Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước Mác

Tiểu luận Triết học
A. Lời nói đầu
Lịch sử Triết học là một phần học trong chơng trình môn Triết học Mác -
Lênin ở các trờng Đại học và Cao đẳng giúp ngời học nắm đợc quá trình hình
thành phân tích những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, qui luật của t duy triết
học nhân loại, đồng thời nhận thấy rõ sự ra đời của phát triển của triết học Mác
- Lênin là một tất yếu hợp qui luật chứ không phải là một trào lu biệt lập nằm
ngoài dòng chảy của văn minh nhân loại.
Hạt nhân lí luận trong Triết học Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật và phép
biện chứng là những phát sinh lớn nhất của Mác - Ănghen và đợc Lênin kế tục
phát triển, là cơ sở lí luận và kim chỉ nam cho hoạt động của các Đảng Cộng
sản. Tuy nhiên không phải Mác - Ănghen xây dựng nên chúng từ mảnh đất
không mà phải chọn lựa kế thừa những t tởng tiến bộ trong lịch sử phát triển tr-
ớc đó. Vậy quá trình phát triển của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng diễn
ra nh thế nào. Điều đó tôi sẽ làm sáng tỏ trong nội dung bài tiểu luận với đề tài:
"Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy
vật trớc Mác".
Mặc dù tôi đã cố gắng tìm tòi với tinh thần trách nhiệm, song do mới tiếp
xúc với triết học, kiến thức còn nhiều hạn chế chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong thầy chủ nhiệm bộ môn cùng các bạn đọc góp ý bổ
sung để tôi có thể hoàn thiện thêm kiến thức của mình.
Tôi xin cảm ơn!
Tiểu luận Triết học
B. Nội dung
1. Chủ nghĩa duy vật trớc mác
Chủ nghĩa duy vật là một trong hai trờng phái cơ bản của triết học. Xuất
hiện ngay từ thời cổ đại khi triết học mới bắt đầu hình thành. Từ đó đến nay lịch
sử phát triển của nó luôn gắn liền với lịch sử phát triển của khoa học và thực
tiễn. Nó đã trải qua nhiều hình thức khác nhau nhng đều thống nhất với nhau ở
chỗ coi vật chất là cái có trớc và cái quyết định ý thức, đề xuất phát từ bản thân
thế giới để giải thích thế giới.
Lịch sử chủ nghĩa duy vật phát triển qua nhiều thời kỳ và ngày càng hoàn
thiện, trở thành một nội dung quan trọng trong chủ nghĩa Mác - Lênin và đợc
vận dụng rất nhiều trong các lĩnh vực của đời sống. Bây giờ ta sẽ nghiên cứu
từng thời kì lịch sử phát triển của nó.
1.1. Hình thái duy vật chất phác ngây thơ thời cổ đại
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này nói chung là đúng đắn nh-
ng mang tính ngây thơ chất phác vì chủ yếu dựa vào quan sát trực tiếp, cha dựa
vào các thành tựu của các bộ môn khoa học chuyên ngành vì lúc đó cha phát
triển.
1.1.1. Chủ nghĩa duy vật ấn Độ cổ đại
ở ấn Độ, chủ nghĩa duy vật xuất hiện tơng đối sớm và mang những nét
độc đáo, tập trung ở một số trờng phái sau:
1.1.1.1. Trờng phái Sam Khuya
Vào thời gian đầu, triết lý Samkhuya không thừa nhận "tinh thần vũ trụ
tối cao" phủ nhận sự tồn tại của thần. Ngợc lại nó khẳng định thế giới này là thế
giới vật chất. Đã giải thích mọi vật của thế giới là kết quả của sự thống nhất ba
yếu tố. Đó là Sativa (sự trong sáng), Tamas (tính ỳ thụ động) và Rajas (kích
thích động). Khi 3 yếu tố này ở trạng thái cân bằng thì vật chất đầu tiên cha
biểu hiện nhng khi cân bằng bị phá vỡ thì sinh thành vạn vật của vũ trụ.
Tiểu luận Triết học
Tuy nhiên quan niệm về vật chất của phái Samkhuya còn có nhiều hạn
chế. Họ cho ràng dạng vật chất đầu tiên là không nhận biết đợc và giải thích về
hình thành vạn vật còn cha đúng đắn đó là quan niệm về sự hình thành thế giới
hữu hình đa dạng từ thế giới vô hình, đồng nhất.
1.1.1.2. Trờng phái Nyaya:
Thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất rất phong phú đa dạng bao gồm
nhiều sự vật, hiện tợng. Thế giới này tồn tại trong không gian do các hạt nhỏ
cấu tạo nên và đợc gọi là nguyên tử. Nguyên tử của thực thể này khác nguyên tử
của thực thể kia ở chất lợng, hình dạng và cách kết hợp. Các vật thể chỉ tồn tại
nhất thời, thờng xuyên thay đổi và chuyển hoá. Đây quả là một quan niệm thiên
tài hết sức đúng đắn trong điều kiện khoa học tự nhiên thời bấy giờ cha phát
triển. Đã để lại một t tởng quý báu cho nhân loại mà các nhà duy vật sau này
tiếp tục kế thừa và phát huy.
Tuy nhiên chủ nghĩa duy vật của phái Nyaya còn hạn chế ở chỗ coi thế
giới vật chất tạo nên bởi 4 yếu tố đất, nớc, lửa, không khí, cho rằng nguyên tử
không biến đổi, không chia cắt đợc. Âu cũng là do hạ chế về khoa học tự nhiên
lúc bấy giờ.
1.1.2. Chủ nghĩa duy vật Trung Hoa cổ đại
Trung Quốc là một trong những trung tâm văn minh lớn của Phơng Đông
cổ - trung đại. Cùng với những phát minh có tính chất vạch đờng trên mọi lĩnh
vực khoa học tự nhiên , y học, Trung Quốc còn là quê hơng của nhiều hệ thống
triết học lớn. Nhìn một cách tổng thể, các trờng phái triết học cổ đại Trung
Quốc đa phần theo khuynh hớng duy tâm, tuy nhiên vẫn có một số t tởng duy
vật tiến bộ có ý nghĩa to lớn mà điển hình là Mạc Gia.
Mạc Gia đầu tiên đề xuất quan hệ giữa thực và danh nh một phạm trù triết
học. Chủ trơng "lấy thực đặt tên để nêu ra cái thực","cái dùng để gọi tên, cái đ-
ợc gọi lên là thực". Điều đó có nghĩa khách quan là tồn tại thực.
Đồng thời, Mạc Gia cho rằng để đánh giá đúng sai trong thực tế khách
quan phải dựa vào 3 tiêu chuẩn: trớc hết lập luận phải có căn cứ, thứ hai phải đ-
ợc chứng minh và thứ ba lập luận cần có hiệu quả. Thuyết "tam biểu" này của
Tiểu luận Triết học
Mạc Gia thể hiện thuyết phản ánh của chủ nghĩa duy vật chất phác, các học
thuyết cùng thời khó sánh kịp.
Về sau thời Hậu Mạc đã phát triển khía cạnh duy vật lên một tầm cao
mới. Họ cho rằng sự tồn tại của vật chất là bất diệt, hình thái tồn tại của sự vật
thì có thay đổi, thời gian, không gian liên hệ mật thiết với sự vận động của sự
vật. Vật thể vận động trong không gian và thời gian và muốn nhận thức đợc thế
giới, trớc hết nhờ các khí quan cảm giác (tai, mũi, miệng, mắt, thân) đồng thời
để nhận thức sâu sắc sự vật, con ngời phải nhờ tâm, tức là hoạt động t duy là
quá trình phân tích so sánh, tổng hợp trừu tợng hoá để đạt đến ý nghĩa của nó.
Vì vậy họ đã làm rõ mối quan hệ giữa cảm giác và t duy.
Các triết gia hậu Mạc còn phân ra tri thức thành 3 loại: "Văn tử" là sự
hiểu biết nhờ sự truyền thụ của ngời khác, "Thuyết trị" là kết quả do sự hoạt
động suy luận đem lại, "Thân trị" là kết quả do sự quan sát, đúc kết kinh
nghiệm đem lại.
Những quan điểm duy vật của phái Mạc Gia đã hơn hẳn những phái khác
về nhận thức lý luận. Hệ thống lôgic của họ đã tấn công vào thuyết hoài nghi và
bất khả thi của phái Trang - Chu. Đồng thời phê phán khía cạnh duy tâm trong
học thuyết của phái Công Tôn Long.
Tuy vậy, học thuyết của Mạc Gia vẫn không tránh khỏi một số sai lầm
nh xem trời là đấng anh minh có quyền lực tối cao, trời tạo ra muôn loài. Mạc
Tử còn tin có cả quỉ thần giám sát hành vi con ngời. Dù vậy, những t tởng của
Mạc Gia đã khiến cho thế hệ sau này phải ngỡng mộ bởi tính đúng đắn tiến bộ
của nó trong điều kiện hết sức lạc hậu nh vậy. Cũng có lẽ vì thế mà học phái
Mạc Gia đã không có chỗ đứng trong t tởng của giai cấp phong kiến và bị tuyệt
diệt vào đời Tần hán.
1.2. Chủ nghĩa duy vật Phơng Tây cổ đại
1.2.1.Triết học Hy Lạp cổ đại
Thời cổ đại, các ngành khoa học của Hy Lạp đã rất phát triển, đặc biệt
thiên văn, toán học, y học Triết học duy vật nhờ đó phát triển rực rỡ, chứa
Tiểu luận Triết học
đựng hầu hết các nội dung cơ bản của nó. Sau đây ta sẽ xem xét một số trờng
phái tiêu biểu.
1.2.1.1. Hêraclit (530-470 TCN)
Ông cho rằng thế giới muôn vật không do thần thánh nào tạo nên, cũng
không phải con ngời tạo ra mà là do ngọn lửa vĩnh viễn, linh động nhen nhóm
lên. Mọi sự vật luôn ở trạng thái vận động, biến đổi và chuyển hoá qua lại. Ông
nêu lên t tởng hiện vật đều trôi đi, hiện vật đều biến đổi "ngời ta không thể tắm
2 lần trên 1 dòng sông".
"Mặt trời luôn luôn luôn đổi mới và vĩnh viễn đổi mới"
Theo ông nguồn gốc của mọi sự vật thay đổi là sự thống nhất và đấu tranh
giữa các mặt đối lập trong sự vật. Mọi vật đều nảy nở trong quá trình đấu tranh
và sự vận động, phát triển liên tục của sự vật tuân theo các yếu tố khách quan,
qui luật quyết định.
Về lý luận nhận thức, Hêraclit cho rằng nhận thức là phản ánh hiện tợng
khách quan. Ông chia quá trình nhận thức ra làm 2 giai đoạn cảm tính và lí tính.
Hai giai đoạn này có quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể chỉ có một giai đoạn
tồn tại độc lập.
Về hạn chế: Hêraclit đã quan niệm lửa là nguồn gốc tạo ra vạn vật. Mọi
vật trao đổi với lửa và lửa trao đổi với tất cả. Mọi sự biến hoá của sự vật dựa trên
sự chuyển hoá của chúng thành những dạng vật chất đối lập với bản thân chúng.
"Nớc sinh ra từ cái chết của đất, không khí sinh ra từ cái chết của nớc, lửa sinh
ra từ cái chết của không khí.
1.2.1.2. Triết học Hy Lạp thế kỷ V
* Đêmôcrit
Ông là nhà Triết học duy vật cổ đại nhất trong thế giới cổ đại. Ông là ng-
ời hiểu biết sâu rộng rất nhiều lĩnh vực: Triết học, toán học, đạo đức học, sinh
vật học là học trò và ng ời kế tục phát triển quan điểm của Lơxip.
Đêmôcrit cho rằng nguyên tử không nhìn thấy đợc, không âm thanh, màu
sắc và mùi vị. Chúng đồng nhất với nhau về chất nhng khác nhau về hình thức,
thứ tự và t thế. Ông quan niệm nguyên tử là vô hạn về lợng và hình thức. Mỗi sự
Tiểu luận Triết học
vật đều đợc cấu tạo bởi những nguyên tử do sự kết hợp giữa chúng với nhau
theo một trật tự và thế nhất định.
Sự biến đổi vật chất là do sự thay đổi trình tự sắp xếp của những nguyên
tử tạo thành còn bản thân nguyên tử thì không thay đổi.
Nguyên tử luôn vận động trong không gian ông thấy rõ quan hệ chặt chẽ
giữa vật chất và vận động. Vận động là vốn có của nguyên tử chứ không phải đ-
ợc đa từ ngoài vào. Nhng ông cha thấy đợc nguồn gốc của vận động và vận
động không chỉ là sự di chuyển trong chân không của các nguyên tử.
Dựa vào thuyết nguyên tử, Đêmôcrit thừa nhận sự ràng buộc lẫn nhau
theo quy luật nhân quả tính khách qan trong tính tất yếu của sự vật, hiện tợng tự
nhiên. Đó là đóng góp quan trọng của Đêmôcrit vào triết học duy vật. Song ông
lại phủ nhận tính ngẫu nhiên, ông coi ngẫu nhiên là một hiện tợng không có
nguyên nhân.
Đêmôcrit bác bỏ quan nhiệm về sự sản sinh ra sự sống và con ngời của
thần thánh. Theo ông sự sống là kết quả của quá trình biến đổi dần đần từ thấp
đến cao cảu tự nhiên. Sinh vật đầu tiên sống ở dới nớc, sau đó chuyển lên cạn,
cuối cùng con ngời đợc ra đời. Ông coi cái chết là sự phân tích của các nguyên
tử tạo nên xác và của những nguyên tử cấu tạo lên tinh hồn chứ không phải linh
hồn rời khởi thể xác. Tuy quan niệm của Đêmôcrit còn mang tính mộc mạc
song nó giữ vai trò rất quan trọng trong việc chống các quan điểm duy tâm và
tôn giáo về tính bất tử của linh hồn ngời.
Đêmôcrit đã có công lao to lớn trong xây dựng lý luận nhận thức giải
quyết một cách duy vật vấn đề đối tợng của nhận thức, vai trò của cảm giác là
điểm khởi đầu của nhận thức và t duy trong việc nhận thức thế giới.
Ông cho rằng đối tợng của nhận thức là vật chất, là thế giới xung quanh
con ngời và nhờ sự tác động của đối tợng nhận thức vào con ngời nên con ngời
mới nhận thức đợc.
Đêmôcrit phân chia nhận thức thành nhận thức mờ tối và nhận thức chân
lý. Nhận thức mờ tối do các giác quan đem lại còn nhận thức chân lý là do sự
phân tích sâu sắc về sự vật để nắm bắt bản chất bên trong của nó.
Tiểu luận Triết học
Triết học duy vật của Đêmôcrit đã đóng vai trò quan trọng trog chủ nghĩa
vô thần. Ông cho rằng sự tồn tại của thần chẳng qua là sự cách hoá những hiện
tợng của tự nhiên hay những thuộc tính của con ngời chẳng hạn thần Dớt là sự
nhân cách hoá mặt trời, thần ATêna là sự nhân cách hoá thuộc tính của con ng-
ời.
1.3. Duy vật Tây Âu Trung Cổ Phục Hng và cận đại: đây là những
thời kỳ mà chủ nghĩa duy vật có nhiều thắng lợi rực rỡ.
1.3.1. Fran xiBêcơn (1561 - 1621):
Là ngời sáng lập triết học duy vật Anh. Becơn thừa nhận sự tồn tại khách
quan của Thế giới vật chất khoa học không biết cái gì khác ngoài thế giới vật
chất, ngoài giới tựnhiên ông cho rằng con ngời cần phải thống trị làm chủ
tựnhiên. Điều đó thực hiện đợc hay không phụ thuộc vào hiểu biết của con ngời.
Theo BêCơn, nhận thức tốt nhất là đi từ cái riêng lẻ đến cái chung, cái
trừu tợng. Tri thức chỉ có thể đạt đợc bằng cách giải quyết những quan hệ nhân
quả hiểu biết đúng là hiểu biết bằng nguyên nhân.
Song chủ nghĩa duy vật của Bêcơn là duy vật siêu hình. Ông quy sự vận
động của vật chất thất thành sự lặp lại vĩnh viễn những hình tứhc bất biến. Ông
cũng cha vợt qua đợc bức tờng tôn giáo và nhà thờ để hoàn toàn tự do với những
t tởng khoa học và biết học đặc sắc của mình.
1.3.2. Lút Vích Phoi ơ bắc (1807 - 1872):
Là một nhà nhân vật kiệt suất trớc Mác, là nhà t tởng của giai cấp t sản
dân chủ. Có công lớn trong phê phán chủ nghĩa duy tâm công Hêghen nói riêng
và chủ nghĩa duy tâm nói chung phê phán tôn giáo, khôi phục chủ nghĩa duy vật
cổ đại.
Phoi ơ bắc cho rằng thế giới vật chát không do ai sáng tạo ra, tồn tại
khách quan không phụ thuộc vào ý thức của con ngời. Giới tự nhiên vận động
biến đổi do những nguyên nhân bên trong của nó.
Ông cho rằng ý thức là sản phẩm của con ngời. Nếu vật chất cha tiến hoá
đến con ngời thì cha có ý thức.
Tiểu luận Triết học
Phoi ơ bắc giải quyết vấn đề nhận thức trên quan điểm duy vật và không
có gì con ngời không nhận thức đợc, chỉ có cái cha nhận thức đợc mà thôi.
Tuy nhiên khi khẳng định nhận thức của con ngời, Phoi ơ bắc nhấn mạnh
mặt quan sát chứ không quan tâm đến mặt quan trọng tạo nên nhận thức là hoạt
động thực tiễn. Ông coi thờng thực tiễn, hạ thấp vai trò thực tiễn. Đồng thời con
ngời mà Phoi ơ bắc nghiên cứu là con ngời thuần tuý động vật. Tức ông chỉ
quan tâm đến mặt sinh học mà không quan tâm đến mặt xã hội. Vì vậy, con ng-
ời của Phoi ơ bắc là con ngời trừu tợng.
2. Phép biện chứng trớc Mác
2.1. Phép biện chứng thời cổ đại
Phép biên chứng thời cổ đại là phép biện chứng tự phát, ngây thơi và mang
nặng tính trực quan đợc hình thành trên cơ sở quan sát tự nhiên, xã hội hoặc
thông qua kinh nghiệm của bản thân. Ba trung tâm triết học lớn nhất thời bấy
giờ là: Triết học Trung Hoa cổ đại, triết học ấn Độ cổ đại và triết học Hy Lạp
cổ đại. Bên cạnh những đặc điểm chung, do đặc điểm văn hoá cũng nh hoàn
cảnh lịch sử khác nhau nên sự thể hiện t tởng biện chứng trong học thuyết triết
học mỗi trung tâm đều có những đặc điểm riêng không giống nhau.
2.1.1. Triết học Trung Hoa cổ đại
Triết học Trung hoa cổ đại là một nền triết học lớn của nhân loại, có tới 103
trờng phái triết học. Do đặc điểm của bối cảnh lịch sử Trung Hoa lúc đó là xã
hội loạn lạc, đời sống nhân dân cơ cực, đạo đức suy đồi nên triết học Trung hoa
cổ đại tập trung vào giải quyết các vấn đề về chính trị - xã hội. Những t tởng
biện chứng thời này chỉ thể hiện khi các nhà triết học kiến giải những vấn đề về
vũ trụ quan.
Một trong những học thuyết triết học mang t tởng biện chứng sâu sắc là Học
thuyết Âm - Dơng. Đây là một học thuyết triết học đợc phát triển trên cơ sở một
bộ sách có tên là Kinh Dịch. Một trong những nguyên lý triết học cơ bản nhất là
nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong tính đồng nhất tuyệt đối, mà cũng
không phải trong sự loại trừ biệt lập không thể tơng đồng. Trái lại tất cả đều bao
Tiểu luận Triết học
hàm sự thống nhất của các mặt đối lập - đó là Âm và Dơng. Âm - Dơng không
loại trừ, không biệt lập, mà bao hàm nhau, liên hệ tơng tác lẫn nhau, chế ớc lẫn
nhau. Kinh dịch viết: "Cơng nhu tơng thôi nhi sinh biến hoá", "Sinh sinh chi vi
dịch". Sự tơng tác lẫn nhau giữa Âm và Dơng, các mặt đối lập, làm cho vũ trụ
biến đổi không ngừng. Đây là quan điểm thể hiện t tởng biện chứng sâu sắc.
Học thuyết này cũng cho rằng chu trình vận động, biến dịch của vạn vật trong
vũ trụ diễn ra theo nguyên lý phân đôi cái thống nhất nh: Thái cực (thể thống
nhất) phân đôi thành lỡng nghi (âm - dơng), sau đó âm - dơng lại tiến hành phân
thành tứ tợng (thái âm - thiếu âm, thái dơng - thiếu dơng), tứ tợng lại sinh ra bát
quái, và từ đó bát quái sinh ra vạn vật.
Tuy nhiên, học thuyết Âm - Dơng cho rằng sự vận động của vạn vật diễn ra
theo chu kỳ lặp lại và đợc đảm bảo bởi nguyên tắc cân bằng Âm - Dơng. ở
điểm này thì học thuyết Âm - Dơng phủ nhận sự phát triển biện chứng theo h-
ớng đi lên mà cho rằng sự vận động của các hiện tợng chỉ dừng lại khi đạt đợc
trạng thái cân bằng Âm -Dơng. Hơn nữa, trong học thuyết Âm - Dơng còn
nhiều yếu tố duy tâm thần bí nh quan điểm "Thiên tôn địa ty" cho rằng trật tự
sang hèn trong xã hội bắt nguồn từ trật tự của "trời đất", họ đem trật tự xã hội
gán cho giới tự nhiên, rồi lại dùng hình thức bịa đặt đó để chứng minh cho sự
hợp lý vĩnh viễn của chế độ đẳng cấp xã hội.
Tóm lại, học thuyết Âm - Dơng là kết quả của quá trình khái quát hoá những
kinh nghiệm thực tiễn lâu dài của nhân dân Trung Quốc thời cổ đại. Mặc dù còn
những tính chất trực quan, chất phác ngây thơ và tồn tại những quan điểm duy
tâm thần bí về xã hội, nhng học thuyết Âm - Dơng đã bộc lộ rõ khuynh hớng
duy vật và t tởng biện chứng tự phát của mình trong quan điểm về cơ cấu và sự
vận động, biến hoá của sự vật, hiện tợng trong tự nhiên và xã hội.
2.1.2. Triết học ấn độ cổ đại
Đây là hệ thống triết học có sự đan xen hoà đồng giữa triết học với tôn giáo
và giữa các trờng phái khác nhau. Các t tởng triết học đợc thể hiện dới hình
thức là một tôn giáo. Theo cách phân chia truyền thống, triết học ấn Độ cổ đại
Tiểu luận Triết học
có 9 trờng phái, trong đó có 6 trờng phái là chính thống và 3 trờng phái phi
chính thống. Trong tất cả các học thuyết triết học đó thì học thuyết triết học thể
hiện trong Phật giáo là học thuyết mang tính duy vật và biện chứng sâu sắc tiêu
biểu của nền triết học ấn Độ cổ đại.
Phật giáo hình thành từ thế kỷ VI TCN do Tất Đạt Đa, tên hiệu là Thích Ca
Mầu Ni (563 - 483 TCN), khai sáng. Phật giáo cho rằng vạn vật trong thế giới
không do một đấng thần linh nào đó tạo ra mà đợc tạo ra bởi hai yếu tố là Danh
(tinh thần) và Sắc (vật chất). Trong đó Danh bao gồm tâm và thức, còn Sắc bao
gồm 4 đại (đại địa, đại thuỷ, đại hoả, đại phong). Chính nhờ t tởng nêu trên mà
Phật giáo đợc coi là tôn giáo duy vật duy nhất chống lại thứ tôn giáo thần học
đơng thời. Đồng thời Phật giáo đa ra t tởng "nhất thiết duy tâm tao", "vô thờng",
"vô ngã". "Vô ngã" nghĩa là "không có cái ta, cái tôi bất biến", theo đó không
có cái gì là trờng tồn là bất biến, là vĩnh hằng, không có cái gì tồn tại biệt lập.
Đây là t tởng biện chứng chống lại đạo Bàlamôn về sự tồn tại của cái tôi -
átman bất biến. "Vô thờng" tức là biến, biến ở đây đợc hiểu nh là sự biến đổi
của vạn vật theo chu kỳ: Sinh - Trụ - Dị - Diệt (đối với sinh vật); Thành - Trụ -
Hoại - Không (con ngời). Phật giáo cũng cho rằng sự tơng tác của hai mặt đối
lập Nhân và Duyên chính là động lực cho làm cho thế giới vận động chứ không
phải là một thế lực siêu nhiên nào đó nằm ngoài con ngời, thế giới là vòng nhân
quả vô cùng vô tận. Nói cách khác một vật tồn tại đợc là nhờ hội đủ Nhân,
Duyên.
2.1.3 Triết học Hy Lạp cổ đại
Mặc dù hãy còn nhiều tính "cắt khúc", nhng triết học Hy Lạp cổ đại đã có
những phát hiện mới đối với phép biện chứng. Chính trong thời kỳ này thuật
ngữ "biện chứng" đã hình thành. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế
thời kỳ chiếm hữu nô lệ, Hy Lạp cổ đại đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn về văn
hoá, nghệ thuật, mà trớc hết là các thành tựu trong khoa học tự nhiên nh: Thiên
văn học, vật lý học, toán học đã làm cơ sở thực tiễn cho sự phát triển của triết
Tiểu luận Triết học
học trong thời kỳ này. Triết học Hy Lạp cổ đại đã phát triển hết sức rực rỡ, trở
thành nền tảng cho sự phát triển của triết học phơng Tây sau này.
Một trong những nhà triết học điển hình có t tởng biện chứng là Heraclit
(540 - 480 TCN). Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác - Lênin thì Heraclit
là ngời sáng lập ra phép biện chứng. Ông cũng là ngời đầu tiên xây dựng phép
biện chứng dựa trên lập trờng duy vật.
Phép biện chứng của Heraclit cha đợc trình bày dới dạng một hệ thống các
luận điểm khoa học mà hầu nh các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đợc
đề cập dới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý. T tởng biện
chứng của Heraclit đợc thể hiện nh sau:
Một là Quan niệm về sự vận động vĩnh cửu của vật chất. Theo Heraclit thì
không có sự vật, hiện tợng nào của thế giới là đứng im tuyệt đối, mà trái lại, tất
cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá. Ông nói: "Chúng ta không thể
tắm hai lần trên một dòng sông vì nớc mới không ngừng chảy trên sông"; "Ngay
cả mặt trời cũng mỗi ngày một mới". Theo quan điểm của Heraclit thì lửa chính
là bản nguyên của thế giới, là cơ sở duy nhất và phổ biến nhất của tất cả mọi sự
vật, hiện tợng. Đồng thời lửa cũng chính là gốc của mọi vận động, tất cả các
dạng khác nhau của vật chất chỉ là trạng thái chuyển hoá của lửa mà thôi.
Hai là Heraclit nêu lên t tởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong
mọi sự vật, hiện tợng. Điều đó thể hiện trong những phỏng đoán về vai trò của
những mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên về "sự trao đổi của
những mặt đối lập", về "sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập". Ông nói:
"cùng một cái ở trong chúng ta - sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già. Vì rằng
cái này biến đổi là cái kia; và ngợc lại, cái kia mà biến đổi thành cái này ".
Heraclit đã phỏng đoán về sự đấu tranh và thống nhất của những mặt đối lập. Lê
nin viết: "Phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận đối lập của nó là
thực chất của phép biện chứng. Điều này chúng ta đã thấy xuất hiện ngay từ nhà
biện chứng Heraclit".
Tiểu luận Triết học
Ba là Theo Heraclit thì sự vận động phát triển không ngừng của thế giới do
quy luật khách quan (mà ông gọi là Logos) quy định. Logos khách quan là trật
tự khách quan là mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ. Logos chủ quan là từ ngữ
học thuyết của con ngời. Logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan.
Ngời nào càng tiếp cận đợc logos khách quan bao nhiêu thì càng thông thái bấy
nhiêu. Lý luận nhận thức của Heraclit mang tính biện chứng và duy vật sơ khai
nhng cơ bản là đúng.
ở thời cổ đại, xét trong nhiều hệ thống triết học khác không có đợc t tởng
biện chứng sâu sắc nh vậy. Chính là những t tởng biện chứng sơ khai của
Heraclit sau này đã đợc các nhà biện chứng cổ điển Đức kế thừa và các nhà
sáng lập triết học Macxít đánh giá cao. C.Mác và Ph.Ănghen đã đánh gía một
cách đúng đắn giá trị triết học của Heraclit và coi ông là đại biểu xuất sắc nhất
của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại: "Quan niệm về thế giới một cách nguyên
thuỷ, ngây thơ nhng căn bản là đúng ấy, là quan niệm của các nhà Hy Lạp thời
cổ và ngời đầu tiên diễn đạt đợc rõ ràng quan niệm ấy là Heraclit".
(
1
)

Trong học thuyết về nguyên tử của mình, Đêmôcrit (460 - 370 TCN) đã kế
thừa quan điểm của Heraclit về vận động. Ông cho rằng vận động của nguyên
tử là vĩnh cửu và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của nguyên
tử là ở bản thân nguyên tử, ở động lực tự thân. Ông cho rằng còn khoảng trống
hay còn "chân không" trong nguyên tử là điều kiện vận động của nó. Tuy nhiên
Đêmôcrit đã không lý giải đợc nguồn gốc của vận động.
Sau Đêmôcrit là Arixtốt (384 - 322 TCN) ông cho rằngvận động gắn liền với
các vật thể với mọi sự vật, hiện tợng của giới tự nhiên. Ông cũng khẳng định
vận động là không thể bị tiêu diệt "Đã có vận động và mãi mãi sẽ có vận động".
Arixtốt là ngời đầu tiên đã hệ thống hoá các hình thức vận động thành 6 dạng:
Phát sinh, tiêu diệt, thay đổi trạng thái, tăng, giảm, di chuyển vị trí .
Tuy nhiên Arixtốt lại dơi vào duy tâm vì cho rằng thần thánh là nguồn gốc
của mọi vận động.
1
)
Ph. Ănghen: Chống Đuyrinh, NXB Sự Thật Hà nội, 1971, tr33.
Tiểu luận Triết học
Tóm lại, phép biện chứng thời cổ đại về căn bản là đúng nhng chủ yếu mới
dựa trên những phỏng đoán, những trực kiến thiên tài. Phép biện chứng tự phát
thời cổ đại đã nhìn thấy bức tranh chung của thế giới trong sự tác động, liên hệ
của các mặt đối lập, song cha đi sâu vào chi tiết của bức tranh. Vì vậy, nó
không tránh khỏi bị phủ định bởi phép siêu hình trong thời kỳ cận đại.
2.2. Phép biện chứng Tây Âu thế kỷ XIV - XVIII
Suốt trong 4 thế kỷ (từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII), sự trởng thành của t t-
ởng biện chứng Tây Âu mang nhiều ý nghĩa độc đáo. Phép biện chứng trong
thời kỳ này phát triển trong thời kỳ thống trị của t duy siêu hình.
Sau đêm trờng Trung cổ, triết học là thứ triết học kinh viện giáo điều gắn với
đạo Thiên chúa. Đến thời kỳ Phục hng, triết học thời kỳ này đã khôi phục lại
những t tởng duy vật cổ đại nhng vẫn còn mang tính phiếm thần, yếu tố duy vật
xen lẫn duy tâm. Tuy nhiên phép biện chứng thời kỳ này vẫn có bớc phát triển
nh t tởng về "sự phù hợp của các mặt đối lập" của Gioocdanơ Brunô (1548
-1600). Theo G.Brunô mọi cái đều liên hệ với nhau và đều vận động, kể từ các
hạt vật chất nhỏ nhất - nguyên tử đến vô số thế giới của vũ trụ vô tận, cái này
tiêu diệt cái kia ra đời. Nếu không theo nguyên tắc "các mặt đối lập phù hợp với
nhau" thì dù là nhà toán học, nhà vật lý, cả nhà triết học cũng không làm việc đ-
ợc.
Một trong những đại biểu của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại là Ph.Bêcơn
(1561 - 1626). Ph.Bêcơn khẳnh định vật chất không tách rời vận động, nhận
thức bản chất của sự vật là nhận thức sự vận động của chúng. Ông đã tiến hành
phân vận động thành 19 loại. Tuy nhiên tính chất siêu hình của ông thể hiện:
Ông quy mọi loại vận động về vận động cơ học. Song cống hiến của ông là ở
chỗ coi đứng yên là một hình thức của vận động, coi vận động là đặc tính cố
hữu của vật chất, ông là ngời đầu tiên nhận thấy tính bảo toàn vật chất của thế
giới.
Trong thời kỳ cận đại, khoa học tự nhiên đã phát triển và đi sâu mổ xẻ phân
tích giới tự nhiên thành những bộ phận nhỏ để nghiên cứu. Những phơng pháp
Tiểu luận Triết học
đó đã tạo ra thói quen nghiên cứu xem xét sự vật trong trạng thái cô lập, tách rời
và bất biến. Từ khi Ph.Bêcơn và Lốccơ đem phơng pháp trong khoa học tự nhiên
áp dụng vào triết học thì phơng pháp siêu hình trở thành phơng pháp thống trị
trong triết học.
Phơng pháp siêu hình đó đóng một vai trò tích cực nhất định trong quá trình
nhận thức giới tự nhiên, phơng pháp đó chỉ thích ứng với trình độ su tập, mô tả
giới tự nhiên. Do đó khi khoa học chuyển sang nghiên cứu các quá trình phát
sinh, phát triển của sự vật, hiện tợng thì nó bộc lộ rõ những hạn chế. Vì vậy nó
không tránh khỏi bị phủ định bởi phép biện chứng của triết học cổ điển Đức với
đỉnh cao là phép biện chứng Hêghen.
2.3. Phép biện chứng cổ điển Đức
Nh Lênin đã từng đánh giá: Dù có sự thần bí hoá duy tâm, nhng phép biện
chứng cổ điển Đức đã đặt ra sự thống nhất giữa phép biện chứng và logic học và
lý luận nhận thức. Trong các nền triết học trớc C. Mác thì triết học cổ điển Đức
có trình độ khái quát hoá và trừu tợng hoá cao với kết cấu hệ thống chặt chẽ,
logic. Đây là tiến bộ của nền triết học Đức so với các nền triết học khác. Nền
triết học cổ điển Đức bắt đầu từ Kantơ, đạt đỉnh cao ở Hêghen sau đó suy tàn ở
triết học Phoiơbắc.
Kantơ (1724 - 1804) là ngời sáng lập ra trờng phái triết học cổ điển Đức.
Ông cho rằng chỉ khi nhận thức ở trình độ lý tính thì mới có mâu thuẫn mà cha
thấy đợc rằng mâu thuẫn là vốn có trong hiện thực khách quan. Mâu thuẫn cha
phải là mâu thuẫn biện chứng giữa chính đề và phản đề, cha có sự thống nhất và
chuyển hoá lẫn nhau. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhng trong vấn đề này Kantơ
đã tiến gần đến phép biện chứng.
Hêghen (1770 -1831) là nhà biện chứng lỗi lạc. Phép biện chứng của ông là
một tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mácxit. Triết học của ông có ảnh h-
ởng rất mạnh đến t tởng của nớc Đức và cả Châu Âu đơng thời, triết học của
ông đợc gọi là "tinh thần Phổ". Phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng
duy tâm tức là phép biện chứng về sự vận động và phát triển của các khái niệm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét