Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Thực trạng hoạt động tín dụng tại SGD II ngân hàng ĐT&PT Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ GVHD: PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DỜN
GIAO DỊCH 2 NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM
Chương 3: BIỆN PHÁP NHẰM MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO CHẤT
LƯNG TÍN DỤNG TRUNG-DÀI HẠN TẠI SỞ GIAO
DỊCH 2 NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM.
Với kết cấu nói trên, bản luận văn phản ánh những nội dung về lý
luận, thực tiễn, từ đó đề xuất những giải pháp để thực hiện mục tiêu
nghiên cứu. Tuy nhiên, do kiến thức còn hạn chế, bản luận văn khó
tránh khỏi thiếu sót. Kính mong quý Thầy Cô và những người quan tâm
góp ý để tác giả rút kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học.
Để hoàn thành bản luận văn này, tác giả nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình và chu đáo của cán bộ lãnh đạo và nhân viên của Sở Giao
dòch 2 – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Nhận được sự chỉ
bảo tận tình của người hướng dẫn khoa học – PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG
DỜN. Tác giả xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ quý báu của Thầy
hướng dẫn và của Sở Giao dòch 2 – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam.

TP.HCM, tháng 10 năm 2004
Học viên: NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Trang

5
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ GVHD: PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DỜN
CHƯƠNG I :
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG


I. BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG
1. Khái niệm và bản chất tín dụng:
Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa
người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả.
Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hóa, có quá trình ra đời
tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa.
Lúc đầu, các quan hệ tín dụng hầu hết đều là tín dụng bằng hiện
vật, và một phần nhỏ là tín dụng hiện kim, tồn tại dưới tên gọi là tín
dụng nặng lãi, cơ sở của quan hệ tín dụng lúc bấy giờ chính là sự phát
triển bước đầu của các quan hệ hàng hóa – tiền tệ trong điều kiện của
nền sản xuất hàng hóa kém phát triển.
Các quan hệ tín dụng phát triển trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ và
chế độ phong kiến, phản ánh thực trạng của một nền kinh tế sản xuất
hàng hóa nhỏ.
Chỉ đến khi phương thức sản xuất TBCN ra đời, các quan hệ tín
dụng mới có điều kiện để phát triển. Tín dụng bằng hiện vật đã nhường
chỗ cho tín dụng bằng hiện kim, tín dụng nặng lãi phi kinh tế đã nhường
chỗ cho các loại hình tín dụng khác ưu việt hơn như tín dụng ngân hàng,
tín dụng Nhà nước…
Mặc dù tín dụng có một quá trình tồn tại và phát triển lâu dài qua
nhiều hình thái kinh tế, với nhiều hình thức khác nhau, song đều có tính
chất quan trọng như sau:

Tín dụng trước hết chỉ là sự giao chuyển quyền sử dụng một số
tiền (hiện kim) hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ
thể khác, chứ không làm thay đổi quyền sở hữu chúng.

Tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải được “hoàn trả”
Học viên: NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Trang

6
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ GVHD: PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DỜN

Giá trò của tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng
cao nhờ lợi tức tín dụng.
 Bản chất của tín dụng:
Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay
và người cho vay, nhờ quan hệ ấy mà vốn tiền tệ được vận động từ chủ
thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong
nền kinh tế xã hội.
Tín dụng là một số vốn tiền tệ vận động theo nguyên tắc hoàn trả,
nhờ đó đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của nền kinh tế-xã hội.
2. Chức năng của tín dụng:
Tín dụng có 3 chức năng:
 Một là : Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ
Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ chức năng này của
tín dụng mà các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi
“thừa” sang nơi “thiếu” để sử dụng nhằm phát triển nền kinh tế.
Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai mặt hợp thành chức
năng cốt lõi của tín dụng.

Ở mặt tập trung vốn tiền tệ: nhờ sự hoạt động của hệ thống tín
dụng mà các nguồn tiền nhàn rỗi được tập trung lại, bao gồm tiền
nhàn rỗi của dân chúng, vốn bằng tiền của các doanh nghiệp,
vốn bằng tiền của các tổ chức đoàn thể, xã hội…

Ở mặt phân phối lại vốn tiền tệ, đây là mặt cơ bản của chức năng
này – đó là sự chuyển hóa để sử dụng các nguồn vốn đã tập
trung được để đáp ứng nhu cầu của sản xuất lưu thông hàng hóa
cũng như nhu cầu tiêu dùng trong toàn xã hội.
Cả hai mặt tập trung và phân phối lại vốn đều được thực hiện theo
nguyên tắc hoàn trả vì vậy tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích mặt
tập trung vốn, thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả.
 Hai là : Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho
xã hội.
Học viên: NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Trang

7
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ GVHD: PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DỜN
Chức năng này thể hiện qua các mặt sau đây:

Hoạt động tín dụng , trước hết tạo điều kiện cho sự ra đời của các
công cụ lưu thông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng,
các loại séc, các phương tiện thanh toán hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ
thanh toán… cho phép thay thế một số lượng lớn tiền mặt lưu hành,
nhờ đó làm giảm bớt các chi phí có liên quan như in tiền, đúc tiền,
vận chuyển, bảo quản tiền…

Với sự hoạt động của tín dụng, đặc biệt là tín dụng ngân hàng đã
mở ra một khả năng lớn trong việc mở tài khoản và giao dòch
thanh toán thông qua ngân hàng dưới các hình thức chuyển khoản
hoặc bù trừ cho nhau.

Nhờ hoạt động của tín dụng, mà các nguồn vốn đang nằm trong
xã hội được huy động để sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất
và lưu thông hàng hóa sẽ có tác dụng tăng tốc độ chu chuyển vốn
trong phạm vi toàn xã hội.
 Ba là : Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh
te
á.
Đây là chức năng phát sinh, hệ quả của hai chức năng nói trên.
Sự vận động của vốn tín dụng phần lớn là sự vận động gắn liền với
sự vận động của vật tư, hàng hóa, chi phí trong các xí nghiệp, các tổ
chức kinh tế, vì vậy qua đó tín dụng không những là tấm gương phản ánh
hoạt động kinh tế của doanh nghiệp mà còn thông qua đó thực hiện việc
kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực
lãng phí, vi phạm pháp luật… trong hoạt động SXKD của các doanh
nghiệp.
3. Vai trò của tín dụng:
Nói đến vai trò của tín dụng, nghóa là nói đến sự tác động của tín
dụng đối với nền kinh tế – xã hội. Vai trò của tín dụng có những mặt
tích cực .
Mặt tích cực, tín dụng có vai trò to lớn sau đây:
 Một là : Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng
Học viên: NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Trang

8
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ GVHD: PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DỜN
hóa phát triển.

Tín dụng, là nguồn cung ứng vốn cho các doanh nghiệp các tổ chức
kinh tế.

Tín dụng, là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách
hữu hiệu trong nền kinh tế.


Tín dụng, là công cụ thúc đẩy tích tụ vốn cho các xí nghiệp, tổ chức
kinh tế.
Như vậy, tín dụng góp phần cung ứng vốn bao gồm vốn cố đònh,
vốn lưu thông đối với doanh nghiệp, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư
đối với dân chúng và đối với toàn xã hội tín dụng làm tăng hiệu suất sử
dụng đồng vốn. Tất cả đều hợp lực và tác động lên đời sống kinh tế – xã
hội khiến tạo ra động lực phát triển rất mạnh mẽ mà không có công cụ
tài chính nào thay thế được.
 Hai là : Tín dụng góp phần ổn đònh tiền tệ, ổn đònh giá cả.
Trong khi thực hiện chức năng thứ nhất là tập trung và phân phối
lại tiền tệ, tín dụng đã góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu hành
trong nền kinh tế, đặc biệt là tiền mặt trong tay tầng lớp dân cư, làm
giảm áp lực lạm phát, nhờ vậy góp phần làm ổn đònh tiền tệ, mặt khác,
do cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp hoàn thành kế hoạch SXKD… làm cho sản xuất ngày càng phát
triển, sản xuất hàng hóa dòch vụ làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng được
nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, chính nhờ đó mà tín dụng góp phần
làm ổn đònh thò trường giá cả trong nước…
 Ba là : Tín dụng góp phần ổn đònh đời sống, tạo công ăn việc
làm, và ổn đònh xã hội.
Một mặt, do tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển,
sản xuất hàng hóa và dòch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn nhu
cầu đời sống của người lao động, mặt khác, do vốn tín dụng cung ứng đã
tạo ra khả năng trong việc khai thác các tiềm năng sẵn có trong xã hội
về tài nguyên thiên nhiên, về lao động, đất, rừng… do đó có thể thu hút
nhiều lực lượng lao động của xã hội để tạo ra lực lượng sản xuất mới để
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Học viên: NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Trang

9
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ GVHD: PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DỜN
Một xã hội phát triển lành mạnh, đời sống được ổn đònh, ai cũng có
công ăn việc làm… đó là tiền đề quan trọng để ổn đònh trật tự xã hội.
Cuối cùng có thể nói tín dụng còn có vai trò quan trọng để mở rộng
và phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu
quốc tế. Sự phát triển của tín dụng không những ở trong phạm vi quốc
nội mà còn mở rộng ra cả phạm vi quốc tế, nhờ đó nó thúc đẩy mở rộng
và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại, nhằm giúp đỡ và giải quyết
các nhu cầu lẫn nhau trong quá trình phát triển đi lên của mỗi nước, làm
cho các nước có điều kiện xích lại gần nhau hơn và cùng nhau phát triển.

II. CÁC HÌNH THỨC TÍN DỤNG:
1. Tín dụng thương mại:
1.1. Khái niệm:
Tín dụng thương mại (TDTM) là quan hệ tín dụng giữa các Công
ty, xí nghiệp, các tổ chức kinh tế với nhau, được thực hiện dưới hình thức
mua bán chòu hàng hóa cho nhau.
TDTM ra đời dựa trên nền tảng khách quan đó là quá trình luân
chuyển vốn và chu kỳ SXKD (sản xuất kinh doanh) của các xí nghiệp, tổ
chức kinh tế không có sự phù hợp và ăn khớp lẫn nhau không những
giữa các tổ chức kinh tế khác ngành mà còn giữa các tổ chức kinh tế
trong cùng một ngành. Sự không ăn khớp này dẫn đến hiện tượng trong
cùng một thời điểm, một số doanh nghiệp đã sản xuất ra một lượng hàng
hóa đang cần bán, nhưng chưa cần phải thu tiền ngay, trong khi một số
doanh nghiệp khác cần mua những sản phẩm hàng hóa ấy để đáp ứng
nhu cầu SXKD nhưng lại chưa có tiền.
Hiện tượng này có thể được giải quyết nếu các doanh nghiệp tiến
hành mua bán chòu hàng hóa cho nhau. Đó chính là tín dụng thương mại.
Như vậy tín dụng thương mại đều có lợi cho cả hai phía và có lợi
đối với tiến trình phát triển của nền kinh tế, bởi vậy TDTM đã tồn tại và
phát triển từ xa xưa, đặc biệt TDTM phát triển rất mạnh trong điều kiện
của nền kinh tế hàng hóa phát triển như hiện nay.
Học viên: NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Trang

10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ GVHD: PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DỜN
1.2. Đặc điểm của tín dụng thương mại:
• TDTM là tín dụng giữa những người SXKD, tuy là hình thức tín
dụng phát triển rộng rãi nhưng không phải là chuyên nghiệp, sự
tồn tại và phát triển rộng rãi của nó dựa trên sự tín nhiệm cũng
như mối quan hệ cung cấp hàng hóa dòch vụ giữa những người
sản xuất kinh doanh ấy.
• Đối tượng của TDTM là hàng hóa chứ không phải là tiền tệ.
• Sự vận động và phát triển của TDTM bao giờ cũng phù hợp với
sự phát triển của nền sản xuất và trao đổi hàng hóa.
1.3. Công cụ của tín dụng thương mại:
Công cụ của TDTM là Thương phiếu còn gọi là kỳ phiếu.
Thực chất của thương phiếu là một giấy nợ thương mại, có hình
thức ngắn gọn, chặt chẽ và được pháp luật thừa nhận để sử dụng trong
mua bán chòu hàng hóa. Nó là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh
chấp trong quan hệ TDTM.
Thương phiếu có 3 tính chất quan trọng sau:
Một là : Tính trừu tượng : Trên thương phiếu người ta không phản
ánh nội dung quan hệ thương mại, luật pháp cũng cho phép rằng giá trò
pháp lý của thương phiếu không phụ thuộc vào xuất xứ của nó.
Hai là : Tính bắt buộc : Người trả tiền bắt buộc phải thanh toán số
tiền của thương phiếu cho người thụ hưởng.
Ba là : Tính lưu thông. Trong thời gian hiệu lực của thương phiếu,
nó có thể luân chuyển từ tay người này sang tay người khác bằng cách
ký hậu chuyển nhượng, nhờ đó, thương phiếu được sử dụng như là một
phương tiện thanh toán trong nền kinh tế.
1.4. Tác dụng của tín dụng thương mại:

TDTM trực tiếp thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa.

TDTM góp phần giải quyết các nhu cầu về vốn cho xã hội (vốn
bằng hiện vật) nhờ đó đảm bảo được quá trình SXKD.

TDTM có tác dụng làm giảm lượng tiền mặt lưu hành do đó góp
Học viên: NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Trang

11
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ GVHD: PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DỜN
phần ổn đònh lưu thông tiền tệ.
Do tác dụng to lớn của TDTM nói chung cũng như thương phiếu nói
riêng, nên ở Việt nam, theo luật Thương mại có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 01 năm 1998, cho phép các đơn vò tổ chức kinh tế…sử
dụng thương phiếu để thanh toán trong hoạt động thương mại (Điều
220), các thương phiếu được sử dụng bao gồm hối phiếu và lệnh phiếu
(Điều 219).
2. Tín dụng ngân hàng:
2.1. Khái niệm:
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các xí nghiệp, tổ chức
kinh tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng
đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với các
đối tượng nói trên.
Tín dụng ngân hàng (TDNH) là hình thức tín dụng chủ yếu, chiếm
vò trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế.
TDNH ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của hệ
thống ngân hàng, khác với TDTM, TDNH là hình thức tín dụng chuyên
nghiệp hoạt động của nó hết sức đa dạng và phong phú.
2.2. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng:
Đối tượng của tín dụng ngân hàng là vốn tiền tệ nghóa là ngân hàng
huy động vốn và cho vay bằng tiền.
Trong TDNH, các chủ thể của nó được xác đònh một cách rõ ràng,
trong đó ngân hàng là người cho vay, còn các doanh nghiệp, tổ chức kinh
tế cá nhân … là người đi vay. Tuy nhiên nếu nhìn tổng thể thì ngân hàng
vừa là người đi vay trong nghiệp vụ huy động vốn, vừa là người cho vay
trong nghiệp vụ sử dụng vốn. Còn doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và dân
cư vừa là người gửi tiền, vừa là người đi vay NHTM.
TDNH vừa là tín dụng mang tính chất SXKD gắn với hoạt động
SXKD của các doanh nghiệp vừa là tín dụng tiêu dùng, không gắn với
hoạt động SXKD của các doanh nghiệp, vì vậy quá trình vận động và
phát triển của TDNH không hoàn toàn phù hợp với quá trình phát triển
và lưu thông hàng hóa.
Học viên: NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Trang

12
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ GVHD: PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DỜN
2.3. Công cụ hoạt động của tín dụng ngân hàng:
Trong TDNH, các công cụ được sử dụng cũng rất đa dạng và phong
phú.
Để tập trung các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội, ngân hàng sử dụng
các công cụ như kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi, các sổ tiết kiệm
đònh mức hoặc không đònh mức…
Để cung ứng với tín dụng cho các doanh nghiệp (cho vay vốn),
ngân hàng sử dụng công cụ chủ yếu là khế ước cho vay (hoặc hợp đồng
tín dụng), với khế ước này, cho phép ngân hàng thu hồi đầy đủ số vốn
gốc và lãi theo thời hạn xác đònh.
2.4. Tác dụng của tín dụng ngân hàng:
TDNH có những ưu thế so với tín dụng thương mại.

TDNH có qui mô rộng lớn, mở rộng cho mọi đối tượng trong xã
hội; nó có thể xâm nhập vào các ngành, với nhiều loại hình và
qui mô hoạt động lớn, vừa và nhỏ, không những xâm nhập vào
lónh vực SXKD mà còn xâm nhập vào các lónh vực khác như dòch
vụ, đời sống. Vì vậy có thể khẳng đònh vai trò to lớn của TDNH
trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội.

TDNH không bò hạn chế về qui mô, có nghóa TDNH có thể cung
ứng vốn cho nền kinh tế với số lượng rất lớn, với nhiều thời hạn
khác nhau, nhờ đó giúp các doanh nghiệp không những có vốn
để kinh doanh mà còn có thể mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ,
thiết bò, nhằm nâng cao năng lực sản xuất, như vậy TDNH có tác
dụng đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế.

Hoạt động của TDNH còn có tác động và ảnh hưởng lớn đối với
tình hình lưu thông tiền tệ của đất nước. Nhờ hoạt động của
TDNH mà vốn tiền tệ của xã hội được huy động và sử dụng tối
đa cho nhu cầu phát triển kinh tế; nó vừa có tác dụng đẩy nhanh
tốc độ chu chuyển vốn, vừa làm cho các chu chuyển tiền tệ được
tập trung phần lớn qua hệ thống ngân hàng. Đó là những điều
kiện quan trọng để ổn đònh lưu thông tiền tệ, ổn đònh giá cả thò
trường…
Học viên: NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Trang

13
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ GVHD: PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG DỜN
Hoạt động cấp tín dụng trong tín dụng ngân hàng bao gồm:
• Cho vay
• Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá
• Bảo lãnh
• Cho thuê tài chính
Trong đó cho vay và chiết khấu là chủ yếu.
2.5. Phân loại cho vay của tín dụng ngân hàng:
• Căn cứ vào thời hạn cho vay
+ Cho vay ngắn hạn để phục vụ SXKD cho các đơn vò kinh tế –
có thời hạn đến 1 năm
+ Cho vay trung, dài hạn giúp các đơn vò thực hiện các dự án
đầu tư, đổi mới thiết bò– có thời hạn từ 1 đến 5 năm đối với
cho vay trung hạn và trên 5 năm đối với cho vay dài hạn.
• Căn cứ tính chất luân chuyển của vốn
+ Cho vay vốn lưu động
+ Cho vay vốn cố đònh
• Căn cứ vào bảo đảm tín dụng
+ Tín dụng không có bảo đảm : là tín dụng không có tài sản
cầm cố, thế chấp hay cho vay bảo lãnh của người thứ ba.
+ Tín dụng có bảo đảm : là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp
hay có bảo lãnh của người thứ ba.
• Căn cứ vào mối quan hệ giữa các chủ thể
+ Cho vay trực tiếp
+ Cho vay gián tiếp
• Căn cứ vào phương pháp cấp tiền vay và thu nợ
+ Cho vay luân chuyển
+ Cho vay từng lần
• Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
+ Cho vay SXKD
+ Cho vay tiêu dùng.
Học viên: NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Trang

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét