- Đối với các chi nhánh ngân hàng khác hệ thống:
Xét về quản lí vốn thì mỗi hệ thống NHTM là một doanh nghiệp hạch toán kinh tế
độc lập nên việc quản lí,sử dụng vốn đợc khép kín trong từng hệ thống
NHTM.Chính vì vậy mà việc thanh toán vốn giữa hai chi nhánh ngân hàng khác hệ
thống không thể do một NHTM cấp chủ quản đứng lên thanh toán cho hai chi
nhánh khác hệ thống mà phải do các ngân hàng tự tiến hành thanh toán vốn với
nhau một cách sòng phẳng.
Để phục vụ hoạt động đa dạng của nền kinh tế,hiện nay có nhiều hệ thống NHTM
và TCTD khác nhau.Mặt khác khách hàng đợc quyền lựa chọn ngân hàng để mở
tài khoản.Do vậy mối quan hệ thanh toán vốn giữa các ngân hàng ngày càng phát
triển.Chính vì vậy việc nghiên cứu và xác lập phơng thức quan hệ thanh toán giữa
các ngân hàng là hết sức cần thiết trong hoạt động ngân hàng .
2.1.2 ý nghĩa
Thanh toán giữa các ngân hàng là nghiệp vụ thanh toán qua lại giữa các
ngân hàng nhằm tiếp tục hoàn thành quá trình thanh toán tiền giữa các xí nghiệp,
tổ chức kinh tế cá nhân với nhau mà họ không cùng mở tài khoản tại một ngân
hàng hoặc thanh toán vốn trong nội bộ các hệ thống ngân hàng .
Thanh toán giữa các ngân hàng có ý nghĩa rất to lớn:
+ Thể hiện chức năng tập trung thanh toán của ngân hàng đối với nền kinh tế quốc
dân và điều hòa vốn trong nội bộ ngân hàng
+ Thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán giữa các ngân hàng chính là thực hiện đợc
yêu cầu của công tác thanh toán không dùng tiền mặt.Nhanh chóng,kịp thời,chính
xác,an toàn tài sản,tăng nhanh vòng quay của vốn.
+ Giảm chi phí lu thông do không phải vận chuyển tiền mặt từ nơi này đến nơi
khác,giảm chi phí kiểm đếm giao nhận tiền.
+ Góp phần tiết kiệm lợng tiền mặt trong lu thông từ đó có tác động tới lợng tiền
cung ứng trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
5
Để làm tốt nghiệp vụ thanh toán giữa các ngân hàng thì đòi hỏi ngân hàng phải
cải tiến thể lệ,chế độ thanh toán không dùng tiền mặt cho phù hợp với yêu cầu của
việc trao đổi thanh toán tiền hàng hóa , dịch vụ của toàn xã hội.Tăng cờng trang
thiết bị,kĩ thuật phục vụ thanh toán nhanh chóng , chính xác,cải tiến việc điều hành
và quản lí vốn trong ngân hàng .Chính vì vậy mà làm cho hoạt động ngân hàng
phát triển phong phú về trình độ và cơ sở vật chất kĩ thuật.
2.2Các phơng thức thanh toán
Phơng thức thanh toán phản ánh mối quan hệ thanh toán giữa hai đơn vị ngân
hàng với nhau.Căn cứ vào việc các ngân hàng tham gia thanh toán vốn là cùng hệ
thống hoặc khác hệ thống có các phơng thức thanh toán sau:
-Để thanh toán trong cùng hệ thống ngân hàng có các phơng thức :
+ thanh toán liên hàng
+ thanh toán bù trừ
+ thanh toán qua tài khoản tiền gửi mở tại chi nhánh ngân hàng khác trong cùng hệ
thống
+ thanh toán ủy nhiệm thu hộ,chi hộ.
Để thanh toán khác hệ thống ngân hàng có các phơng thức sau:
+ thanh toán bù trừ
+ thanh toán qua tài khoản tiền gửi mở tại NHNN
+ thanh toán qua tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng khác hệ thống
+ thanh toán ủy nhiệm thu hộ,chi hộ.
ở Việt Nam,tổ chức hệ thống thanh toán giữa các ngân hàng gắn liền với việc
hoàn thiện mô hình tổ chức của các hệ thống ngân hàng Việt Nam qua các thời kì
-Thời kì năm 1989:Thời kì này ngân hàng Việt Nam tổ chức thành ngân hàng 1
cấp(không tách biệt NHNN và các TCTD nên hệ thống thanh toán vốn giữa các chi
nhánh ngân hàng cũng chỉ cùng 1 hệ thống. Phơng thức thanh toán vốn giữa các
6
ngân hàng đợc sử dụng là phơng thức thanh toán liên hàng trong đó các chi nhánh
trong hệ thống trực tiếp thanh toán vốn với nhau,NHTW làm nhiệm vụ kiểm soát
đối chiếu liên hàng cho toàn hệ thống.
-Thời kì 1989 đến nay:Thời kì này nền kinh tế nớc ta đã chuyển từ cơ chế kế
hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trờng theo đó hệ thống ngân hàng 1 cấp cũng
đợc chuyển thành ngân hàng 2 cấp với nhiều hệ thống khác nhau nh hệ thống
NHNN và các hệ thống NHTM.Việc cân đối,điều hòa vốn đợc tổ chức theo từng hệ
thống,do vậy mỗi hệ thống ngân hàng đă tổ chức 1 hệ thống thanh toán dể giải
quyết quan hệ thanh toán trong nội bộ hệ thống.Ngoài hệ thống thanh toán nội bộ
của từng hệ thống ngân hàng còn có hệ thống thanh toán liên ngân hàng để giải
quyết quan hệ thanh toán vốn giữa các đơn vị ngân hàng khác hệ thống.
Trong thời kì kinh tế mở,mối quan hệ kinh tế giữa các vùng,miền khu vực không
ngừng tăng lên .Khoa học tính toán,kĩ thuật điện tử không ngừng phát triển nên xu
hớng chung là phải mở rộng hệ thống thanh toán liên ngân hàng với các trung tâm
thanh toán hiện đại để đảm bảo thanh toán liên ngân hàng trong phạm vi khu vực
và toàn quốc đạt hiệu quả cao.
Các phơng thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng thời kì này tơng đối phong
phú,gồm:
+Thanh toán liên hàng(TTLH) :Thanh toán liên hàng là phơng thức thanh toán
vốn giữa các chi nhánh trong cùng hệ thống nh hệ thống ngân hàng Công Thơng
,hệ thống ngân hàng Đầu T và Phát Triển, Nội dung chủ yếu của phơng thức này
là viêc thực hiện thu hộ,chi hộ giữa hai ngân hàng trong cùng hệ thống ở địa phơng
khác nhau hoặc để chuyển cấp vốn điều hoà trong cùng hệ thống ngân hàng. Để
thực hiện thanh toán liên hàng mỗi hệ thống quy định số hiệu riêng cho hệ thống
mình.Các đơn vị thành viên tham gia thanh toán liên hàng theo sự uỷ nhiệm của
ngân hàng cấp trên (NH Công Thơng VN,NH Đầu T và Phát Triển VN ).Để tham
gia thanh toán liên hàng,các ngân hàng phải đăng kí mẫu dấu, chữ kí của giám đốc
ngân hàng và ngời đợc uỷ quyền;chữ kí của kế toán trởng và ngời đợc uỷ quyền.
7
+Thanh toán bù trừ(TTBT) : Thanh toán bù trừ là phơng thức thanh toán vốn
giữa 2 ngân hàng đợc thực hiện bằng cách bù trừ tổng số phải thu,phải trả để thanh
toán số chênh lệch (kết quả bù trừ) TTBT đợc áp dụng giữa các ngân hàng khác hệ
thống với nhau hoặc giữa các đơn vị ngân hàng cùng 1 hệ thống ngân hàng .Trong
TTBT phải có một ngân hàng chủ trì (ngân hàng chủ trì có thể là NHNN hoặc một
ngân hàng thơng mại nào đó),các ngân hàng thành viên phải mở tài khoản tại ngân
hàng chủ trì và ngân hàng thành viên có sự thoả thuận với nhau,có sự cam kết về
các điều kiện thanh toán Tuỳ thuộc vào phơng pháp trao đổi chứng từ,chuyển số
liệu mà có cơ chế TTBT trên cơ sở chứng từ giấy (TTBT giấy)và TTBT điện tử.
+Thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN: Theo phơng thức này,việc thanh
toán giữa các ngân hàng với nhau đợc thực hiện từng lần theo số tiền ghi trên bảng
kê các chứng từ thanh toán.Ngân hàng bên trả tiền lập bảng kê kèm chứng từ gốc
cho từng ngân hàng,gửi đến NHNN nơi mở tài khoản,yêu cầu NHNN trích tài
khoản tiền gửi để trả cho ngân hàng thụ hởng.Phơng thức này thờng áp dụng đối
với những chuyển tiền nhanhvới số tiền lớn và trong việc điều chuyển vốn của các
ngân hàng thơng mại.
+Thanh toán theo phơng thức uỷ nhiệm lẫn nhau giữa hai ngân hàng: Phơng
thức thanh toán này đợc áp dụng giữa các ngân hàng cùng hoặc khác hệ thốngvà
giữa 2 ngân hàng đã có sự thoả thuận và cam kết với nhau rằng ngân hàng này sẽ
thực hiện thu hộ hoặc chi hộ cho ngân hàng kia trên cơ sở các chứng từ thanh toán
của khách hàng có mở tài khoản tại ngân hàng kia.Việc thu hộ ,chi hộ giữa hai
ngân hàng chỉ đợc tiến hành trong phạm vi những khoản thanh toán đã thoả thuận
và quy định trong hợp đồng.Mỗi khi phát sinh những khoản thu hộ,chi hộ ngân
hàng nơi phát sinh phải gứi các chứng từ thanh toán cho NH có quan hệ để hạch
toán sổ sách.Kết thúc từng định kì thanh toán,các ngân hàng phải đối chiếu số liệu
với nhau,quyết toán số tiền đã thu hộ,chi hộ và thanh toán cho nhau số chênh lệch
phải thu,phải trả.
+Mở tài khoản tiền gửi lẫn nhau để thanh toán:Phơng thức thanh toán này đợc
sử dụng cho các ngân hàng cùng hoặc khác hệ thống để thanh toán cho nhau với
8
điều kiện các ngân hàng tham gia thanh toán phải làm thủ tục đăng kí mẫu dấu,chữ
kí của ngời có thẩm quyền giữa hai ngân hàng .Trong phơng thức này,một trong
hai ngân hàng mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng kia để hạch toán các khoản
thanh toán có liên quan đến hai ngân hàng .Việc thanh toán giữa hai ngân hàng đ-
ợc thực hiện trên cơ sở các bảng kê chứng từ do ngân hàng phát sinh nghiệp vụ lập
và các chứng từ của khách hàng.
II.Tổng quan về phơng thức thanh toán liên hàng
1.Khái niệm
Thanh toán liên hàng là việc thanh toán nội bộ giữa các chi nhánh ngân hàng
tỉnh ,thành phố,sở giao dịch trong hệ thống ngân hàng.Nó là một bộ phận của
thanh toán không dùng tiền mặt.
2.Các giai đoạn phát triển của phơng thức thanh toán liên hàng
Do yêu cầu thanh toán của xã hội ngày càng cao,và cùng với sự tiến bộ của
khoa học kĩ thuật mà kĩ thuật thanh toán liên hàng đợc cải tiến và ngày càng hoàn
thiện hơn.Từ thủ công ,bán thủ công đến thanh toán điện tử,thanh toán liên hàng đã
không ngừng góp phần vào công tác thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
2.1 Liên hàng truyền thống
Theo liên hàng truyền thống,các giấy báo liên hàng đợc viết bằng tay,việc xử
lí chứng từ và kĩ thuật hạch toán theo phơng pháp thủ công và luân chuyển chứng
từ thì thông qua cơ quan bu điện dới hai hình thức là chuyển tiền th và chuyển tiền
điện.Phơng thức kiểm soát và đối chiếu trong thanh toán liên hàng là phơng thức
kiểm soát tập trung ,đối chiếu phân tán. Trong phơng thức này các chi nhánh
trực tiếp gửi chuyển tiền cho nhau,trung tâm thanh toán làm nhiệm vụ kiểm soát tất
cả các chuyển tiền sau đó lập sổ đối chiếu gửi các chi nhánh nhận chuyển tiền để
các ngân hàng này đối chiếu(đối chiếu phân tán ở các ngân hàng nhận chuyển
tiền).
9
Chỉ thị số 98/NH-CT ngày 07/10/1976 của NHNN Việt Nam về thanh toán
liên hàng là văn bản pháp lí đầu tiên quy định về việc áp dụng phơng thức thanh
toán liên hàng trong thanh toán vốn giữa các ngân hàng Việt Nam Theo đó,thanh
toán liên hàng truyền thống đợc thực hiện trong suốt một thời gian dài từ năm 1976
đến năm 1992 và đã góp phần đáng kể trong việc thực hiện chức năng trung tâm
thanh toán của ngân hàng .Hình thức thanh toán này phù hợp với mô hình tổ chức
hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng nh trình độ công nghệ lúc bấy giờ. Tuy nhiên
do hạn chế của hình thức thanh toán này là chứng từ thì luân chuyển chậm,hay bị
thất lạc,thanh toán không dùng tiền mặt diễn ra chậm trễ,vốn nằm trong thanh toán
lớn gây lãng phí cho ngân hàng và cho xã hội,tốc độ luân chuyển vốn chậm không
tạo đà thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển nên nó đã dần đợc thay thế bằng hình
thức thanh toán tiến bộ hơn.Hiện nay thanh toán liên hàng truyền thống chỉ còn là
cơ sở lí luận cho việc thực hiện các hình thức thanh toán liên hàng sau này.
2.2Liên hàng có ứng dụng máy vi tính
ở hình thức liên hàng này,các kĩ thuật nghiệp vụ đều đợc thực hiện trên cơ sở
nghiệp vụ thanh toán liên hàng truyền thống . Cụ thể là : Trên cơ sở chứng từ thanh
toán của khách hàng hay của nội bộ ngân hàng ,bộ phận thanh toán liên hàng lập
giấy báo liên hàng.Khi thanh toán liên hàng qua mạng máy vi tính,giấy báo liên
hàng đợc lập 1 liên thay vì 3 liên nh trớc .Trên cơ sở giấy báo liên hàng đợc lập bộ
phận điện toán chuyển hoá giấy báo liên hàng,chứng từ gốc thành chứng từ thanh
toán điện tử rồi chuyển cho trung tâm thanh toán.Trung tâm thanh toán sẽ chuyển
tiếp cho ngân hàng nhận chuyển tiền.Tại ngân hàng nhận,khi nhận đợc chứng từ
thanh toán điện tử thì chuyển hoá thành các giấy báo liên hàng đến,các chứng từ
gốc để làm chứng từ thanh toán cho khách hàng đồng thời lu vào hồ sơ kế toán.Nh
vậy là ngân hàng chuyển tiền thay vì chuyển trực tiếp 1 liên giấy báo liên hàng cho
ngân hàng nhận chuyển tiền mà chuyển gián tiếp qua trung tâm thanh toán bằng
chơng trình qua máy vi tính,và không phải gửi liên 2 giấy báo kèm sổ đối chiếu
liên hàng về trung tâm.Ngân hàng nhận chuyển tiền không phải kiểm soát mẫu
dấu chữ kí trong thanh toán liên hàng của ngân hàng chuyển tiền bới các giấy báo
10
đợc chuyển hoá có khoá bảo mật riêng.Trung tâm thanh toán trớc đây phải lập sổ
đối chiếu liên hàng cho từng ngân hàng nhận có liên quan thì nay việc đối chiếu
liên hàng đợc lập trên cơ sở máy vi tính và truyền qua mạng tới các ngân hàng
thành viên.Trên cơ sở số liệu đối chiếu qua máy,bộ phận thanh toán liên hàng lập
phiếu làm chứng từ hạch toán đối chiếu liên hàng.Việc kiểm soát và đối chiếu thực
hiện nh trong thanh toán liên hàng truyền thống:kiểm soát tập trung,đối chiếu
phân tán. Việc sử dụng máy vi tính trong thanh toán liên hàng đã rút ngắn đợc
thời gian luân chuyển chứng từ và làm cho quá trình thanh toán đợc diễn ra nhanh
hơn.
2.3 Thanh toán điện tử
Tên gọi của phơng thức đã phản ánh rõ tính chất khác biệt với các phơng thức
TTLH khác.TTĐT có nghĩa là việc thanh toán vốn giữa các đơn vị ngân hàng thực
hiện bằng kĩ thuật điện tử.Với việc kết nối máy tính trong nội bộ ngân hàng cũng
nh trong toàn hệ thống mà ta gọi là mạng máy tính cục bộ,khâu thanh toán vốn
giữa các ngân hàng đã đợc giải quyết một cách nhanh chóng,chính xác và an
toàn.TTĐT có thể nói là một cuộc cách mạng trong TTLH.Việc ứng dụng TTĐT
vào ngân hàng đã khắc phục đợc sự chậm trễ trong TTLH.Trớc kia thời gian luân
chuyển có thể kéo dài từ 5 đến 7 ngày do phải chuyển qua bu điện.Còn bây giờ với
công nghệ tiên tiến TTĐT việc chuyển tiền thanh toán qua ngân hàng chỉ thực hiện
trong một ngày thậm chí một vài giờ đồng hồ.
Có một điểm cần biết ở phơng thức này là tuỳ điều kiện của từng nớc mà áp
dụng hình thức TTĐT cho phù hợp.ở những nớc mà cơ sở hạ tầng và công nghệ
thông tin thấp,sử dụng hệ thống kế toán không đồng bộ thì hình thức TTĐT sử
dụng giữa các chi nhánh ngân hàng là hình thức thanh toán điện tử có chứng từ,tức
là giữa các ngân hàng có sự nối mạng thanh toán với nhau nhng phải in ra chứng
từ để hạch toán.Hình thức này hoàn toàn phù hợp với hệ thống ngân hàng Việt
Nam hiện nay.Một hình thức khác của thanh toán điện tử là thanh toán điện tử
không có chứng từ.Đó là hình thức thanh toán mà việc hạch toán đợc thực hiện 1
11
cách tự động.Hình thức này đợc sử dụng giữa các chi nhánh ngân hàng có hệ thống
công nghệ thông tin hiện đại,sử dụng hệ thống kế toán đồng bộ.
III. Những vấn đề chung về Thanh Toán Điện Tử.
1.Khái niệm về TTĐT
Thanh toán điện tử là phơng thức thanh toán vốn giữa các chi nhánh ngân
hàng trong cùng hệ thống thông qua mạng máy tính. Nó đợc phát sinh trên cơ sở
thanh toán không dùng tiền mặt,thanh toán công nợ,thanh toán cấp vốn và điều hoà
vốn trong từng hệ thống ngân hàng .
Theo quy chế của NHCTVN TTĐT đợc hiểu là việc chuyển tiền và hoàn tất
một lệnh thanh toán thông qua mạng máy tính giứa các chi nhánh trong nội bộ
NHCTVN.TTĐT có thể là chuyển có hoặc chuyển nợ đã đợc uỷ quyền.Phơng thức
TTĐT của NHCTVN là sự kế thừa và thay thế phơng thức TTLH truyền thống,liên
hàng qua mạng máy vi tính bằng 1 chơng trình thanh toán mới nhờ việc áp dụng
những thành tụ của công nghệ thông tin.TTĐT tại NHCTVN là chơng trình hạch
toán quản lí điều hành vốn tập trung trong hệ thống NHCTVN, giúp NHCTVN
điều hành vốn một cách linh hoạt,việc thanh toán giữa các ngân hàng diễn ra
nhanh chóng thuận tiện.Đồng thời cũng giúp nâng cao vị thế của hệ thống
NHCTVN trong hệ thống các ngân hàng thơng mại VN.
2.Những quy định chung về TTĐT.
Mọi khách hàng giao dịch với ngân hàng đợc tham gia hệ thống TTĐT theo
cơ chế thanh toán qua ngân hàng ban hành theo quy định số 22/QĐNH1 của thống
đốc NHNN.
Khi có nhu cầu thanh toán trong hệ thống ngân hàng ,khách hàng(ngời phát
lệnh thanh toán)phải lậpvà nộp chứng từ vào chi nhánh của ngân hàng phục vụ
mình (ngân hàng gửi lệnh)theo đúng quy định của ngân hàng .Các nghiệp vụ phát
sinh trong TTĐT đợc hoàn tất trong một ngày làm việc.Trờng hợp khách hàng yêu
cầu chi nhánh ngân hàng phục vụ chuyển nhanh thì hoàn tất từ 1 đến 3 giờ.
12
Các trởng phòng kế toán chi nhánh ngân hàng chịu trách nhiệm về kiểm soát
tính hợp lệ,hợp pháp các chứng từ thanh toán,về quy trình chuyển tiền đi và đến
cũng nh hạch toán vào các TK thích hợp.
Trung tâm điện toán ngân hàng chịu trách nhiệm về đảm bảo kĩ thuật của các
thông tin trên đờng truyền từ thông tin thanh toán đến các chi nhánh ngân hàng
.Căn cứ vaò chức năng nhiệm vụ đã đợc giao,cá nhân tham gia thanh toán chấp
hành nghiêm túc quy định của chế độ TTĐT.
3.Những quy định cụ thể về TTĐT.
3.1 Tài khoản TTĐT:
Quy trình TTĐT đồng thời là quy trình hạch toán quản lí điều hành vốn tập
trung trong hệ thống NHCT Việt Nam.Để cho phù hợp với cơ chế quản lí vốn của
mình,NHCT Việt Nam sử dụng một tài khoản duy nhất là điều chuyển vốn để hạch
toán toàn bộ nghiệp vụ chuyển tiền đi và chuyển tiền đến.Tại trung tâm thanh
toán(TTTT) và các chi nhánh ngân hàng Công Thơng (CNNHCT) mở các tài khoản
cấp V,chi tiết theo từng nguồn vốn bao gồm:
1. Tài khoản 5191.01999-Điều chuyển vốn trong kế hoạch bằng VNĐ.
2. Tài khoản 5191.02999-Điều chuyển vốn ngoài kế hoạch bằng VNĐ.
3. Tài khoản 5191.04999-Điều chuyển vốn tài trợ uỷ thác đầu t bằng VNĐ.
4. Tài khoản 5191.05999-Điều chuyển vốn khoanh nợ bằng VNĐ.
5. Tài khoản 5191.06999-Điều chuyển vốn kí quỹ bằng VNĐ.
6. Tài khoản 5191.07999-Điều chuyển vốn quá hạn bằng VNĐ.
7. Tài khoản 5191.08999-Điều chuyển vốn chờ thanh toán bằng VNĐ.
8. Tài khoản 5191.09999-Điều chuyển vốn thanh toán khác hệ thống bằng VNĐ
Trong đó ba tài khoản đầu đợc thực hiện qua mạng máy tính trên cơ sở các chứng
từ TTĐT đi và đến.Các tài khoản còn lại chỉ để hạch toán tại CNNHCT hoặc TTTT
trên cơ sở thực hiện các mối quan hệ với ba tài khoản đầu.
13
NHCT Việt Nam mở tài khoản chi tiết cho từng chi nhánh đối với từng loại
vốn theo từng mã chi nhánh( mã chi nhánh NHCT Đống Đa là 126).
Tất cả các khoản thanh toán điều chuyển vốn đều thông qua tài khoản điều
chuyển vốn trong kế hoạch.
Các khoản sai sót nhầm lẫn đợc hạch toán vào một tài khoản:Điều chuyển vốn
chờ thanh toán.
Nội dung tính chất các tài khoản đợc thực hiện theo chế độ kế toán hiện hành
của NHCTVN đợc quy định tại quyết định số 70/QĐ-NHCT10 ngày 01/03/1999
của tổng giám đốc NHCTVN về việc ban hành hệ thống tài khoản kế toán
NHCTVN
3.2 Chứng từ điện tử.
Trong thanh toán liên hàng truyền thống chứng từ sử dụng hoàn toàn là bằng
giấy.Đó là các loại giấy báo liên hàng dùng làm lệnh thanh toán vốn trong nội bộ
ngân hàng ,các chứng từ gốc dùng làm căn cứ thanh toán vốn của khách hàng hoặc
nội bộ ngân hàng .Và chứng từ đợc luân chuyển bằng th hoặc bằng điện qua cơ
quan bu điện.Còn trong TTĐT điện tử thay thế cho các chứng từ giấy là các chứng
từ điện tử.
3.2.1 Khái niệm
Chứng từ điện tử là hình thức của lệnh thanh toán đợc sử dụng trong
TTĐT,thay thế cho chứng từ bằng giấy,đợc truyền đi giữa các ngân hàng qua mạng
vi tính.Chứng từ điện tử đợc tạo trên hệ thống máy vi tính thông qua việc chuyển
hoá chứng từ giấy thành chứng từ điện tử.Khi chuyển hoá phải đảm bảo đúng mẫu
đã đợc cài đặt trong máy,đầy đủ các yếu tố của chứng từ điện tử và chính xác với
số liệu gốc.Chơng trình thanh toán điện tử đã cài đặt sẵn các mẫu chứng từ nh
:Giấy nộp tiền,NPTT(cá nhân);uỷ nhiệm chi doanh nghiệp;séc chuyển khoản
Chứng từ điện tử đợc chuyển hoá thành chứng từ giấy để vừa làm căn cứ để
hạch toán tài khoản điêù chuyển vốn vừa làm chứng từ cho khách hàng.
3.2.2 Nội dung chứng từ điện tử:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét