Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014
PHÁT NGÔN CHỨ HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN BẰNG TIẾNG VIỆT
5
năng tác động. Tác giả chỉ mới dừng lại ở quan hệ giữa kết học và dụng học,
với mục đích là miêu tả đặc điểm cấu trúc cú pháp (kết học) và đặc điểm
cách dùng (dụng học) của 3 trong số 11 kiểu câu hỏi điển hình không dùng để
hỏi.
7. Có một số công trình nghiên cứu câu với sự thể hiện hành động ngôn ngữ, nhất
là hành động tại lời và mượn lời [xem: 36; 76; 88; 154; 222; 226…]. Việc phân
tích ngữ nghóa ngữ dụng của câu hỏi được đẩy mạnh kể từ sau lí thuyết hành
động nói của J.Austin, tiếp đó là J. Searle, O.Ducrot, Wierzbicka… du nhập.
8. Một số công trình đã đề xuất một số cấu trúc mới như cấu trúc vò từ tham thể;
cấu trúc đề thuyết, cấu trúc thông báo [xem 63; 72; 76; 78; 172].
Các hướng nghiên cứu trên, trong một thời gian dài, đã đạt được thành tựu ở
bình diện kết học, nghóa học và một số vấn đề dụng học. Tất cả thành tựu đã đạt
được của các nhà khoa học đi trước là tiền đề quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu
một ô trống khác của câu hỏi và hành động hỏi thuộc bình diện ngữ dụng. Đó là
nghiên cứu cấu trúc lựa chọn để tạo nghóa, tạo hiệu lực giao tiếp với góc độ liên
thông mới rộng mở về tầm nhìn khoa học.
3. Ý NGHĨA ĐỀ TÀI
3.1. VỀ LÍ THUYẾT
Đề tài góp phần minh xác, bổ sung thêm một số nhận thức như: cơ sở lí luận về
đặc điểm hàm ngôn riêng biệt của hành động hỏi trong giao tiếp mua bán. Đồng
thời, luận án làm sáng tỏ bản chất ngôn ngữ xã hội học, bản chất tín hiệu, bản chất
sâu xa của hoạt động ngôn ngữ và mối liên hệ nhiều mặt giữa lí thuyết ngữ dụng
học, tín hiệu học, văn hoá học, tâm lí học, xã hội học, ngôn ngữ xã hội học.
3.2. VỀ THỰC TIỄN
Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong một số lónh vực:
1. Giảng dạy tiếng Việt với tính cách là tiếng mẹ đẻ và như một ngoại ngữ.
6
2. Giảng dạy giao tiếp mua bán của chương trình hướng nghiệp cho học sinh, sinh
viên, nhất là trường kinh tế, ngoại thương, quản trò kinh tế…
3. Nâng cao kiến thức về nghệ thuật hỏi cho những người làm công tác xã hội
thuộc các lónh vực như báo chí, truyền hình…
4. Góp thêm tiếng nói cho giao tiếp đàm phán trong mua bán đối với người Việt
và cả người nước ngoài; nhất là giúp họ sử dụng tốt các nhân tố ngữ dụng một
cách phù hợp nhất trong hành động hỏi khi giao tiếp mua bán.
5. Chọn giải pháp tối ưu về vấn đề xây dựng chuẩn ngôn ngữ về cơ sở lí thuyết
lẫn thực hành trong phạm vi mua bán của đời sống xã hội.
6. Giúp ích cho việc hiểu, ứng xử ngôn ngữ lòch sự trong giao tiếp mua bán.
7. Cung cấp thêm cứ liệu cho các lónh vực khác có liên quan: giáo dục học, tâm lí
học, văn hóa học, kinh tế học, ngoại thương học; xây dựng hệ thống tàng trữ,
xử lí thông tin tự động dưới dạng hỏi và trả lời, cải tiến công tác đàm phán
thương mại, điều tra xét hỏi, rèn luyện khả năng tư duy logich học sinh…
8. Góp thêm một tiếng nói vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
4. MỤC ĐÍCH-NHIỆM VỤ- ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
Luận án tập trung trả lời các câu hỏi sau đây để làm sáng tỏ bình diện ngữ
dụng của hành động hỏi: Chúng ta làm gì khi chúng ta nói? Chúng ta thực sự nói gì
khi chúng ta nói? Tại sao tôi lại hỏi người bạn rằng anh có thể đưa hộ quyển sách
cho
tôi hay không, trong khi rõ ràng rằng anh ta có thể? Ai nói với ai? Ai nói? Nói
cho ai? Anh nghó tôi là ai để có thể nói với tôi như vậy? Nói như vậy là rõ chưa hay
còn mơ hồ? Ngoài ý nghóa theo lời nói trên bề mặt, phát ngôn còn có ý nghóa nào
khác nữa? Làm sao để có thể hiểu được các nghóa đó sau bề mặt của câu chữ? …
Luận án nghiên cứu về hành động nói (speech acts), hẹp hơn nữa là hành động hỏi
(ask acts), ở trong sự kiện nói (speech event) thuộc một lónh vực rộng lớn hơn là
phân tích hội thoại (conversational analysis). Trong khi cố gắng biểu hiện mình,
7
người ta không chỉ tạo ra những phát ngôn chứa các cấu trúc ngữ pháp và các từ, mà
người ta còn thực hiện các hành động bằng các phát ngôn đó. Nghiên cứu hành
động nói không chỉ ở từng phát ngôn riêng rẽ, mà chính là trong tập hợp các phát
ngôn. Sự kiện nói chính là
tập hợp các phát ngôn có tình huống xã hội gồm nhiều
người tham dự; họ phải có một kiểu quan hệ xã hội nhất đònh nào đó; họ phải thể
hiện trong một dòp cụ thể hay một ngữ huống cụ thể nào đó; và họ phải có những
mục tiêu riêng biệt. Tất cả được thể hiện trong một lónh vực rộng lớn hơn là sự phân
tích hội thoại nhằm phát hiện ra các đặc điểm ngôn ngữ học của hội thoại là gì và
được thể hiện như thế nào. Luận án đề xuất cấu trúc lựa chọn trong hành động hỏi.
Mà hành động hỏi trong lónh vực giao tiếp mua bán là mối quan tâm lớn của ngôn
ngữ xã hội học nói chung, ngữ dụng học nói riêng. Việc nghiên cứu, ứng dụng
chúng vào thực tế giao tiếp mua bán là mục đích đầu tiên của chúng tôi. Mục đích
kế tiếp là dựa trên cứ liệu ngôn ngữ mua bán, chúng tôi xác đònh các yếu tố có thực
trong HĐH của lí thuyết dụng học và các vấn đề liên quan đến lí thuyết này từ góc
độ vận dụng, nhất là vấn đề chuẩn ngôn ngữ và yếu tố lòch sự trong giao tiếp mua
bán.
Từ mục đích trên, luận án hướng tới đối tượng và nhiệm vụ chính sau:
1.Phân biệt phát ngôn hỏi-hành động hỏi; hành động hỏi trực tiếp - gián tiếp
2. Nghiên cứu HĐH trong phát ngôn mở đầu đoạn thoại giao tiếp mua bán.
3. Phân chia các tiểu loại hành động hỏi.
4. Nghiên cứu các bình diện kết học- nghóa học- dụng học của phát ngôn chứa
hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp.
5. Nghiên cứu các nhân tố ngữ dụng thuộc cấu trúc thông báo, cấu trúc lựa chọn
của phát ngôn chứa hành động hỏi trong mua bán thông qua hệ thống từ xưng
hô; phương pháp lập luận; cơ chế tạo ý nghóa hàm ẩn; các lược đồ đặc trưng
văn hoá dân tộc….
8
6. Nghiên cứu cấu trúc thông báo và cấu trúc lựa chọn của phát ngôn chứa
chứa hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp.
7. Giải thích cơ chế hàm ẩn của phát ngôn chứa hành động hỏi dưới góc độ đặc
trưng văn hoá dân tộc và tư duy ngôn ngữ của người Việt.
8. Thông qua việc nghiên cứu các vấn đề cụ thể trên đây, khái quát vấn đề cấu
trúc lựa chọn mang tính hàm ngôn cao là sản phẩm tất yếu của lí thuyết giao
tiếp và lí thuyết dụng học.
5. NGUỒN NGỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5. 1. NGUỒN NGỮ LIỆU
1. Các ngữ liệu được thu thập từ các nguồn:từ điển ngoại thương; từ điển
thương mại; các loại giáo trình kó thuật thương mại quốc tế… Các ngữ liệu còn được
thu thập từ việc phỏng vấn trực tiếp hay từ những lời thoại được ghi âm và chuyển
sang dạng viết trong ngôn ngữ tự nhiên của các tầng lớp người mua bán, chủ yếu là
môi trường các chợ, các siêu thò, cửa hàng mua bán.
2. Chúng tôi còn dựa vào tư liệu lí luận và thực tiễn nghiên cứu về lí thuyết
ngữ dụng học, về lí thuyết giao tiếp, về lí thuyết tín hiệu học…
5.2. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÍ TƯ LIỆU
Đầu tiên là chúng tôi quan sát và ghi âm cuộc thoại. Tiếp theo là ghi nhật kí
ngữ liệu, ghi các nhân tố hoàn cảnh giao tiếp và các nhân tố phi ngôn ngữ. Sau đó
là nghe lại, chuyển lời thoại thành dạng viết. Cuối cùng là đánh dấu các phát ngôn
chứa hành động hỏi, lập hồ sơ, phân loại, phân tích tư liệu.
5. 3. PHƯƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án này thực hiện theo hướng gắn lí thuyết với thực tiễn xã hội trong sử
dụng ngôn ngữ, nên chúng tôi đã sử dụng các phương pháp chung sau đây:
9
5.3.1. Phương pháp thống kê và quy nạp
Chúng tôi thống kê tần số xuất hiện của các yếu tố trong hành động hỏi và các
phát ngôn hỏi trên các nguồn ngữ liệu đã nêu. Kết quả thống kê sẽ được sử dụng để
rút ra các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (thống kê đònh lượng để rút ra và quy
nạp các kết luận đònh tính) là những căn cứ thực tiễn giúp cho các cứ liệu khoa học
có tính xác thực, tính chứng minh, thuyết phục.
5. 3.2. Phương pháp phân tích kết hợp với phương pháp tổng hợp
Các phương pháp này giúp ích cho việc phân tích hành động hỏi trong hoàn
cảnh sử dụng của nó. Mối quan hệ với ngữ cảnh rộng và hẹp sẽ giúp hành động hỏi
bộc lộ rõ mối quan hệ với các nhân tố khác. Căn cứ vào cặp thoại có chứa hành
động hỏi và hành động trả lời, chúng tôi phân tích các nhân tố đi theo chúng. Đối
với hành động hỏi được thực hiện bằng phát ngôn hỏi không chính danh, phương
pháp phân tích còn phải bám vào các nhân tố ngữ cảnh (context), nhân tố văn cảnh
(cotext) như: người nói, người nghe, mục đích hay ý đồ giao tiếp, vốn tri thức nền,
những lượt lời được đặt trước và sau phát ngôn chứa hành động hỏi… Bên cạnh việc
sử dụng phương pháp phân tích, chúng tôi còn sử dụng kết hợp phương pháp tổng
hợp, khái quát vấn đề một cách có cơ sở, nghóa là vừa phân tích vừa tổng hợp, vừa
diễn dòch vừa quy nạp để xử lí tốt các vấn đề.
5.3.3. Thủ pháp miêu tả
Chúng tôi vận dụng phương pháp miêu tả cấu trúc – ngữ nghóa- phương thức
cấu tạo các phát ngôn có ý nghóa hành động hỏi, các nhân tố ngôn ngữ và phi ngôn
ngữ đi kèm các hành động hỏi…
5.3.4. Thủ pháp điều tra và trắc nghiệm bằng phỏng vấn
Chúng tôi đã điều tra trực tiếp các đối tượng tham gia hoạt động mua bán một
cách khách quan, tự nhiên (xem bảng phụ lục)
10
5. 3.5.Thủ pháp so sánh
Thủ pháp này sử dụng để xem xét nét giống nhau và khác nhau giữa các nhân
tố của hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp, để tạo nền cho phương pháp phân tích,
tổng hợp, miêu tả …được thực hiện chính xác và hiệu quả hơn.
5.3.6. Phương pháp điền dã
Luận án này thực hiện theo hướng gắn lí thuyết với thực tiễn xã hội trong việc
sử dụng ngôn ngữ, nên bên cạnh các phương pháp chung, chúng tôi đã sử dụng
phương pháp điền dã là phương pháp đặc thù chủ yếu, bằng cách đi thực tế để thu
thập tư liệu từ việc phỏng vấn trực tiếp, ghi âm lời thoại trong phạm vi mua bán.
Sau đó dựa vào và xử lí tốt nguồn tư liệu để đi đến các kết luận.
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6. 1. Gồm cả phát ngôn hỏi chính danh- phát ngôn hỏi không chính danh.
6.2. Nghiên cứu phát ngôn hỏi có lực ngôn trung là yêu cầu cung cấp cái được
thông báo của người nói và cái được hiểu của người nghe
6. 3. Các công trình đi trước thường chỉ chú ý đến phát ngôn hỏi của người hỏi
mà ít chú ý đến phát ngôn hỏi hồi đáp của người nghe. Luận án chú ý
nghiên cứu cả quá trình lập mã tạo hành động hỏi của phát ngôn hỏi ở
người hỏi, cả quá trình giải mã của cái được hiểu để tạo hành động hồi đáp
và có khi bằng hành động hỏi hồi đáp (hỏi lại) của người nghe trực tiếp hay
gián tiếp.
6. 4. Đối tượng nghiên cứu của luận án rộng và phức tạp nên việc triển khai luận
án được giới thuyết bằng nhiều khía cạnh có liên quan. Đó là giới thuyết
giao tiếp, giới thuyết ngữ dụng, giới thuyết hội thoại, giới thuyết hành động
ngôn ngữ. Chúng được cụ thể hóa bằng các giới thuyết khi được vận dụng
như: giới thuyết về hiệu lực giao tiếp, giới thuyết về nguyên tắc lập mã và
11
giải mã, giới thuyết về áp lực phi NN, giới thuyết về đặc điểm của cấu trúc
lựa chọn…
7. DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Đầu tiên là phân loại hành động hỏi một cách tổng quan và hệ thống.
Kế tiếp là thông qua việc xác đònh hành động hỏi gián tiếp, từ đặc điểm riêng
của môi trường giao tiếp mua bán, chúng tôi gợi mở cho lí thuyết hội thoại cấu trúc
lựa chọn là một dạng cấu trúc thông báo vừa hiển ngôn vừa hàm ngôn. Cấu trúc
lựa chọn vừa hiển ngôn, vừa hàm ngôn này thực chất là loại cấu trúc xác lập hiệu
lực giao tiếp theo hướng hàm ngôn, lấy cấu trúc hiển ngôn làm hình thức chứa đựng.
Cấu trúc lựa chọn là cấu trúc tạo nghóa và tạo hiệu lực giao tiếp được xác lập theo
hướng phân chia cấp độ nghóa theo hệ liên tưởng, theo hướng hàm ngôn (không
phân đoạn thực tại theo hệ hình), gắn với cơ chế ngữ dụng của nó là kết quả sự tận
dụng tối đa yếu tố phi ngôn ngữ, yếu tố ngôn ngữ, gắn với tư duy ngôn ngữ xã hội
học điển hình, mang đặc trưng riêng của GT mua bán.
Việc phát hiện, lí giải sự hình thành và hoạt động của loại CTLC mang tính
hàm ngôn cao, có thể xem là một cơ hội tốt để chúng tôi có thể mở rộng sự hiểu biết
của mình vào những tầng bậc cao của ngữ dụng học như: cách xử lí mối quan hệ
giữa phạm trù ngôn ngữ và phi NN đối với người lập mã và người giải mã trong quá
trình sử dụng; cách lí giải về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và các biểu thức quy chiếu
(được xác lập thông qua hành động chiếu vật của người giao tiếp) theo nguyên tắc
chuyển mã từ cơ chế tín hiệu học. Cấu trúc lựa chọn là một loại quy ước siêu ngôn
ngữ, hay là một loại ẩn dụ phức hợp. Bởi vì chúng tuy được xác lập từ mã ngôn ngữ,
nhưng trên thực tế, hiệu lực giao tiếp đích thực của chúng nhiều khi không còn dựa
trên nghóa thực thể vốn có của ngôn ngữ. Nói khác đi, ngôn ngữ thực ở đây đã được
mã hóa theo hướng phi ngôn ngữ và ngược lại, có thể nói đây cũng chính là quá
trình ngôn ngữ hóa các yếu tố phi ngôn ngữ. Vấn đề này không thể thoát li khỏi cái
12
nhìn triệt để của cơ chế lí thuyết tín hiệu học với sự bổ sung của ngôn ngữ học tri
nhận, và kèm theo, đó phải là một tầm nhìn ngôn ngữ rộng mở về phía xã hội học
và văn hóa học.
Luận án cũng góp phần giúp người đọc thấy rõ sự khác nhau của sắc thái hàm
ẩn trong hành động hỏi thuộc môi trường mua bán trong đời sống hằng ngày, với sắc
thái hàm ẩn trong văn bản nghệ thuật. Nó không phải là sản phẩm của quá trình tu
từ theo hướng thẩm mó của thao tác tư duy hình tượng của ngôn ngữ trong văn bản
nghệ thuật, mà thực chất là sự tạo nghóa dụng học với các cung bậc tiền giả đònh
khác nhau, theo sự tương tác giữa nguyên lí lòch sự, nguyên lí cộng tác, cùng với sự
phá vỡ phương châm hội thoại về chất và về lượng riêng biệt, theo một chuẩn ngôn
ngữ được lựa chọn để đạt mục đích giao tiếp mang tính đặc thù.
Luận án đưa ra khung cơ bản để nâng hàm ngôn nghóa học thành hàm ngôn
dụng học, qua đó, chỉ ra những đònh hướng chính về cách vi phạm nguyên tắc dụng
học trong cơ chế tạo nghóa hàm ngôn dụng học với sự chi phối lẫn nhau ở các cấp
độ. Như vậy, cơ chế tạo nghóa hàm ẩn thuộc về yếu tố ngôn ngữ (là một trong 3
yếu tố cấu tạo) giúp cho sự lựa chọn của cấu trúc lựa chọn tạo nghóa hàm ẩn.
Luận án có đóng góp nhất đònh về chuẩn ngôn ngữ trong phạm vi mua bán,
khắc phục các hạn chế bằng cách thay đổi thói quen. Điều đó cần sự kết hợp của cả
cộng đồng, của các nhà văn, nhà báo, nhà ngôn ngữ, kể cả sự hổ trợ của chính sách,
pháp luật của nhà nước.
8. CẤU TRÚC LUẬN ÁN :
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Phụ lục; Tài liệu tham khảo, luận án gồm có:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết liên quan đến việc nghiên cứu phát ngôn chứa hành
động hỏi trong giao tiếp mua bán.
Chương 2: Nhận diện hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp ở ba
bình diện kết học - nghóa học - dụng học.
13
Chương 3: Nghóa hàm ẩn và cơ chế tạo nghóa hàm ngôn của phát ngôn chứa
hành động hỏi trong giao tiếp mua bán.
Chương 4: Từ xưng hô và cách xưng hô của phát ngôn chứa hành động hỏi
trong giao tiếp mua bán.
Chương 5: Đặc trưng văn hoá dân tộc với ý nghóa hàm ẩn của phát ngôn chứa
hành động hỏi trong giao tiếp mua bán.
14
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NGHIÊN CỨU PHÁT
NGƠN CHỨA HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN
1.1. NHỮNG CƠ SỞ LÍ THUYẾT CHUNG
Bản thân hành động nói năng là đối tượng nghiên cứu rộng và phức tạp. Nó
gắn kết, đan xen theo hướng tích hợp rất nhiều vấn đề thuộc các chuyên ngành khác
nhau của lí luận ngôn ngữ. Để có thể lí giải được vấn đề đã đặt ra từ chiều sâu, luận
án bắt đầu bằng quá trình xác lập một hệ các giới thuyết từ đònh hướng vận dụng
các vấn đề lí thuyết chung sau đây:
1.1.1. Vấn đề quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói
F. de. Saussure đã khẳng đònh về sự tồn tại của ngôn ngữ và lời nói như là hai
khái niệm đối lập nhau, dẫn đến sự đối lập giữa tính xã hội và tính cá nhân, giữa hệ
thống ngôn ngữ ổn đònh - bất biến và hoạt động ngôn ngữ sinh động- đa dạng, giữa
hệ thống ngôn ngữ có tính xã hội, tính độc lập đối với tính cá nhân của lời nói, của
hoạt động ngôn ngữ. Chúng tôi vận dụng vào nghiên cứu luận án về quan điểm mối
quan hệ qua lại của NN và hoạt động NN:” NN là cần thiết để cho lời nói có thể
hiểu được và tạo hiệu quả của nó, nhưng lời nói lại cần thiết để cho NN được xác
lập. Về phương diện lòch sử, sự kiện của lời nói bao giờ cũng đi trước… Cuối cùng,
chính lời nói làm cho NN biến hóa” [67, tr41]. Nhiều tác giả khác chú ý đến sự phân
biệt giữa NN và lời nói, nhưng có nhiều người lại không tán đồng và cho rằng sự
lưỡng phân đó là cực đoan. Bên cạnh việc tiếp thu quan điểm phân biệt NN và lời
nói, chúng tôi không tán đồng ý kiến mà ông cho rằng, việc nghiên cứu hoạt động
NN gắn với bộ phận chủ yếu với đối tượng là NN; bộ phận thứ yếu với đối tượng là
phần cá nhân trong hoạt động NN, nghóa là lời nói. Vận dụng vào nghiên cứu đối
tượng phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán, chúng tôi nhận thấy
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét