II. TRỒNGTRẦU CAU:
Cây cau thẳng tắp, cây trầu không mềm mại trên mảnh vườn nho nhỏ của
mỗi gia đình người Việt xưa kia, chúng là những thứ cây quý giá, thể hiện một
lối sống thanh bình, yên ả, một cuộc sống định canh, định cư thuộc nền nông
nghiệp lú nước. Trong xã hội Âu Lạc nền văm minh nông nghiệp khá phát triển
cho nên “nhà nào cũng có vườn trồng cau và trầu không. Có lẽ từ đó trở đi việc
trồng cau ngày càng phổ biến cùng với nghề làm vườn, có thể nói trong các gia
đình người Việt xưa, đặc biệt là ở nông thôn, trầu cau là một thứ không thể thiếu
được, mà nếu thiếu nó gia đình người Việt cảm thấy thiếu và trống vắng một cái
gì đó. Vì vậy ta có thể nói trồng trầu cau là một tục lệ của cư dân ngày “xưa”.
Nói từ “xưa” có nghĩa là trồng trầu cau nó chỉ là tục lệ xưa mà thôi, còn ngày
nay, tục trồng trầu cau không còn nữa, mà nó chỉ tồn tại trong một số gia đình ở
nông thôn.
Tục trồng trầu cau mặc dù không còn mấy tồn tại trong xã hội đại Việt
này nay. Vậy tại sao nói lại không còn mấy tồn tại như trước kia nữa, có lẽ do
con người ngày nay đã quên mất thói quen ăn trầu mà xưa kia người ta gọi đó là
nhu cầu cần thiết, rồi các phong tục ct xưa kia cũng mất dần, xã hội biến đổi nó
mất dần bản sắc dân tộc, nhưng đồng thời, nó lại bổ sung thêm những cái mới,
mang màu sắc hiện đại, văn minh, tiến bộ.
Việc trồng trầu cau ngày nay không còn mang sắc thái thể hiện phong tục
ăn trầu của người Việt nữa mà nó tồn tại vì kinh tế, như vườn trầu ở Hoóc Môn -
Bà Điểm, nó đã đi vào lịch sử dân tộc gắn lion với cuộc kháng chiến chống Pháp
của dân tộc ta, nay nó đã trở thành mục đích kinh tế, trồng trầu cau để đem lại
lợi nhuận.
Xưa kia trầu cau đã trở thành sản phẩm trao đổi giữa các vùng, ở chợ
đồng bằng, trung du, miền núi sản phẩm cau tươi, cau khô, lá trầu không, vỏ
chay, rễ quạch, chúng là những món hàng phổ biến ở các chợ cả nông thôn và
5
miền núi, chúng kết hợp lại với nhau cho một màu sắc thắm tươi, đủ hương vị
cuộc đời.
Ở phố, người thượng lưu mới có đất trồng cau, nhưng không nhiều người
chơi cảnh để nuôi dưỡng tâm hồn, để níu giữ chút duyên quê, để thể hiện cốt
cách. “sống thẳng như cau, sống thơm như quế”. Thậm chí có người còn “chơi”
cau Ta lẫn với cau Nhật (lùn)ư, câu sâm banh “bụng phệ”. Buồng cau, khay trầu
chỉ còn là chút lễ nghĩa tượng trưng trong ngày cưới hỏi. Trái cau được dán têm
cánh phượng màu đỏ, hồng lấp lánh, cách điệu, song không còn “thay chủ” gửi
gắm những thông điệp, ý nghĩa sâu xa như ngày xưa.
Dẫu vậy, các miền quê ở Quảng Nam, vẫn còn xanh mướt những vườn
cau ngút thẳng. Cây cau được trồng rộ khắp nơi, vừa phục vụ ăn trầu, lễ lạt, vừa
xuất khẩu sang nước ngoài, và chuyển sang dịch vụ cây. Việc gìn giữ và khôi
phục nét văn hoá Trầu cau không phải quá khó với vùng quê này.
Cây cau thẳng, dây trầu mềm, khắp xứ sở Việt Nam đâu mà không thấy,
hàng cau phía trước bên bể nước mưa và giàn trầu trong mỗi ngôi nhà nơi thôn
dã luôn là biểu hiện của sự thái bình. Trong Nam có 18 thôn vườn trầu, tổng
diện tích hàng trăm câu số vuông. Ngoài Bắc, dọc các thôn xóm ven sông Hồng,
ngày xưa tới đâu mà chẳng nghe câu hát:
“Ru con con ngủ cho rồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam phố, mua trầu chợ Dinh”.
Và ở miền Trung, đâu đâu cũng thấy thấp thoáng bóng cau và văng vẳng
đâu đây câu hát:
“Bồng em mà bỏ vô nôi.
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu,
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
6
Mau cau Bát Nhị, mua trầu Hội An”.
III. TRẦU CAU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỔ TRUYỀN NGƯỜI
VIỆT:
1. Cách ăn trầu của người Việt.
1.1. Cấu tạo miếng trầu.
Cho đến cách mạng tháng Tám, tục ăn trầu vẫn còn phổ biến ởnong thôn
và thành thị. Thành phần mỗi một miếng trầu thường có: là trầu có quệt vôi, một
miếng cau, một miếng vỏ chay. Nếu không co vỏ chay người ta chỉ ăn trầu quệt
vôi với cau tươi hoặc cau khô. Không phải ngay từ đầu người Việt đã ăn trầu có
cả vỏ chay. Nghiên cứu so ánh truyện Trầu - Cau - vôi của người Việt và truyện
Bơ-lô Đu-lơ của người Ca-tu (Tây Nguyên) chúng ta có thể nêu lên một giả
thuyết có ý nghĩa về thành phần miếng trầu của người Việt. Các dị bản về truyện
Trầu - cau - vôi của người Việt đều thống nhất một chi tiết: ba nhân vật tượng
trưng cho ba yếu tố: cau trầu, vôi; và từ thời xưa vua Hùng người Việt ăn trầu
quệt vôi với cau. Sách Quế hải ngu hành chí cho biết thêm: “Người Việt thích ăn
trầu, ding bạc và thiếc làm các hộp nhỏ, một cái đựng vôi, cái đựng dây hay lá
trầu; và một cái đựng cau. Theo truyện Bơ-lô Đu-lơ của người Ca-tu thì từ xa
xưa miếng trầu của người Ca-tu đã gồm có : cau, trầu, vôi, vỏ chay. So sánh
truyện của hai dân tộc ta có thể nghĩ rằng cách ăn trầu kèm thêm vỏ chay của
người Việt bắt nguồn từ ảnh hưởng qua lại giữa người Việt và cư dân Môn -
Khơme cổ đại. Cho đến nay, theo đồng bào nghiện trầu, ăn trầu thiếu vỏ chay vị
đậm kém đi nhiều lắm. Nếu không có vỏ chay, người ta tìm một thứ rễ cây khác
để thay thế, đó là rễ cây quạch, ăn riêng thì có vị chát nhưng ăn cùng với trầu
quệt vôi và cau thì miếng trầu đậm đà thêm lên và màu đỏ cốt trầu cũng thắm
hơn. Câu tục ngữ “trầu không rễ như rể nằm nhà ngoài” chính nhằm khẳng định
vị ngon đậm của miếng trầu có thêm rễ cây quạch hoặc voe chay, chứng tò
người Việt dã tự giác làm tăng vị đạm cho miếng trầu trong quá trình giao lưu
văn hoá với các dân tộc khác
7
1.2. Bổ cau:
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm 6 mời anh xơi trầu.
Quả cau to có thểbổ làm 6miếng, mỗi khẩu trầu ding 1/6 quả cau, quảnhỏ
hơn, bổ tư. Ở Nam bộ, quả cau to người ta thường bổ làm 8 miêng, quả cau được
dóc vỏ xanh, tiện bỏ chũm rồi mới bổ ra thành miếng. Dao bổ cau phỉ chọn dao
sắc miếng cau mới đẹp do đó ngôn ngữ Việt có từ “dao cau” để chỉdao sắc và
lion dó là sự hình thành mỹ từ pháp “mắt sắc như dao cau”.
Mùa cau là mùa nắng hanh, người Việt phơi cau để dành ding quanh năm.
Quả cau cũng được bổ thành miếng đem phơi. Trong lúc phơi phải biết dữ cho
hạt khỏi long. Miếng cau có đẹp là miếng cau còn nguyên hạt không bị long ra
khỏi miếng cau, gọi là cau đậu. Cau đậu là loại cau quí, vì khi miếng cau đã khô
hạt dễ long, muốn có cau đâu lúc phơi cau cần phải công phu.
Cắt vỏ chay hoặc rễ quạch. Vỏ chay được cắt thành miếng mỏng hình vồ
hoặc hình chữ nhật, khi ding mới đem cây vỏ ra cắt để miếng vỏ khỏi khô.
Nhiều loại dụng cụ được tạo nên gắn liền với tục ăn trầu.
-Âu đồng hình tròn có nắp đậy kín ding đựng lá trầu chưa têm, để giữ cho
lá trầu được tươi lâu. Đồng có khi được thay bằng thiếc.
Bình vôi và chìa vôi là loại dụng cụ phổ biến của mọi gia đình. Bình đựng
vôi đã tôi, chia vôi cắm ngay trong bình, dài như chiếc đũa, một đầu nhọn, vừa
để quệt vôi vừa để têm trầu, ởnong thôn, con dao vôi ding để rọc lá trầu, và quệt
vôi têm trầu là dụng cụ thông dụng (hình)
Bình vôi cũng ding để đựng vôi đã tôi. Ống vôi nhỏ có thể bỏ túi, dặt trên
cơi, mang đi mang lại thuận tiện, không như bình vôi để cố định một nơi.
Thường thường, ống vôi được làm bằng thiếc. Nhà giầu xưa kia ding ống vôi
bạc chạm trổ tinh vi.
8
Khăn trầu, túi trầu là những đồ dùng phổ biến của đồng bào ở nông thôn
từ xưa cho đến Cách mạng tháng Tám, dùng để đựng những miếng trầu đã têm,
những miếng cau, miếng vỏ, ống vôi. Trong nhân dân lao động, những đồ dùng
này được may bằng vải hoặc lụa theo kiểu giản dị. Khăn trầu, túi trầu củấcc cô
gái được giữ gìn cẩn then. Đối với tầng lớp quí tộc, khăn trầu thường bằng lụa,
nhiễu quí, túi trầu bằng gốm, đoạn là những hàng hiếm, đắt tiền.
Tráp trầu, cơi trầu, hộp đựng trầu bằng gỗ được làm ra từ lâu đời. Nghề
khảm phát triển, những tráp trầu, hộp trầu khảm gắn xà cừ do bàn tay khéo léo
của những người thợ cả tạo nên tiêu biểu cho trình độ tinh xảo của nghề thủ
công dân gian. Những tráp trầu, hộp trầu sơn mài là sản phẩm độc đáo và quí
hơn.
Người Việt đã tổ chức chu đáo việc ăn trầu, gắn liền tục ăn trầu, một nếp
sống văn hoá cao và một trình độ thẩm mỹ tinh tế hình thành qua các thời kỳ
lịch sử.
Tục ăn trầu của người Hà Nội.
Người Hà Nội vốn nổi tiếng sành ăn, sành mặc, Hà Nội là nơi chắt lọc
những tinh hoa, nét đẹp của mọi miền để tạo nên nét đẹp cho riêng mình. Nét
đẹp của Hà Nội thể hiện ngay cả trong tục dùng trầu - một phong tục mà theo
truyền thuyết có từ thời Hùng Vương dung nước (qua sự tích Trầu cau mà người
Việt Nam hầu như ai cũng biết.
Trước kia, người Hà Nội từ 13 tuổi trở lên là biết ăn trầu. Theo sứ giả nhà
Nguyễn vào đời Trần, ở Thăng Long, 61 phố phường đều trồng rất nhiều cau và
trầu không. Người Hà Nội trước đây có dâu:
“Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phố, mua trầu chợ Dinh.”
Chợ Cầu, chợ Quán là các chợ lẻ, chợ phụ dọc đường, Nam phố là tên cũ
của phố Hàng Bè bây giờ, nơi xưa bán rất nhiều cau tươi, cau khô. Chợ Dinh
9
gần dinh quan phủ Phụng thiên (quãng phố Phủ Doãn và ngõ Huyện bây giờ).
Ngày nay, người Hà Nội ít ăn trầu hơn trước nên không còn những phố bán trầu
mà tập trung phần lớn ở những chợ một số ít được đem bán rong. Người Hà Nội
rất công phu trong cách chọn trầu. Cau ngon phải là cau bánh tẻ, không già,
không non, vừa tới hạt (nửa màu nửa hạt). Người sành ăn thường kén mua cau
Đông ở tỉnh Hải Hưng (cũ) . Từ tháng 8 có thêm cau miền Nam nhưng người ta
ít ăn vì loại cau này nhiều hạt không ngon. Mua tràu phải chọn lá hơi ánh vàng,
nhỏ, dày, tươi. Ngày trứơc có trầu không làng Chả ngon nổi tiếng vì lá nhỏ, vừa
thơm vừa cay, để có được lá trầu như vậy, người làng Chả ngày đó trồng cũng
rất công phu, dàn trầu không phải được trồng trên đất trồng gong. Ngày nay
người Hà Nội ăn trầu Hưng Yên, vào dịp lễ hỏi người ta mua trầu Tây Sơn vì lá
to đẹp. Người ăn sành trầu chọn vôi xứ Đoài - Sơn Tây
Bộ đồ ăn trầu của người Hà Nội gồm có: cơi đựng trầubằng đồng hoặc
quả trầu sơn khảm xà cừ, ống vôi chạm bạc, ống nhổ bằng đồng thau dung quết
trầu. Những cụ già ăn trầu còn có thêm cối giã trầu bằng đồng chạm trổ khá tinh
vi chỉ bỏ vừa miếng trầu, miếng cau, vỏ để giã. Dao bổ cau phải sắc để bổ cau
cho đẹp và hạt không bị vỡ. Cũng chỉ là “Quả cau nho nhỏ, lá trầu xanh” nhưng
cách ăn trầu của người Hà Nội rất duyên dáng, họ ăn trầu không những làm đỏ
môi, răng đen mà còn tạo nét môi cắn chỉ rất đẹp. Người ta không cho cả cau,
trầu và rễ vào cùng một lúc mà ăng từng thứ một. Cau được nhai dập mới cho
trầu vào và sau cùng là rễ quệt thêm một ít vôi, khi ăn người ta thường lấy tay
quệt ngang miệng, lâu dần tạo thành nét môi cắn chỉ.
Ngày nay, ở Hà Nội hầu như chỉ những người trên 60 tuồi mới ăn trầu cho
nên Hà Nội không còn cảnh mời trầu như A.de Rovodes - một người Phap nói
về việc ăn trầu của người Thăng Long thế kỷ XII: “Họ có tục đem theo một vài
túi con đầy trầu cau đeo ở thắt lung, họ để mở trong khi qua lại phố phường để
mời bạn bè. Khi gặp họ bắt đầu chào hỏi nhau, rồi mỗi người lấy ở trong túi của
bạn một miếng trầu để ăn”. Tuy nhiên, quan niệm “miếng trầu là đầu câu
chuyện” của người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung vẫn được áp
10
dụng ở những dịp hiếu, hỉ. Ngày Rằm, mồng Một hoặc các ngày lễ Tết hoặc
trong những dịp lễ ăn hỏi, cưới xin của các gia đình Việt Nam vẫn không thể
thiếu miếng trầu quả cau trên bàn thờ tổ tiên.
Trầu cau chỉ là một thứ nhai chơi, tuy đơn sơ nhưng lại có nhiều ý nghĩa
trên lĩnh vực y học, tâm lý học xã hội… dùng trầu cau còn là một truyền thống
văn hoá của dân tộc. Ngày nay, không mấy ai ăn trầu nhưng nét đẹp đó vẫn
được gìn giữ và áp dụng trong cuộc sống của người dân.
2. Văn hoá người Việt được thể hiện qua cách têm trầu.
Têm trầu được người Việt tiến hành: Lá trầu đã rửa sạch được dọc ra làm
đôi (nếu như lá trầu to), hoặc chỉ dọc bớt cọng già, sau đó để cuốn lại. Rọc xong
quệt vôi lên trên lá trầu, dùng tay cuốn lại, rồi ghim chặt bằng cọng trầu, miếng
trầu đều đặn như chiếc kén xinh xinh. Từ lúc dọc lá trầu đến khi làm nên những
miếng trầu gọi là têm trầu: têm trầu phải đạt 2 yêucầu: vừa vôi và đẹp mắt.
Qua cử chỉ têm trầu, ăn trầu để phán đoán phong cách, tính nết cũng như
nếp sống của con người. Chính vì lẽ đó, khi đi xem mặt nàng dâu tương lai, nhà
trai đòi bằng đựơc cô gái ra têm trầu, trước là để xem mặt cô dâu, sau làđể xem
cử chỉ têm trầu của cô gái mà phán đoán tính nết. Miếng trầu têm vụng là người
không khéo tay; miếng trầu nhỏ miếng, cau to là người không biết tính toán làm
ăn; miếng trầu quệt nhiều vôi là người hoang phí không biết lo xa.
Việc “têm” miếng trầu, nhìn miếng trầu được têm thì người thưởng thức
còn đánh giá được sự khéo tay của người têm trầu (ở cái dáng đẹp hay xấu, ở
nếp gấp, ở cánh trầu…). Chàng hoàng tử trong truyện cổ Tấm Cám nhờ nhìn
vào miếng trầu được têm khéo léo mà nhận ra được vợ mình. Trần Quốc Vượng
viết: “Ăn miếng trầu, càng biết được “tính nết” người têm nó. Giản dị hay cầu
kỳ. Đậm đà hay nhạt nhẽo. Do chất lượng và số lượng vôi bôi trên lá trầu. Và
khi có miếng trầu “ở giữa đậm quế hai đầu thơm cay…”
1
.
1
Vă n hoá Việt Nam tìm tòi v suy ngà ẫm, Nxb Văn học, 2002, tr.293
11
Trong dân gian, một cơi trầu được têm khéo được dùng để đánh giá về nề
nếp, công - dung - ngôn - hạnh củamột cô con gái trong một gia đình. Chính vì
vậy, chỉ mỗi việc têm trầu, người xưa cũng nghĩ ra được kiểu dáng cho miếng
trầu. Tuỳ vào hoàn cảnh, tình huống sửdụng mà miếng trầu được têm theo
những cách khác nhau gắn với những ý nghĩa tượng trưng, ngụ ý gửi gắm của
người têm: trầu cánh phượng, trầu cánh quế, trầu cánh dơi, trầu mũi kiếm, trầu
mũi mắc…
Như trong ca dao đã ghi lại hình ảnh miếng trầu.
Túi gấm lẫn với túi hồng
Têm trầu cánh kiếm cho chồng đi quân.
Têm trầu mũi mác cho chồng đi quân.
Câu ca dao trên, gắn liền với những truyện kể về cuộc khởi nghĩa bà Triệu
(quân ba Triệu mang túi trầu đi đánh giặc, miếng trầu têm hình cánh kiếm và
mũi mác. Đó là vẻ đẹp độc đáo của miếng trầu ra trận. Còn têm trầu trong ngày
cưới người ta thường têm trầu cánh phượng. Nhưng không phải ai cũng làm
được, đám cưới là một nghi lễ rất thiêng liêng và quan trọng vì vậy cũng như
việc chọn người bê mâm trầu xin dâu, hay chọn người têm trầu thì không phải
cũng làm được mà người ta phải chọn ra một người phúc hậu (có gia đình yên
ấm hạnh phúc, con đàn cháu đống thì mới được chọn mặt gửi vàng. Têm trầu
sao cho đẹp, cho đủ gia vị chứ không phải chỉ cuộn tròn viên cho vào miệng,
cùng với trầu là cau, với vôi kết hợp lại cho màu sắc thắm tươi để hưởng vị đắng
cay ngọt bùi của cuộc đời.
Cũng như trà đạo của người Nhật Bản, tục ăn trầu của người Việt Nam
cũng đòi hỏi lắm công phu. Dường như tất cả cái tinh hoá củatụcăn trầu đã được
kết đọng lại trong cách têm trầu. Têm trầu là cả một nghệ thuật. Khi mời trầu,
miếng trầu không chỉ gói gọn trong nó tình cảm nồng thắm mà còn thể hiện cái
nết khéo tay, hay mắt của người têm. Trong các hội làng, bên cạnh trò thi nấu
cơm, làm bánh, dệt cửi, còn có cả thi têm trầu.
12
3. Cau trầu trong một số nghi lễ.
“Đồ sính lễ quí nhất nước Nam không gì bằng trầu cau…”, Trầu cau là lễ
vật của khá nhiều hình thức nghi lễ hàng năm của người Việt. Bên cạnh lễ vật
khác, Trầu cau thuộc loại lễ vật đơn sơ, tinh khiết. Ở đây em chỉ phân tích một
vài hình thức nghi lễ trong đó cau trầu là lễ vật chủ yêú.
3.1. Miếng trầu cúng mụ:
Theo tín ngưỡng dân gian, 12 bà mụ là nguồn gốc sinh ra con người, theo
dõi giúpđỡ con người từ lúc trong trong bụng mẹ đến khi trưởng thành. Em bé
cưới nụ cười đầu tiên, người mẹ nựng “mụ dạy”, em bé bắt đầu hang chuyêbnj,
bà khen “mụ dạy khôn”, chạp chững bước những bước đi đầu tiên em được
người lớn khuyến khích “gắng lên, mụ đỡ…”. Trong năm đầu tiên của cuộc đời,
cha mẹ em bé sửa lễ cúng mụ ba lần, trong dịp:
- Bé ba ngày
- Bé đầy tháng.
- Bé đầy năm.
Để tỏ lòng biết ơn các bà mụ và cầu mong cho bé mau lớn khôn. Tuỳ theo
gia cảnh cỗ cúng có thể thịnh soạn, có thể đơn giản nhưng nhất thiết có một đĩa
trầu gồm 12 miếng dâng lên 12 bà mụ. Lễ vật chủ yếu là 12 miếng trầu. Trong
nhân dân lao động, cùng với đĩa trầu thường có hương, hoa quả (mùa nào thức
ấy) xôi chè ít khi cúng cỗ mặn. Dây là những ngày vui trong gia đình, họ hàng,
bè bạn đến chơi mưng cháu bé, tặng quà cho cháu. Lễ cúng mụ thường không
kèm theo ăn uống linh đình, xa hơn, lãng phí hơn.
3.2. Trong nghi lễ hôn nhân.
Hôn nhân là một lễ nghi quan trọng trong đời sống mỗi con người, trong
hôn nhân, miếng trầu, quả cau là nền tảng, dân gian ta có âu: miếng trầu là đầu
câu chuyện, miếng trầu nên dâu nhà người. Trong mâm cỗ cúng tổ hông - vị
thần của hôn nhân bao giờ cũng có buồng cau và tệp lá trầu, tục lên này không
13
chỉ tồn tại từ xưa nữa mà nó còng tồn tại cho đến tận ngày nay. Không như các
tục lệ khác như tục lệ cưới xin của người Việt, một số nghi lễ trong cưới xin
trong lễ cưới hay vào các ngày cúng gia tiên, lễ tết như trong dịp lễ tết, ở một số
nơi, vào lúc đón giao thừa người chủ nhà sẽ chọn một người hợp tuổi để xông
nhà cho năm mới để sang năm mới, gia đình có nhiều niềm vui, ăn nên làm ra,
thì người xông nhà đó thường mang trầu cau đến và trong buồng cau người ta
xem có đẹp không, mống lá trầu có tươi không mà ước đoán rằng đôi lứa ấy có
đẹp duyên không, có được bách niên giai lão không.
Tục trầu cau một hôn nhân có ý nghĩa từ trong câu truyện thương tâm
trong sự tích trầu cau, tuy họ chết đi nhưng tình yêu còn tồn tại mãi mãi bên
nhau, giúp họ hóa thân thành miếng trâu đỏ thắm để nhắc nhở con người phải
lấy tình nghĩa làm trọng. Như vậy, tục lệ trầu cau của người Việt xuất hiện trong
hôn lễ người Việt là để khơi gợi, nhắc nhở mọi người hướng về một cuộc sống
đạo lý, nghĩa tình thủy chung sâu sắc.“Miếng trầu ân nặng là bao .Muốn cho
đông liễu, tây đào là hơn, trầu này trầu ái trầu ân - trăm cô con gái đầu ăn trầu
này” .Trong lễ cưới truyền thống của người Việt gồm có các thủ tục :
+ Kén chọn
+ Giạm ngõ (chạm mặt).
+ Ăn hỏi.
+ Lễ cưới.
Ngày nay các nghi lễ này đã dần được lược bớt đi, đơn giản hơn, chỉ đi
vào những bước chính:
+ Chạm ngõ
+ Ăn hỏi
+ Cưới.
Nhưng có nơi, việc ăn hỏi đã dần mất đi, không còn nữa, trong các nghi
thức trong lễ cưới này, trầu cau là một trong những lễ vật quan trọng nhất.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét