3
pháp luật hiện nay vẫn cha có một công trình khoa học nghiên cứu toàn diện
quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nớc từ
trung ơng đến địa phơng.
Nhìn chung, những công trình khoa học trên đã đề cập đến một trong
những vấn đề mà đề tài luận án hớng tới nh hoàn thiện pháp luật về ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nớc hoặc nghiên cứu về lý thuyết
pháp điển hoá pháp luật, nhng cha có một công trình nào nghiên cứu việc
pháp điển hoá pháp luật về lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án có mục đích là nghiên cứu pháp điển hoá pháp luật với cách tiếp
cận là phơng diện hoạt động của cơ quan nhà nớc; về pháp luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật; về quan điểm, yêu cầu và các giai đoạn tiến hành pháp
điển hoá pháp luật về lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Từ đó,
luận án nghiên cứu về hoạt động pháp điển hoá pháp luật ở Việt Nam từ năm
1945 đến nay. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động pháp điển hoá pháp
luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, luận án xây dựng mô hình một
đạo luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nớc nhằm
mục đích trật tự hoá pháp luật trong lĩnh vực này ở cấp độ cao, tạo ra những
điều kiện tốt nhất cho việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật về ban hành văn
bản quy phạm pháp luật.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy
phạm pháp luật và thực tiễn pháp điển hoá về lĩnh vực này. Đặc biệt luận án tập
trung xây dựng một mô hình pháp điển hoá với phơng pháp xây dựng một đạo
luật chung để điều chỉnh toàn diện và thống nhất về lĩnh vực ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nớc.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lập trờng xuất phát và quan điểm tiếp cận của triết học Mác
Lê nin và t tởng Hồ Chí Minh về Nhà nớc và pháp luật, các nguyên tắc cơ
bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm
của Đảng về Nhà nớc và pháp luật trong thời kỳ đổi mới, luận án sử dụng các
phơng pháp nghiên cứu sau: Phơng pháp phân tích, tổng hợp các thông tin,
t liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu nh các quan niệm, kinh nghiệm tiến
hành về pháp điển hoá pháp luật của các nớc trên thế giới, thu thập các dữ liệu
về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nớc.
Phơng pháp so sánh luật giữa các giai đoạn lịch sử của Việt Nam từ năm 1945
đến nay, so sánh giữa pháp luật trong n
ớc và pháp luật của nhiều nớc trên thế
giới để xác định cách thức pháp điển hoá pháp luật về lĩnh vực ban hành văn
bản quy phạm pháp luật. Phơng pháp nghiên cứu thực tiễn thông qua kết quả
thống kê, khảo sát, rà soát trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nớc.
6. Đóng góp mới của Luận án
4
Một là, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu khoa học trong và ngoài nớc,
luận án xây dựng khái niệm về pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản
quy phạm pháp luật. Đặc biệt, luận án đã đa ra các yêu cầu của pháp điển hoá
pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là căn cứ quan trọng
để đánh giá hoạt động pháp điển hoá trong lĩnh vực này. Ngoài ra, trong quá
trình nghiên cứu về pháp điển hoá là một phơng diện hoạt động quan trọng
của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền (Quốc hội), luận án đã làm rõ sự khác
nhau giữa hoạt động pháp điển hoá với hoạt động xây dựng pháp luật, giữa hoạt
động pháp điển hoá với hoạt động chỉnh lý. Những điểm mới này có ý nghĩa là
cơ sở lý luận cho việc tiến hành hoạt động pháp điển hoá trong lĩnh vực ban
hành văn bản quy phạm pháp luật.
Hai là, trên cơ sở thực tiễn ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các
cơ quan nhà nớc ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, luận án đã phân tích và
đánh giá hoạt động này với các tiêu chí về pháp điển hoá pháp luật về ban hành
văn bản quy phạm pháp luật. Từ đó đi đến nhận định về những tồn tại và bất
cập của pháp luật hiện hành về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Ba là, luận án đã xác định đợc nhu cầu tăng cờng và quan điểm pháp
điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó kiến nghị
giải pháp cơ bản là xây dựng một mô hình đạo luật chung điều chỉnh toàn diện
và thống nhất về lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Luận án còn kiến
nghị giải pháp sửa đổi một số quy định trong các Luật về tổ chức bộ máy Nhà nớc
để đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam.
7. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án bổ sung thêm lý luận về pháp điển hoá
pháp luật, cụ thể là việc đa ra cách thức tiến hành pháp điển hoá pháp luật về
ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam. Luận án có thể dùng làm tài
liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về pháp luật trong các trờng
đại học, là tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nớc, các chuyên gia làm
công tác xây dựng pháp luật.
8. Kết cấu của luận án
Luận án đợc kết cấu ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo, phần nội dung đợc chia làm 3 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận của việc pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản
quy phạm pháp luật
Chơng 2: Hoạt động pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm
pháp luật ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Chơng 3: Quan điểm, giải pháp pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản
quy phạm pháp luật
5
nội dung cơ bản của luận án
chơng 1
Cơ sở Lý luận của việc pháp điển hoá pháp luật
về ban hnh văn bản quy phạm pháp luật
1.1
Pháp điển hoá pháp luật - một phơng diện hoạt động quan trọng
của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền
1.1.1 Pháp điển hoá là một hình thức hệ thống hoá pháp luật
Hệ thống hoá pháp luật là hoạt động nhằm hoàn thiện pháp luật, đa
chúng vào một hệ thống trên cơ sở những phơng pháp, cách thức nhất định,
bao gồm những nguyên tắc, phơng pháp khoa học để xử lý những văn bản quy
phạm pháp luật hiện hành, xây dựng và trật tự hoá các văn bản quy phạm pháp
luật theo những tiêu chí đã đặt ra. Hệ thống hoá pháp luật đợc thể hiện dới
hai hình thức: tập hợp hoá và pháp điển hoá.
*
Tập hợp hoá
Tập hợp hoá đợc thực hiện trên cơ sở tập hợp và sắp xếp các văn bản quy
phạm pháp luật theo những căn cứ hoặc lĩnh vực nhất định. Đặc trng của hình
thức tập hợp hoá văn bản quy phạm pháp luật không làm thay đổi nội dung của
văn bản quy phạm pháp luật, không bổ sung những quy định mới. Từ đặc trng
đó nên việc tập hợp hoá văn bản quy phạm pháp luật có thể đợc tiến hành bởi
nhiều chủ thể khác nhau, đó có thể là các cơ quan nhà nớc, hoặc một nhóm tác
giả hoặc một tác giả, hoặc nhà xuất bản khi thấy cần thiết phải sắp xếp những
văn bản đó theo một trật tự nhất định.
*Pháp điển hoá
Pháp điển hoá là một hình thức hệ thống hoá pháp luật đợc thực hiện ở
cấp độ cao hơn hình thức tập hợp hoá.
Pháp điển hoá là một hoạt động lớn và
phức tạp, hiện nay ở nớc ta và trên thế giới còn có nhiều quan điểm khác nhau
về vấn đề này.
Quan điểm thứ nhất cho rằng:
Nớc Pháp và các luật gia châu Âu lục địa
coi pháp điển hoá là bớc tiếp theo của hệ thống hoá pháp luật và bản chất của
nó là chuyển hoá các đạo luật và văn bản quy phạm pháp luật (theo từng lĩnh
vực lớn) vào một cuốn sách duy nhất gọi là Bộ Pháp điển và không nhằm mục
đích thông qua những văn bản mới. Tác giả luận án cho rằng về bản chất, quan
niệm trên về pháp điển hoá gần giống nh quan điểm về tập hợp hoá, nhng ở
mức độ cao hơn và phạm vi rộng lớn hơn.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Các nớc thuộc hệ thống luật Ănglô Sắc
xông (hệ thống thông luật - common law), với hai nguồn cơ bản của pháp luật
là án lệ và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các nớc này đã áp dụng pháp
điển hoá pháp luật theo hai hớng: Pháp điển hoá về án lệ dới hình thức các
Bộ Pháp điển và pháp điển hoá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Thực
chất của công việc pháp điển hoá ở đây là việc cho ra đời, bổ sung, cập nhật
thờng xuyên các tập án lệ, những tình huống, vụ việc pháp lý cụ thể đã có tiền
6
lệ theo từng lĩnh vực của đời sống. Còn đối với việc pháp điển hoá hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật không làm thay đổi nội dung của văn bản gốc và đợc
tiến hành bởi một thiết chế riêng.
Cách thức pháp điển hoá này cha phải là
việc đa pháp luật vào một hệ thống nhất định sau khi đã tu chỉnh để đạt đến sự
thống nhất. Đó chỉ là những giai đoạn, những cấp độ khác nhau của công tác
tập hợp hoá.
Quan điểm thứ ba thể hiện đặc trng ở Trung Quốc, Liên bang Nga và
Việt Nam. Theo đó, pháp điển hoá là quy trình sau cùng, là giai đoạn cao nhất
của công tác hệ thống hoá pháp luật. Nhìn một cách tổng thể, pháp điển hoá là
việc trật tự hoá sâu sắc và toàn diện một lĩnh vực pháp luật hiện hành, trên cơ
sở đó xây dựng một văn bản pháp luật mới (thông thờng là một đạo luật)
nhằm tạo ra những thay đổi cơ bản trong việc điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực
đó, loại bỏ những văn bản pháp luật lạc hậu, mâu thuẫn, chồng chéo, trùng lặp,
nâng sự điều chỉnh của pháp luật lên một tầm cao mới về nội dung và hình thức
1.1.2 Pháp điển hoá thuộc về thẩm quyền của cơ quan quyền lực nhà
nớc cao nhất
Từ bản chất của pháp điển hoá pháp luật là hoạt động trật tự hoá pháp luật
dới hình thức ban hành một đạo luật để điều chỉnh toàn diện và thống nhất về
một lĩnh vực nào đó, cho nên công việc này phải đợc tiến hành bởi cơ quan
nhà nớc có thẩm quyền ban hành luật. Hiến pháp nớc ta quy định chỉ có
Quốc hội mới có chức năng và thẩm quyền ban hành luật. Từ đó có thể hiểu
một cách gián tiếp chức năng ban hành luật của Quốc hội là một thiết chế quan
trọng để tiến hành pháp điển hoá pháp luật.
Xuất phát từ bản chất, mục đích mà công tác hệ thống hoá văn bản quy
phạm pháp luật cần đợc tiến hành bởi cơ quan nhà nớc có thẩm quyền, đặc
biệt việc hệ thống hoá dới hình thức pháp điển hoá. Pháp điển hoá là hình thức
hệ thống hoá pháp luật cao nhất, trong đó thẩm quyền và nội dung tiến hành
thuộc về cơ quan quyền lực nhà nớc cao nhất. Nếu so sánh với hình thức tập
hợp hoá, công tác pháp điển hoá là một hình thức hệ thống hoá ở mức độ cao
hơn hẳn, bởi lẽ hoạt động này luôn luôn là một phơng diện hoạt động của cơ
quan nhà nớc có thẩm quyền.
Do đó, Nhà nớc cần có một thiết chế rõ ràng
để điều chỉnh về hoạt động pháp điển hoá. Thiết chế này thuộc về tổ chức và
hoạt động của cơ quan quyền lực Nhà nớc cao nhất.
1.1.3 Những tiền đề cơ bản của pháp điển hoá ở Nhà nớc Cộng hoà x
hội chủ nghĩa Việt Nam
Với những đặc thù về cơ chế thực hiện quyền lực nhà nớc ở Nhà nớc
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho nên công tác pháp điển hoá muốn
thực hiện có hiệu quả phải dựa trên những tiền đề cơ bản mang tính đặc trng
nh sau:
Thứ nhất: Sự hiện diện của chính sách pháp luật về lĩnh vực pháp luật cần
pháp điển hoá. Đó là những quan điểm, đờng lối, chủ trơng, định hớng xây
dựng và phát triển pháp luật của Đảng Cộng sản Việt Nam về lĩnh vực pháp luật
7
cần pháp điển hoá. Nếu không có sự lãnh đạo rõ ràng của Đảng bằng chính
sách pháp luật thì việc pháp điển hoá sẽ gặp nhiều khó khăn, vớng mắc, bởi
không có sự thống nhất trong phơng hớng pháp điển hoá.
Thứ hai: Các quan điểm chính thống và phơng pháp luận khoa học về
pháp luật. Đây là cơ sở nền tảng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật. Triết lý về Nhà nớc và pháp luật hiện nay ở Nhà nớc ta dựa trên chủ
nghĩa Mác-Lê nin kết hợp với t tởng Hồ Chí Minh. Đó chính là sự kết hợp
hợp lý giữa tính truyền thống, tính dân tộc với tính hiện đại, thể hiện là tiền đề
tất yếu của quá trình pháp điển hoá pháp luật ở Nhà nớc ta. Ngoài ra, trong xu
thế hội nhập thời hiện đại, chúng ta cũng rất cần thiết tham khảo và tiếp thu
kinh nghiệm từ những giá trị khoa học của thế giới để hoàn thiện hơn nữa hệ
thống quan điểm và phơng pháp luận.
Thứ ba: Sự thừa nhận chính thức của Nhà nớc về các hình thức của pháp
luật. Các hình thức của pháp luật rất phong phú và đa dạng, đó có thể là đạo
luật, bộ luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác do các cơ quan nhà nớc có
thẩm quyền ban hành, các án lệ, các luật tục, các điều ớc, tập quán quốc
tếThực tế ở các quốc gia cho thấy rằng trong quá trình xây dựng và hoàn
thiện pháp luật quốc gia hay quốc tế, tất cả các hình thức pháp luật đó đều có sự
ảnh hởng, tác động đến nhau và đều cần phải tính đến trong cơ chế điều chỉnh
pháp luật. Cần thiết phải giải quyết vấn đề này trớc khi đặt vấn đề về pháp
điển hoá pháp luật.
Thứ t: Kinh nghiệm và kỹ thuật pháp lý. Kỹ thuật pháp lý là tổng thể
những phơng pháp, phơng tiện đợc sử dụng trong quá trình soạn thảo và hệ
thống hoá pháp luật, trong đó chứa đựng các nguyên tắc khoa học nhằm đảm
bảo cho pháp luật có đợc đầy đủ các khả năng để điều chỉnh có hiệu quả các
quan hệ xã hội.
Ngoài ra, việc tiến hành pháp điển hoá pháp luật còn dựa trên những điều
kiện rất cần thiết. Đó là những điều kiện về tổ chức, điều kiện về cơ sở pháp lý,
điều kiện về tài chính, điều kiện về nguồn nhân lực và các điều kiện khác nh
hệ thống thông tin t liệu, phơng tiện kỹ thuật và công nghệ hiện đại
1.2. Pháp luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
1.2.1 Khái niệm, vị trí và tầm quan trọng của văn bản quy phạm pháp luật
Trên cơ sở tìm hiểu về các dấu hiệu và thuộc tính của văn bản quy phạm
pháp luật, có thể đa ra khái niệm về văn bản quy phạm pháp luật nh sau: Văn
bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nớc có thẩm quyền, ngời
có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy
tắc xử sự chung, đợc nhà nớc bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh những
quan hệ xã hội và đợc áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống.
Văn bản quy phạm pháp luật là một hình thức pháp luật có nhiều u điểm
hơn hẳn so với hình thức pháp luật khác.
1.2.2 Nội dung pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
8
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là thẩm quyền của cơ quan nhà nớc
để thực hiện chức năng, nhiệm vụ đợc quy định trong Hiến pháp. Căn cứ
vào nội dung của sự điều chỉnh, pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp
luật bao gồm hai nhóm chế định pháp luật chủ yếu: Nhóm thứ nhất: Nhóm quy
phạm pháp luật liên quan đến thẩm quyền của các cơ quan nhà nớc trong việc
ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm thẩm quyền về hình thức văn
bản và thẩm quyền về nội dung của văn bản. Từ thẩm quyền ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của các chủ thể sẽ hình thành nên hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật Việt Nam. Nhóm thứ hai: Nhóm quy phạm pháp luật liên quan
đến quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nớc
có thẩm quyền. Đây là nhóm quy phạm pháp luật lớn điều chỉnh về quá trình
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể pháp luật.
1.3 Khái niệm và yêu cầu về pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn
bản quy phạm pháp luật
1.3.1 Khái niệm pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm
pháp luật.
Pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật là việc
cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành một đạo luật trên cơ sở những văn
bản quy phạm pháp luật đã điều chỉnh về lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm
pháp luật; sửa đổi và bổ sung những quy phạm pháp luật để hớng tới điều
chỉnh toàn diện, thống nhất, đồng bộ về hoạt động ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nớc. Quá trình pháp điển hoá pháp luật về ban
hành văn bản quy phạm pháp luật cần phải dựa trên những tiêu chí và kỹ thuật
pháp lý về pháp điển hoá.
1.3.2 Các yêu cầu đặt ra đối với việc pháp điển hoá pháp luật về ban
hành văn bản quy phạm pháp luật
- Yêu cầu về việc điều chỉnh toàn diện nội dung và hình thức pháp luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Yêu cầu về sự phù hợp và đồng bộ với hệ thống pháp luật của pháp luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Yêu cầu về việc thể hiện pháp luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật trong một đạo luật
- Yêu cầu về kỹ thuật pháp lý trong quá trình pháp điển hoá pháp luật về
ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Kết luận Chơng 1
Tại Chơng 1 luận án nghiên cứu ba nội dung chính nh
sau:
- Tìm hiểu về pháp điển hoá pháp luật là một trong những phơng diện
hoạt động quan trọng của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền, trong đó thống
nhất cách hiểu về pháp điển hoá pháp luật, đồng thời khẳng định hoạt động
pháp điển hoá thuộc về thẩm quyền của cơ quan quyền lực nhà nớc cao nhất là
Quốc hội.
9
- Tìm hiểu pháp luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật để từ đó định
hình về những nội dung cơ bản của pháp luật đối với lĩnh vực này.
- Trên cơ sở tìm hiểu hai nội dung trên, luận án xây dựng khái niệm pháp
điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đặc biệt luận án
đã đa ra đợc các yêu cầu của việc pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn
bản quy phạm pháp luật làm tiêu chí để đánh giá mức độ pháp điển hoá lĩnh
vực này trong từng giai đoạn khác nhau ở Việt Nam.
chơng 2
Hoạt động pháp điển hoá pháp luật về ban hnh văn
bản quy phạm pháp luật ở việt nam từ năm 1945 đến nay
Căn cứ vào các mốc thời gian Nhà nớc ban hành những văn bản quy phạm
pháp luật quan trọng để điều chỉnh cơ bản về lĩnh vực ban hành văn bản quy
phạm pháp luật, tác giả luận án tiếp cận văn bản để tìm hiểu về hoạt động pháp
điển hoá pháp luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
2.1
Giai đoạn từ năm 1945 đến trớc năm 1988
Thực trạng pháp luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn từ
khi thành lập nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đến năm 1988 chủ yếu đợc
quy định trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm
1980. Từ những quy định đó có thể đánh giá hoạt động pháp điển hoá pháp luật
về ban hành văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn từ năm 1945 đến trớc năm
1988 nh sau:
Thứ nhất: Về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã có
những quy phạm cụ thể quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nớc từ trung ơng đến địa phơng. Việc quy định
về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nớc
trong Hiến pháp 1980 cụ thể hơn, tuy nhiên, Hiến pháp 1980 đã có những quy
định một cơ quan nhà nớc đợc giao quá nhiều thẩm quyền ban hành hình thức văn
bản quy phạm pháp luật. Điều này là không hợp lý và rất khó phân định trong thực tế
áp dụng việc ban hành văn bản để thực hiện quản lý nhà nớc.
Thứ hai: Trong giai đoạn này đã chú trọng đến quy trình ban hành văn bản
quy phạm pháp luật, thể hiện ở những quy định về việc thành lập Uỷ ban dự án
pháp luật với những nhiệm vụ, thẩm quyền nh đa ra sáng kiến lập pháp, soạn
thảo dự án luật, pháp lệnh, thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh và cách thức
thông qua văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Uỷ ban thờng vụ
Quốc hội. Trong các Luật tổ chức Quốc hội cũng đã xác định rõ ràng các chủ
thể có quyền trình dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác.
Đây là một
bớc tiến đáng kể, tạo đà cho sự phát triển trong các giai đoạn tiếp theo.
Thứ ba: Trong các Luật tổ chức Quốc hội giai đoạn này đã quy định về
việc thảo luận và thông qua dự án luật nh các nghị quyết của Quốc hội phải
10
đợc quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, chậm nhất là 15
ngày kể từ ngày thông qua luật phải đợc công bố
Tóm lại: Giai đoạn này đợc coi là giai đoạn nhận diện sự hình thành hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật, tạo đà cho phát triển về một hệ thống quy
phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật
ở các giai đoạn sau này.
2.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trớc năm 1996
Quá trình xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt
động ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn này đợc thể hiện
chủ yếu trong Quy chế xây dựng luật và pháp lệnh ngày 6/8/1988 của Hội đồng
Nhà nớc. Quy chế xây dựng luật và pháp lệnh chỉ điều chỉnh về quy trình ban
hành luật, pháp lệnh của Quốc hội và Hội đồng Nhà nớc. Đối với việc ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nớc đợc quy
định tại Thông t 02/ BT ngày 11/1/1982 của Bộ trởng Tổng Th ký Hội đồng
Bộ trởng hớng dẫn việc xây dựng và ban hành văn bản, quy trình ban hành
văn bản pháp quy của Hội đồng bộ trởng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng, Bộ
trởng, Chủ nhiệm Uỷ ban nhà nớc và Thủ trởng các cơ quan khác thuộc Hội
đồng Bộ trởng, văn bản pháp quy của Uỷ ban nhân dân tỉnh, văn bản liên cơ
quan, thông t liên Bộ và sau này đợc thay thế bằng Thông t số 33/BT ngày
10/12/1992 của Bộ trởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ hớng dẫn về hình
thức văn bản và việc ban hành văn bản của các cơ quan hành chính nhà nớc.
Có thể đánh giá hoạt động pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản
quy phạm pháp luật giai đoạn này nh sau: Giai đoạn này đã hình thành rõ nét
về một hệ thống pháp luật điều chỉnh về hoạt động ban hành văn bản quy phạm
pháp luật. Những quy định pháp luật điều chỉnh về nội dung này đã tạo dựng
nên những chất liệu cơ bản mang tính hệ thống để xem xét về việc pháp điển
hoá pháp luật về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù có rất
nhiều u điểm hơn hẳn giai đoạn trớc nhng còn cha đáp ứng đợc các tiêu
chí cơ bản sau:
+ Tiêu chí của pháp điển hoá về tính điều chỉnh toàn diện nội dung và
hình thức pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật
+ Tiêu chí của pháp điển hoá về nội dung pháp luật về ban hành văn bản
quy phạm pháp luật phải đợc thể hiện trong một đạo luật do cơ quan quyền lực
nhà nớc cao nhất ban hành.
+ Trình độ kỹ thuật pháp lý thể hiện nội dung điều chỉnh cha đáp ứng
đợc tiêu chí pháp điển hoá.
2.3 Giai đoạn từ năm 1996 đến nay
Để đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, Nhà nớc đã ban hành
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12/11/1996. Năm 2002, Nhà
nớc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
năm 1996 và Luật năm 2002 chỉ tập trung điều chỉnh hoạt động ban hành văn
11
bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nớc ở trung ơng. Đến năm 2004,
Nhà nớc đã ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân. Do đó khi đề cập đến pháp luật điều chỉnh về
hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ năm 1992 đến nay, chúng ta
chủ yếu xem xét ba đạo luật trên và các nghị định kèm theo. Từ thực trạng pháp
luật đó, có thể đánh giá hoạt động pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản
quy phạm pháp luật giai đoạn từ năm 1996 đến nay nh sau.
Thứ nhất: Tính điều chỉnh toàn diện của pháp luật về ban hành văn bản
quy phạm pháp luật. Một trong những căn cứ để đánh giá sự phát triển trong
lĩnh vực pháp luật này là sự điều chỉnh tơng đối toàn diện các nội dung liên
quan đến hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà
nớc có thẩm quyền. Chơng đầu tiên (Những quy định chung) trong Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật năm và Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân đã thể hiện khái quát điều
đó. Luật cũng đã quy định những cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền ban hành
văn bản quy phạm pháp luật, hình thức và nội dung của văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nớc.
Thứ hai: Tính phù hợp và đồng bộ với hệ thống pháp luật của pháp luật về
ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Sự phù hợp và đồng bộ của hệ thống
quy phạm pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật với hệ thống pháp
luật trong nớc. Cùng với Hiến pháp, tính đồng bộ và thống nhất của các quy
phạm pháp luật về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn đợc thể hiện
trong các Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.
Ngoài ra, tại Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996,
Điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân quy định về tính hợp Hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Do vậy,
hơn bất kỳ đạo luật nào, hai đạo luật này phải tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc
này. Từ đó có thể khẳng định rằng trong giai đoạn này, pháp luật về ban hành
văn bản quy phạm pháp luật đã đáp ứng đợc tiêu chí trên.
Ngoài ra, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận chính thức
sự phù hợp của hệ thống pháp luật trong n
ớc với điều ớc quốc tế trong nhiệm
vụ của Ban soạn thảo. Điều khoản này đã ghi nhận một cách chính thức sự phù
hợp cần thiết của pháp luật trong nớc với điều ớc quốc tế.
Thứ ba: Hình thức văn bản điều chỉnh về ban hành văn bản quy phạm
pháp luật. Ba đạo luật điều chỉnh về hoạt động ban hành văn bản quy phạm
pháp luật là hình thức văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Tuy nhiên, nh đã
phân tích ở trên, pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn nằm
rải rác tại nhiều đạo luật. Do đó, cần phải tăng cờng hơn nữa công tác pháp
điển hoá pháp luật về lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong giai
đoạn sắp tới để pháp luật về lĩnh vực này đợc thể hiện cơ bản trong một đạo luật.
12
Thứ t: Kỹ thuật pháp lý thể hiện nội dung pháp luật về ban hành văn bản
quy phạm pháp luật.
Để đảm bảo tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp
luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định nguyên tắc về ngôn
ngữ, kỹ thuật xây dựng văn bản. Nội dung của Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân đợc trình bày theo một trật tự lôgíc. Nhìn chung,
về kỹ thuật xây dựng luật đã đáp ứng đợc nhu cầu chung của quá trình xây
dựng pháp luật. Nhng nếu xem xét về kỹ thuật pháp lý thể hiện vấn đề pháp điển
hoá thì còn có những bất cập. Đó là những quy định của pháp luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật còn cha tập trung thống nhất trong một đạo luật.
Kết luận chơng 2
Pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ khi thành lập nớc
đến nay đã có những bớc kế thừa, phát triển trong từng giai đoạn lịch sử, đặc
biệt giai đoạn thực hiện Hiến pháp 1992, cùng với việc ban hành Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, đợc sửa đổi, bổ sung năm 2002 và
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân. Tính chất pháp điển cao nhất trong giai đoạn này thể hiện bằng hình
thức văn bản luật và sự điều chỉnh tơng đối toàn diện hoạt động ban hành văn
bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, nh đã phân tích ở trên, nếu xem xét các
tiêu chí đánh giá việc pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản quy phạm
pháp luật thì còn những hạn chế nhất định, đòi hỏi cần có sự tăng cờng pháp
điển hoá ở giai đoạn sắp tới.
Chơng 3
Quan điểm, giải pháp pháp điển hoá pháp luật về
ban hnh văn bản quy phạm Pháp Luật
3.1
Nhu cầu tăng cờng và quan điểm pháp điển hoá pháp luật về ban
hành văn bản quy phạm pháp luật
3.1.1 Nhu cầu tăng cờng pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn
bản quy phạm pháp luật
Đối với việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nớc
là một trong những hoạt động đặc biệt quan trọng, liên quan đến thể chế hoạt
động của các cơ quan nhà nớc nên rất cần thiết phải đợc pháp điển hoá. Nhu
cầu pháp điển hoá pháp luật trong lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp
luật có tiền đề trong các chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nớc ta.
Một là: Nhu cầu tăng cờng pháp điển hoá pháp luật về ban hành văn bản
quy phạm pháp luật đợc hình thành trong các chơng trình lớn của Đảng và
Nhà nớc. "Chiến lợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
đến năm 2010, định hớng đến năm 2020" đã khẳng định: "Xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đẩy nhanh tiến độ và
nâng cao chất lợng hoạt động lập pháp, bảo đảm tốt tính dân chủ, pháp chế,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét