Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ & CÔNG CỤ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ (NĂM 2007-2009).

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2) Mục tiêu của chính sách tiền tệ :
a. Ổn định giá trị đồng tiền :
NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền
của nước mình. Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên hai mặt: Sức mua đối nội
của đồng tiền(chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước)và sức mua đối ngoại (tỷ
giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ). Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá
trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát =0 vì như vậy nền kinh tế không thể
phát triển được, để có một tỷ lệ lạm phát giảm phảI chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp
tăng lên.
b. Tăng công ăn việc làm:
CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu qủa
các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất
nghiệp của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghịêp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ
lạm phát tăng lên. Mặt khác, khi tăng trưởng kinh tế đạt được do kết quả của cuộc cải
tiến kĩ thuật thì việc làm có thể không tăng mà còn giảm. Theo nhà kinh tế học Arthur
Okun thì khi GNP thực tế giảm 2% so với GNP tiềm năng, thì mức thất nghiệp tăng
1%.
Từ những điều trên cho thấy, vai trò của NHTW khi thực hiện mục tiêu này :
tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất – kinh doanh, chống suy thoái kinh tế theo chu
kỳ, tăng trưởng kinh tế ổn định, khống chế tỷ lệ thất nghiệp không vượt quá tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên.
c. Tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định
các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định,
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng, nó thể hiện lòng tin của dân
chúng đối với Chính phủ.
Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài
hoà.
Mối quan hệ giữa các mục tiêu : Có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, không
tách rời. Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu
thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Vậy để đạt được các mục tiêu trên một
cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp với các
chính sách kinh tế vĩ mô khác.
Mặt khác để biết các mục tiêu cuối cùng trên có thực hiện được không, thì các
NHTW phải chờ thời gian dài ( một năm –khi kết thúc năm tài chính).
3) Các công cụ của CSTT:
a.Nghiệp vụ thị trường mở:
Khái niệm: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực
hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó đIều tiết lượng
tiền cung ứng.
 Cơ chế tác động: Khi NHTW mua (bán) chứng khoán thì sẽ làm cho cơ số
tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi).
Nếu thị trường mở chỉ gồm NHTW và các NHTM thì hoạt động này sẽ làm
thay đổi lượng tiền dự trữ của các NHTM (R ), nếu bao gồm cả công chúng thì nó sẽ
làm thay đổi ngay lượng tiền mặt trong lưu thông (C).
 Đặc điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là
một công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của CSTT vì khối lượng chứng
khoán mua ( bán ) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần điều chỉnh, ít tốn kém về
chi phí, dễ đảo ngược tình thế. Tuy vậy, vì được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi
nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thị trường và mặt khác để
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
công cụ này hiệu quả thì cần phải có sự phát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ, thị
trường vốn.
b.Dự trữ bắt buộc:
 Khái niệm : Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NH phải giữ lại, do
NHTW qui định, gửi tại NHTW, không hưởng lãi, không được dùng để đầu tư, cho
vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng só tiền gửi của
khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
 Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp
đến số nhân tiền tệ (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các NHTM.Mặt
khác khi tăng (giảm ) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay của các NHTM giảm
(tăng), làm cho lãI suất cho vay tăng (giảm), từ đó làm cho lượng cung ứng tiền giảm
(tăng).
Đặc đIểm: Đây là công cụ mang nặng tính quản lý Nhà nước nên giúp NHTW
chủ động trong việc đIều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của nó cũng rất mạnh
(chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh hưởng tới một lượng rất
lớn mức cung tiền). Song tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực hiện nó
rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh
doanh của các NHTM.
c. Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM
Khái niệm : là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM không
được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định (một năm) để thực
hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình.Việc định ra hạn mức tín dụng cho
toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trưởng, lạm
phátiêu thụ )sau đó NHTW sẽ phân bổ cho các NHTM và NHTM không thể cho vay
vượt quá hạn mức do NHTW quy định.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Cơ chế tác động: Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với
lượng tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh
tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM.
Đặc điểm: Giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi
các công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trong
những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế.Song
nhược điểm của nó rất lớn : triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM, làm giảm
hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoài
sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc
phát triển kinh tế tăng lên.
c.Quản lý lãi suất của các NHTM:
Khái niệm : NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn dịnh một trần lãi suất cho
vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó, từ đó ảnh hưởng tới qui
mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt được quản lý mức cung tiền của
mình.
Cơ chế tác động: Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ ảnh
hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho lượng tiền
cung ứng thay đổi theo.
Đặc điểm: Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục
tiêu của từng thời kỳ, đIều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều kiện để phát
huy tác dụng của các công cụ gián tiếp.Song, nó dễ làm mất đi tính khách quan của lãi
suất trong nền kinh tế vì thực chất lãI suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải được
hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong nến kinh tế.Mặt khác việc thay đổi
quy định đIều chỉnh lãI suất dễ làm cho các NHTM bị động, tốn kém trong hoạt động
kinh doanh của mình.
e.Tỉ giá hối đoái
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khái niệm : tỉ giá hối đoái là đại lượng biều thị mối tương quan về mặt giá
trịgiữa hai đồng tiền.nói cách khác tỉ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước
này được biểu hiện bằng một đơn vị tiền nước khác.
Cơ chế tác động: tác động đến hoạt động kinh tế, từ hoạt động xuất nhập khẩu
đến sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước qua biến đổi của giá cả hàng hóa.
Đặc điểm: ngân hàng trung ương có thể ấn định tỉ giá cố định hay tha nổi theo
quan hệ cung cầu ngoai tệ trên thị trường ngoại hối bện canh đó còn có tỉ gái cố định
nhưng di động khi cần thiết và tỉ giá thả nổi có quản lý. Khi vận dụng công cụ này
không phải NHTU đẩy tỉ giá lên cao hay kéo tỉ giá xuống thấp mà ổn định tỉ giá ở một
mức độ hợp lí phù hợp vói đặc điểm điều kiện thực tế của đất nước trong từng giai
đoạn để tác động chung cuộc của nó là tốt nhất
II. Việc vận dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của NHNN VN
trong những năm 2007-2009:
1) Giai đoạn: trong năm2007- đầu 2008:
Từ cuối năm 2006 đến giữa đầu năm 2007, nền kinh tế VN nổi lên với nhiều sự
kiện, chỉ tiêu đầy hứa hẹn. Khi VN chính thức là thành viên của WTO, lượng vốn
đầu tư nước ngoài và kiều hối vào VN tăng đột biến (năm 2007 đã tới 20 tỉ USD).
2007 là năm ảm đạm trong nề Kinh tế Mĩ khi mà đồng đô la xuống giá nghiêm
trọng. Sự suy thoái của nền kinh tế lớn nhất thế giới này đã khiến cho nhiều nền
kinh tế khác trên thế giới chịu ảnh hưởng, trong đó có Việt Nam.
Đồng tiền mất giá là ấn tượng đáng nhớ nhất trong năm 2007 và đầu năm
2008.
Về nguyên tắc, khi luồng vốn nước ngoài đầu tư vào VN tăng, VN Đồng
(VND) sẽ lên giá để tạo ra điểm cân bằng.Tuy nhiên NHNN đã can thiệp thị trường
ngoại hối nhằm giảm áp lực tăng giá VND:
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
 NHNN VN phát hành VND mua lại lượng ngoại tệ này với mục đích kìm tỉ
giá của VND với đồng Đô la Mỹ (USD) thấp hơn điểm cân bằng nhằm nâng cao tính
cạnh tranh của hàng xuất khẩu về giá cả. Giữ VND yếu là một hình thức trợ giá cho
hàng xuất khẩu.
 Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng gấp 2 lần so với mức của năm
2006 để hạn chế mức độ dư thừa vốn khả dụng của các TCTD, qua đó hạn chế tăng
trưởng tín dụng vào những lĩnh vực kém hiệu quả, giảm sức ép tăng lạm phát trong
những tháng cuối năm.
 Giữ ổn định các mức lãi suất chính thức do NHNN công bố, nhằm phát tín
hiệu ổn định lãi suất thị trường.
 Hạn chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, thực hiện cho vay
chiết khấu trong hạn mức phân bổ.
 Tỉ giá linh hoạt với việc nới lỏng biên độ tỷ giá từ 0, 25% lên 0, 5% vào đầu
năm và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên 0, 75%.
Tuy nhiên, mặt trái của chính sách thị trường mở là Ngân hàng nhà nước đã
phải cung ra số lượng khổng lồ tiền đồng để mua hết số đô la này, Đồng đô la mất giá,
đồng nghĩa với việc tiền Việt lên giá. Người ta lại dồn dập bán đô la để thu tiền Việt.
Cung tiền đồng lại phải tăng thêm để giữ tỉ giá hối đoái (VND/USD) khỏi xuống quá
thấp, làm cho lượng cung tiền của VN từ năm 2005 đến hết tháng 6/2007 tăng tổng
cộng 110%. Đây là mức tăng rất lớn, là tác nhân quan trọng đối với lạm phát. Con số
lạm phát lên đến 12.63% so với chỉ số tăng GDP là 8.5% - nghĩa là về thực chất
chúng ta tăng trưởng âm.
Chính sách tỷ giá hiện nay đã ảnh hưởng hạn chế nhất định đối với nền kinh tế.
Mặc dù ngay từ đầu năm 2007, NHNN bắt đầu thực hiện nới lỏng biên độ tỷ giá từ 0,
25% lên 0, 5% và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên 0, 75%, nhưng với
biên độ dao động chưa đáng kể, chưa đủ thích ứng với môi trường bên ngoài.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng gấp 2 lần so với mức của năm 2006
để hạn chế mức độ dư thừa vốn khả dụng của các TCTD.
 Kết quả đạt đựoc trong năm 2007:
- Qui mô thị trường tiền tệ mở rộng và ổn định, không để xẩy ra những cú sốc
về lãi suất và tỷ giá trước những biến động khó lường của tình hình thị trường tài
chính quốc tế :
+ Lãi suất thị trường liên ngân hàng mặc dù có biến động mạnh trong vài ngày
giữa tháng 11/2007, song, nhìn chung, mặt bằng lãi suất trong năm ổn định: lãi suất
huy động và cho vay của TCTD vẫn giữ được ổn định và có xu hướng giảm nhẹ so
với cuối năm 2006, tạo điều kiện cho việc huy động vốn và đầu tư cho tăng trưởng
kinh tế. Tính đến cuối tháng 9/2007, huy động vốn của các TCTD tăng 31, 2%, ước cả
năm tăng 39, 6%, cao hơn tốc độ tăng 33, 1% của năm 2006; tín dụng đến cuối tháng
9 tháng tăng 30, 9%, ước cả năm tăng 37, 8%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng 22,
8% của năm 2006).
+ Tỷ giá danh nghĩa giao động nhẹ và có xu hướng giảm (VND lên giá nhẹ),
trong bối cảnh lạm phát gia tăng đã góp phần tích cực trong việc ổn định lãi suất VND
và ổn định thị trường tiền tệ. Mặt khác, tỷ giá thực thấp hơn tỷ giá hối đoái danh nghĩa
trên thị trường, cho nên tác động khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, hỗ trợ
ổn định lãi suất VND.
- Diến biến tổng phương tiện thanh mặc dù tăng cao, nhưng cơ cấu thay đổi
theo chiều hướng tích cực:
+ Tỷ lệ tiền mặt trên TPTTT giảm từ mức 19, 3% năm 2006 xuống mức 17, 8%
năm 2007.
+ Tỷ lệ ngoại tệ trên tổng tiền gửi từ mức 25, 9% năm 2007 xuống còn 22, 6%
năm 2007 - giảm mức độ đô la hoá của nền kinh tế.
- Hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế :
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+ Trong hoạt động đầu tư tín dụng của các TCTD có những diễn biến tích cực,
các sản phẩm dịch vụ tín dụng đã được đa dạng hơn, nhiều lĩnh vực cho vay đầu tư
được mở rộng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều điều kiện thuận lợi tiếp cận
nguồn vốn vay ngân hàng để phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất
nghiệp góp phần ổn định xã hội, cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn, cho vay
chính sách hỗ trợ các hộ nghèo, hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn cũng được mở
rộng, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, việc
cho vay tiêu dùng cũng được mở ra rất đa dạng đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của xã
hội.
+ Tín dụng đầu tư vào thị trường chứng khoán được kiểm soát chặt chẽ và giảm
dần cả số tuyệt đối và tỷ lệ dư nợ qua các tháng, góp phần thúc đẩy thị trường chứng
khoán phát triển ổn định. Tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản cũng được theo dõi,
giám sát chặt chẽ nhằm góp phần hạn chế những tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động ngân
hàng và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển bến vững.
+ Chất lượng tín dụng được cải thiện: Tỷ lệ nợ xấu tháng 9/2006 là 2, 2%, có
xu hướng giảm so với tỷ lệ nợ xấu tháng 12/2006 (2, 64%), trong đó tỷ lệ nợ xấu của
các nhóm TCTD đều giảm. Cụ thể là: tỷ lệ nợ xấu của các NHTM nhà nước là 2, 8%
(giảm 0, 4%); tỷ lệ nợ xấu của các NHTM cổ phần là 1, 26% (giảm 0, 34%); tỷ lệ nợ
xấu của các ngân hàng liên doanh và chi nhánh nước ngoài là 0, 8% (giảm 0, 4%); tỷ
lệ nợ xấu của các TCTD khác là 2, 4% (giảm 0, 5%).
 Thách thức trong năm 2007:
- Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều (Theo số liệu thống kê đến tháng
10/2007, doanh số phát sinh tiền gửi bằng VND của người không cư trú tại các
NHTM thì có khoảng 13 tỷ USD của người không cư trú được chuyển cho người cư
trú cho mục đích đầu tư vào thị trường chứng khoán, đầu tư vào bất động sản và chi
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tiêu các nhu cầu tiêu dùng khác trong nước) sẽ gây khó khăn trong việc kiểm soát
khối lưọng tiền và kiểm soát lạm phát.
- Chính sách tỉ giá với biên độ giao động nhỏ làm cho nền kinh tế chưa kịp
thích ứng với môi trường bên ngoài.
- Cần thay đổi chính sách tỉ giá biên độ giao động nhỏ bằng chính sách tỉ giá
biên độ giao động lớn hơn.
Các giải pháp điều hành CSTT:
- Thực hiện can thiệp thị trường ngoại hối nhằm giảm áp lực tăng VND gây bất
lợi cho tăng trưởng kinh tế.
- NHNN đã sử dụng linh hoạt các công cụ CSTT để điều tiết có hiệu quả khối
lượng tiền cung ứng này, nhằm đạt mục tiêu mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối Nhà
nước, hạn chế sức ép tăng giá đồng Việt Nam, góp phần bình ổn thị trường ngoại hối,
nhưng đồng thời cũng hút mạnh lượng tiền đã cung ứng ra cho mục đích mua ngoại tệ
để giảm mức độ dư thừa vốn khả dụng của các NHTM, hạn chế sự giá tăng của tổng
phương tiện thanh toán (TPTTT), qua đó giảm áp lực lạm phát. Cụ thể:
+ NHNN đã hút được một lượng tương đối lớn vốn khả dụng dư thừa của các
TCTD, đồng thời vẫn điều tiết kịp thời sự thiếu hụt vốn mang tính thời điểm của một
số TCTD, đảm bảo duy trì ổn định tiền tệ, ổn định lãi suất thị trường.
+ Giữ ổn định các mức lãi suất chính thức do NHNN công bố, nhằm phát tín
hiệu ổn định lãi suất thị trường. NHNN đã chính thức thực hiện bỏ qui định về trần lãi
suất tiền gửi USD của pháp nhân tại TCTD để hoàn toàn tự do hóa lãi suất thị trường,
phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế.
+ Hạn chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, thực hiện cho vay
chiết khấu trong hạn mức phân bổ.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+ NHNN đã quản lý an toàn dự trữ ngoại hối Nhà nước, đáp ứng mục tiêu
thanh khoản và sinh lời ở mức độ nhất định. Tổng dự trữ ngoại hối Nhà nước tính
theo tuần nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng từ mức 13, 6 tuần vào thời điểm cuối
năm 2006 lên gần 18 tuần năm 2007.
2) Giai đoạn: năm 2008:
Năm 2008 là năm có nhiều khó khăn và thử thách đối với hoạt động của
ngành Ngân hàng.
Lạm phát tăng cao và không có dấu hiệu dừng và chia làm 2 giai đoạn:
a. Giai đoạn từ đầu năm đến tháng sáu: NHNN Việt Nam quyết định nâng
dự trữ bắt buộc đối với các NHTM và qui định các NH mua trái phiếu NHNN. Kèm
với đó là hạn chế tăng trưởng tín dụng nóng bằng việc khống chế ở mức 30%. Ngoài
ra, còn hàng loạt chính sách để hỗ trợ thị trường chứng khoán, hạn chế cho vay đối
với bất động sản.
- Hai quý đầu của năm 2008, cùng với những bất ổn trên thị trường tài chính thế
giới, tình hình kinh tế trong nước cũng diễn biến hết sức phức tạp. Giá dầu thô tăng
cao, cộng với sự dồn tích khá lâu về lượng tiền thừa đã làm cho thị trường hàng hoá
Việt Nam có hiện tượng “bốc hoả” về giá. So với tháng 12 năm 2007, giá tiêu dùng
tăng 17, 18%, mức cao nhất so với nhiều năm trở lại đây. Trong đó đáng quan tâm
nhất là hai nhóm hàng lương thực và thực phẩm: lương thực tăng 59, 44%, thực phẩm
tăng 21, 83%, đã góp phần đẩy chỉ số lạm phát bình quân 6 tháng đầu năm lên mức 2,
86%/tháng. Đến cuối tháng 6, chỉ số lạm phát tuy có tăng chậm lại nhưng vẫn ở mức
cao nhất so với tháng 6 của nhiều năm trước (2, 14%).
+Trước tình hình đó, thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ là mục tiêu chủ yếu
của NHNN, với ba công cụ: lãi suất, dự trữ bắt buộc và thị trường mở được sử dụng
đồng thời cùng với những quy định siết chặt thị trường chứng khoán, thị trường bất
động sản… đã tác động mạnh đến thị trường.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét