháp mà sau đó dẫn
12
đến sự thành lập NNSF (Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia) vào năm 1986. Bằng một hệ thống trợ
cấp nghiên cứu thông qua cạnh tranh công bằng, NNSF đã kích thích nghiên cứu tại các trường đại
học và còn tạo ra cơ chế buộc các nhà khoa học thuộc CAS muốn nhận được sự hỗ trợ từ NNSF thì
cũng phải được đánh giá công bằng trên một thị trường mở. Hiện tại, các nhà khoa học thuộc CAS
được nhận khoảng 30% trị giá các tài trợ.
Các phân viện nghiên cứu thuộc CAS tại một số tỉnh như Thượng Hải và Quảng Châu đã sớm
chuyển định hướng các nỗ lực của mình vào giải quyết các vấn đề của địa phương và hỗ trợ cho các
lĩnh vực ưu tiên của địa phương. Tại Quảng Châu, Viện Hàn lâm Khoa học Quảng Đông đã hợp
nhất 10 phân viện CAS ở địa phương để thành lập Chi nhánh CAS tại Quảng Đông cùng với các
viện nghiên cứu địa phương khác. Một sự hợp nhất như vậy là ví dụ điển hình cho các nơi khác, bởi
vì sự tồn tại một số lượng lớn các viện nghiên cứu độc lập có thể dẫn đến sự trùng lặp và sử dụng
kém hiệu quả các nguồn lực nghiên cứu. Cũng như vậy, Viện Hàn lâm Khoa học Thượng Hải, bao
gồm các viện nghiên cứu trực thuộc trung ương và chính quyền địa phương đã được thành lập để có
được một sự tiếp cận phối hợp chặt chẽ trong nghiên cứu.

6. Sự hình thành các doanh nghiệp công nghệ
Trong những năm gần đây, ở Trung Quốc hình thành một nhóm các doanh nghiệp phát triển dựa
trên cơ sở công nghệ, hay còn gọi là các doanh nghiệp công nghệ. Số doanh nghiệp này chủ yếu là
các đơn vị khai thác và sử dụng các thành quả R-D (Spin-off) của các viện nghiên cứu công và các
doanh nghiệp mới được khởi sự bởi các cán bộ R-D. Các doanh nghiệp này được hình thành trước
hết do kết quả của việc thực hiện thí điểm các chính sách cải tổ các viện nghiên cứu công. Từ trước
khi diễn ra công cuộc cải tổ hệ thống KH&CN, vào những năm 1980 Chính phủ Trung Quốc đã tiến
hành thí điểm cho phép các viện nghiên cứu công một số hướng tự do liên kết với các doanh nghiệp.
Do các doanh nghiệp này được khởi sự dưới hình thức liên kết với các viện nghiên cứu công, nên
chúng vừa không phải là các viện nghiên cứu chính thức của Chính phủ, vừa không phải là các
doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn. Tình trạng nhập nhằng về danh nghĩa đó cho phép họ có thể phát
triển trong một môi trường tương đối tự do, bởi vì lúc đó chưa có các chính sách và qui định rõ ràng
đối với loại hình doanh nghiệp này.
Hiện nay, chính sách của Nhà nước Trung Quốc đang hỗ trợ tích cực đối với việc phát triển loại
hình doanh nghiệp công nghệ này. Chính phủ Trung Quốc đã lên kế hoạch chuyển đổi 4 000 viện
nghiên cứu khoa học thành các công ty trong một nỗ lực không ngừng nhằm đẩy mạnh thương mại
các kết quả R-D và tăng cường phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao. Chính sách của
Chính phủ còn khuyến khích các tổ chức giáo dục đại học có năng lực về kỹ thuật có thể thành lập
các công ty con. Để tạo điều kiện cho sự phát triển hơn nữa các doanh nghiệp công nghệ mới khởi
sự, các cơ quan điều hành thị trường chứng khoán Trung Quốc cùng với Uỷ ban Điều hành Chứng
khoán Trung Hoa (CSRC) đã tích cực thúc đẩy việc mở cửa một thị trường chứng khoán cấp hai về
công nghệ cao.
Các doanh nghiệp công nghệ chủ yếu tham gia vào các hoạt động thương mại hóa các kết quả R-
D, chuyển giao công nghệ, tư vấn và dịch vụ công nghệ. Tính đến năm 1998, số doanh nghiệp này
đã lên đến hơn 70 000 với tổng doanh thu đạt 1 046 tỷ NDT năm 1999, trong đó có 130,4 tỷ NDT
(15,9 tỷ USD) thu nhập từ xuất khẩu. Theo số liệu thống kê, các doanh nghiệp này mang nhiều loại
hình sở hữu khác nhau: thuộc sở hữu Nhà nước có 12%; sở hữu tập thể 29%; sở hữu tư nhân 21%;
sở hữu nước ngoài 6%; và các hình thức công ty cổ phần chiếm 30%. Có 4 334 doanh nghiệp công
nghệ liên kết với các viện nghiên cứu công, vào năm 1997 đạt doanh thu 17,5 tỷ NDT, tăng gấp 2,4
lần so với năm 1992. 2 564 doanh nghiệp công nghệ khác trực thuộc các trường đại học Trung
Quốc đạt doanh thu 18,5 tỷ NDT, thu lợi nhuận 1,8 tỷ NDT vào năm 1997. Các doanh nghiệp này
13
còn tạo ra một môi trường thực tập nội trú cho các sinh viên đại học và cao học, trang bị cho họ các
kỹ năng kinh doanh và khởi sự doanh nghiệp.
Đặc biệt ở Trung Quốc, các doanh nghiệp công nghệ được hưởng một số lợi thế so với các tổ chức
thực hiện R-D khác, như họ có thế mạnh về công nghệ và có khả năng tuân theo các nguyên tắc quản lý
định hướng thị trường. Về khía cạnh thế mạnh công nghệ, họ có các mối quan hệ chặt chẽ với các viện
R-D và thường có được các kết quả nghiên cứu có thể thương mại hóa được vào đúng thời điểm chúng
được hình thành. Sự định hướng công việc kinh doanh của họ tập trung vào giai đoạn cuối của đổi mới,
có nghĩa là phát triển sản phẩm mới và thương mại hóa. Các doanh nghiệp công nghệ còn được hưởng
quyền tự chủ cao hơn so với các doanh nghiệp truyền thống trong quá trình ra quyết định kinh doanh.
Hiện nay nhóm doanh nghiệp này đang ngày càng trở thành một lực lượng quan trọng trong hệ thống
đổi mới quốc gia của Trung Quốc.
Sự hình thành các trung tâm chuyển giao công nghệ quốc gia
Để tạo nên các mối quan hệ bền chặt hơn nữa giữa ngành công nghiệp, các trường đại học và các
viện nghiên cứu, thúc đẩy sự kết hợp các nguồn lực KH&CN của các trường đại học và ngành công
nghiệp, khuyến khích chuyển giao các công nghệ tiên tiến cho khối công nghiệp, một số đơn vị chuyển
giao công nghệ, được thành lập trước đây bởi các trường đại học có thế mạnh về KH&CN và có nguồn
kinh phí KH&CN dồi dào đã được lựa chọn để hình thành các trung tâm chuyển giao công nghệ quốc
gia. Các trung tâm này đóng một vai trò tích cực trong việc thúc đẩy xây dựng hệ thống đổi mới công
nghệ với cốt lõi là ngành công nghiệp, bên cạnh đó làm tối ưu hóa các cơ cấu công nghiệp và nâng cao
công nghệ sản xuất. Được coi là một cơ sở hạ tầng nhằm tổ chức và củng cố các nguồn lực KH&CN của
các trường đại học, một trung tâm chuyển giao công nghệ quốc gia thực hiện các nhiệm vụ như: phát
triển và phổ biến các công nghệ thông thường, thúc đẩy và cải tiến việc xây dựng các trung tâm công
nghệ công nghiệp, thúc đẩy việc chuyển hóa các kết quả nghiên cứu của các trường đại học và chuyển
giao công nghệ, đẩy mạnh hợp tác đổi mới công nghệ quốc tế và cung cấp các dịch vụ toàn diện cho
ngành công nghiệp. Bên cạnh đó là các công viên KH&CN được chính thức khởi xướng năm 2000,
được coi là đầu mối liên kết giữa những cải cách về KH&CN, giáo dục và kinh tế cũng đã đạt được
những bước tiến bộ đáng kể dưới sự hỗ trợ của chính quyền các cấp. Các công viên này chính là cơ sở
cho việc chuyển hóa các kết quả KH&CN của các trường đại học, các vườn ươm tạo các ngành công
nghệ cao và là một mũi nhọn phát triển kinh tế mới.

7. Những cải tổ về luật pháp nhằm thúc đẩy KH&CN và thương mại hóa công nghệ
Một điểm đặc trưng khác của thời kỳ cải cách sau năm 1985 đó là sự cải cách về luật pháp.
Những cải tổ này đã giúp thúc đẩy đầu tư công nghệ cao của nước ngoài và tạo ra những sự bảo hộ
cần thiết về luật pháp đối với đổi mới của bản xứ. Trong vòng hai thập kỷ gần đây, Trung Quốc đã
ban hành (và cập nhật) nhiều bộ luật mới chi phối sự sản xuất, chuyển giao và bảo hộ đối với nghiên
cứu khoa học, công nghệ và tài sản trí tuệ. Những cải cách chính về luật pháp liên quan đến công
nghệ bao gồm:
. Luật Nhãn hiệu thương mại (thông qua năm 1982, sửa đổi năm 1993, cập nhật năm 2001 và
2002): Luật này quy định về thẩm quyền nhãn hiệu thương mại, các thủ tục và việc sử dụng nhãn
hiệu thương mại cùng với quy trình phân xử.
. Luật Hợp đồng Công nghệ (1987): Luật này quy định tiêu chuẩn hóa các hợp đồng công nghệ
liên quan đến việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và thời hạn chấm dứt hợp đồng sau đó.
Bộ luật này chỉ áp dụng đối với các hợp đồng giữa các cá nhân và doanh nghiệp trong nước.
. Luật phát minh sáng chế (thông qua lần đầu tiên năm 1984, sửa đổi năm 1993, cập nhật năm
2000 và 2001): Bộ luật này quy định các thủ tục đăng ký sáng chế, các hướng dẫn giải quyết tranh
chấp và quyền sở hữu hợp pháp đối với các nhà phát minh, hiện nay được kéo dài đến 20 năm.
. Luật Bản quyền (thông qua năm 1990, cập nhật năm 2001): áp dụng đối với các đăng ký bản
quyền của cả trong nước lẫn nước ngoài, bộ luật này bảo hộ cả phần mềm máy tính. Ngoài ra còn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét