Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Vậy,sự phát triển đồng bộ các loại thị trường là sự ăn khớp giữa các thị
trường về loại hình,trình độ phát triển và quy mô tạo nên một sự hoạt động nhịp
nhàng của hệ thống thị trường và nền kinh tế quốc dân.
Sự đồng bộ của thị trường trước hết là hệ thống thị trường với đầy đủ các
loại hình:thị trường tiền tệ,thị trường công nghệ,thị trường lao động,thị trường
đất đai,thị trường hàng hoá,dịch vụ….
Sự đồng bộ các loại thị trường là vấn đề ăn khớp về cấp độ hay mức độ
phát triển thị trường.Về phương diện lịch sử thị trường,có ba cấp độ phát triển
như sau:
-Cấp độ phát triển thị trường cổ diển: Đây là dạng thức của thị trường mà ở
cùng một không gian,thời gian , địa điểm ba yếu tố người mua,người bán và
hàng hoá xuất hiện đồng thời với nhau.Với dạng thực thị trường này,người ta có
thể nhận biết về quy mô, động thái mua bán trên thị trường.
-Cấp độ thị trường phát triển: Ở dạng thức thị trường này hàng hoá không
nhất thiết phải xuất hiện đồng thời với người mua,người bán.Người ta có thể
mua bán ngay cả trước khi hàng hoá được sản xuất ra. Đó là mua bán theo hợp
đồng ký trước.Với dạng thức thị trường này,tính ”hiện hữu “ của thị trường
không nhìn thấy được .Thị trường trải rộng cả không gian và thời gian.
-Cấp độ thị trường hiện đại:Trên thị trường lúc này chỉ xuất hiện hoặc
người mua,hoặc người bán.Khi đó,người trung gian xuất hiện làm công việc
giao dịch chứng khoán,sở giao dịch và dịch vụ thương mại.Việc giao dịch
thương mại…đáp ứng nhu cầu dịch vụ mua bán trên thị trường.
Hiện nay,với các nước phát triển thì cấp độ thị trường hiện đại chiếm ưu thế
phổ biến,thị trường phát triển còn chi phối ở phạm vi rất rộng,thị trường cổ diển
là tàn dư. Ở nước ta hiện nay,có thể nói cấp độ thị trường cổ điển là phổ
biến,chừng mực nào đó cấp độ thị trường phát triển đã có sức chi phối lớn trên
thị trường,còn cấp độ thị trường hiện đại đang ở giai đoạn khởi phát.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.2.2. Sự cần thiết để phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mọi sự vật,hiện tượng chỉ có thể phát triển trong trạng thái cân đối;phá vỡ
sự cân đối này phải hình thành sự cân đối mới tích cực hơn.Nền kinh tế quốc
dân là một chỉnh thể thống nhất. Để nền kinh tế quốc dân phát triển ổn định ,bền
vững các bộ phận cấu thành nên nó phải đồng bộ với nhau. Đó chính là điều
kiện cần cho sự vận hành nền kinh tế.Trong nền kinh tế tự nhiên,tự cấp tự túc
khi mà sản xuất và tiêu dùng trực tiếp , đồng nhất, ăn khớp với nhau thì sự đồng
bộ của nền kinh tế quốc dân rất giản đơn và chung quy lại chỉ là tương quan
giữa sản xuất-tiêu dùng-dự trữ. Ở đây,không xuất hiện thị trường kinh tế hàng
hoá đối lập với kinh tế tự nhiên,sản phẩm trước khi đi vào tiêu dùng phải đi qua
khâu phân phối lưu thông.Thị trường vừa là kết quả của sản xuất hàng hoá vừa
là điều kiện của sản xuất hàng hoá.Sự tách biệt giữa sản xuất và tiêu dùng,giữa
hàng và tiền đã dấn đến sự không khớp nhau về khối lượng,tiến độ ,thời gian sản
xuất và tiêu dùng hàng hoá.Khi sản xuất xã hội càng phát triển thì đa số nhu cầu
của con người được thoả mãn thông qua thị trường.Bản thân sự tiêu dùng(tiêu
dùng cho cá nhân và tiêu dùng cho sản xuất) luôn đòi hỏi sự đồng bộ cao,nếu
không tiêu dùng không thực hiện được.
Trên thị trường có hai nhóm người hoạt động;Nhóm thứ nhất là những
người mua hàng hoá,sử dụng dich vụ,nhóm thứ hai là những người bán hoặc
cung cấp hàng hoá,dịch vụ cho tiêu dùng,sự phân nhóm này chỉ là tương đối và
với mỗi người khi này thì thựôc nhóm người mua nhưng khi khác lại thuộc
nhóm người bán.Thị trường là giao điểm gặp gỡ,tác động của hai nhóm người
này.Cùng thông qua thị trường để giải quyết mâu thuẫn giữa người mua và
người bán, đảm bảo thực hiện cân đối giữa cung và cầu.Mâu thuẫn trên thị
trường phản ánh mâu thuẫn kinh tế,chính trị ,xã hội.Khi mâu thuẫn được giải
quyết thì người mua ,người bán,người sản xuất điều thực hiện được mục tiêu của
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
mình.Nhưng ách tắc trên thị trường có nguy cơ dần đến khủng hoảng kinh
tế,mâu thuẫn gây mất ổn định xã hội.Như vậy,phát triển thị trường là điều kiện
để phát triển sản xuất hàng hoá,suy rộng ra là điều kiện của sự phồn thịnh kinh
tế xã hội.
Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực thi hành chính sách mở cửa,hội nhập
kinh tế khu vực và quốc tế. Để phù hợp với môi trường quốc tế mới,chúng ta
phải phát triển các thị trường để đáp ứng yêu cầu giao lưu kinh tế,hội nhập kinh
tế quốc tế.Trong môi trường quốc tế hoá,sự phát triển đồng bộ các loại thị
trường không chỉ đáp ứng yêu cầu trong nước mà còn nhằm vươn tới thị trường
ngoài nước,tranh thủ cơ hội quốc tế để phát triển.
Chính vậy,cả điều kiện chủ quan và khách quan, điều kiện trong nước và
ngoài nước,trước mắt và dài lâu là đòi hỏi phải phát triển đồng bộ các loại thị
trường.
II. Thực trạng của quá trình hình thành và phát triển các loại thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
2.1.Thực trạng phát triển của các loại thị trường hiện nay của nước ta.
2.1.1.Thị trường hàng hoá-dịch vụ
Thị trường hàng hoá-dich vụ là thị trường mua bán và trao đổi những sản
phẩm và dịch vụ của nền kinh tế.Nó được hình thành và ra đời sớm nhất cùng
với sự hình thành và ra đời của sản xuất hàng hoá. Ở Việt Nam,thị trường hàng
hoá-dịch vụ được phát triển nhanh từ khi thực hiện chủ trương đổi mới do Đảng
khởi xướng và lãnh đạo,nó đã góp phần làm sống động nền kinh tế đáp ứng nhu
vầu ngày càng cao và đa dạng của sản xuất và đời sống nhân dân.
Cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế,thị trường hàng hoá,dịch vụ trong
nước những năm qua đã có nhưng chuyển biến theo hướng tích cực.Thương mại
hàng hoá ,dịch vụ trong nước liên tục tăng với tốc độ cao,từ đó đáp ứng nhu cầu
ngày càng phong phú, đa dạng của sản xuất, đời sống,góp phần quan trọng vào
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội.Có thể khái quát tình hình thị
trường hàng hoá,dich vụ trong nước như sau:
Hiện nay,thị trường hàng hoá,dịch vụ được mở rộng và có tốc độ tăng
trưởng cao ở cả ba vùng thành thị ,nông thôn và miền núi.Như trong năm
2004,tổng mức bán lẻ hàng hoá,dịch vụ cả nước đạt 372.477 tỷ đồng,tăng 18,5%
so với năm 2003,nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tổng mức bán lẻ hàng hoá,dịch
vụ vẫn tăng khoảng 10%….Các mặt hàng quan trọng ,thiết yếu phục vụ sản xuất
và đời sống được đáp ứng đủ,giá cả được kiểm soát.Thị trường nội địa đã vượt
qua thời điểm”căng thăng” của quan hệ cung cầu và ảnh hưởng do giá cả của thị
trường thế giới,thiên tai dịch bệnh trong nước,góp phần tăng trưởng kinh tế và
đảm bảo đời sống xã hội.Các thành phần kinh tế tham gia vào thị trường ngày
càng đa dạng và phong phú.Tham gia kinh doanh trên thị trường trong
nước,không chỉ có nhưng doanh nghiệp thương mại Việt Nam thuộc các thành
phần kinh tế mà còn xuất hiện các nhà phân phối nước ngoài . Điều đó phần
khẳng định các doanh nghiệp thương mại trong nước đã dần thích nghi với cạnh
tranh và cố gắng vươn nên trong công cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên gay
gắt.
Cơ sở hạ tầng vật chất phục vụ thương mại trên thị trường trong nước được
đầu tư đổi mới. Tính đên hết năm 2004 cả nước có 8.751 chợ,trong đó có 154
chợ đầu mối bán buôn nông sản,160 siêu thị và 32 trung tâm thương mại.Phần
lớn các siêu thị ,trung tâm thương mại lớn ở Hà Nội và thành phố Hồ chí Minh
đã đáp ứng được các điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định và hoạt động có hiệu
quả.Hệ thống kho tang bến bãi được quy hoạch lại .Nhiều doanh nghiệp đã ý
thức được tầm quan trọng của thị trường trong nước,từng bước xây dựng,tổ chức
mạng lưới kinh doanh,thiết lập mạng lưới đại lý mua bán hàng hoá,tổ chức hoạt
động quảng bá thương hiệu,giới thiệu sản phẩm,xúc tiến bán hàng.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Phương thức đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường trong nước ngày
càng đa dạng.Bên cạnh hệ thống siêu thị,cửa hàng tự chọn,trung tâm thương
mại…đã phát triển các chợ đầu mối nông sản,tạo thuận lợi cho nông dân tiêu thụ
hàng hoá, đảm bảo nguồn hàng cho các nhà xuất khẩu,cho hệ thống bán lẻ,các
hộ tiêu dùng lớn và phát luồng cho các địa phương.Năm 2004,doanh thu của các
siêu thị chiếm 10% tổng mức bán lẻ hàng hoá,dịch vụ của cả nước,tăng 20% so
với năm 2003. Điều này cho thấy trình độ tiêu dùng của xã hội ngày càng pháy
triển theo hướng căn minh hiên đại hơn.
Tuy vậy,thị trường hàng hoá và dịch vụ của nước ta vẫn còn nhiều hạn chế:
Một là,tuy đã có sự liên kết giữa các nhà phân phối,giữa nhà phân phối với
sản xuất trên thị trường trong nước,nhưng sự liên kết này còn lỏng lẻo,rời
rạc.Chưa thiết lập được một hệ thống phân phối ổn định và vững chắc, đảm bảo
sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất với thương mại và người tiêu dùng.Vai trò tổ
chức và định hướng phát triển thị trường của doanh nghiệp thương mại nhà nước
chưa rõ nét,chưa tạo được chỗ dựa để từ đó phát triển thị trường nội địa,góp
phần tăng trưởng kinh tế thúc đẩy xuất khẩu,chủ động hội nhập và mở cửa nền
kinh tế.Việc tổ trức lưu thông một số mặt hàng quan trọng như :phân bón,sắt
thép,dược phẩm…chưa tốt,tính tự phát trên thị trường còn lớn,hệ thống phân
phối còn nhiều tầng nấc,tăng chi phí lưu thông,gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Hai là,mặc dù quy mô thị trường lớn nhưng các hình thức thương mại
truyền thông nhỏ lẻ,tự phát vẫn là chủ yếu .Các hình thức kinh doanh hiện đại đã
xuất hiện xong chiếm tỷ trọng nhỏ.Cơ sở hạ tầng vật chất cho thương mại của
nước ta còn yếu kém,phân tán chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển thương mại
theo hướng văn minh,hiện đại.
Ba là,công tác quản lý thị trường còn yếu kém.Tình trạng buôn lậu,gian lận
thương mai,hàng giả,hàng nhái,hàng kém chất lượng lưu thông trên thị trường
còn phổ biến gây ảnh hưởng xấu đến tình hình cạnh tranh trên thị trường và làm
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nản lòng các doanh nhân chân chính.Thị trường nông thôn,miền núi,vùng
sâu,vùng xa chậm phát triển và không đáp ứng được yêu cầu của nhân dân.Như
vậy, thị trường hàng hoá,dịch vụ trong nước tuy đã có chuyển biến mạnh
mẽ,xong vẫn chứa đựng nhiều yếu tố tự phát và bất ổn.
2.1.2.Thị trường tại chính.
Thị trường tài chính là loại thị trường chủ yếu để mua bán trao đổi,cung cấp
và thoả mãn những nhu cầu về vốn hoặc tài chính của các chủ thể trong nền kinh
tế.Thị trường tài chính có rất nhiều loại hình khác nhau như thị trường vốn,thị
trường tiền tệ,thị trường chứng khoán(cổ phiếu và trái phiếu)….
Có thể nói sau hơn 10 năm cải cách,thị trường tài chính nước ta đã hình
thành tương đối đầy đủ,các thị trường cấu thành cơ bản mặc dù còn ở mức phát
triển khác nhau.Theo báo cáo của ngân hàng nhà nước Việt Nam,tính đến tháng
8 năm 2005,hệ thống các tổ chức tín dụng đã được xây dựng không chỉ trên các
thành phố lớn,mà còn được xây dựng ở các địa phương,các vùng nông thôn.Hệ
thống tổ chức tín dụng gồm 5 ngân hàng thương mại nhà nước,ngân hàng chính
sách xã hội,37 ngân hàng thương mại cổ phần,5 ngân hàng liên doanh,28 chi
nhánh ngân hàng nước ngoài,40 văn phòng đại diện các ngân hàng nước
ngoài,14 công ty tài chính và cho thuê tài chính….Sự xuất hiện của các tổ chức
tín dụng này đã làm giảm được mất mát trong việc lưu thông,cất giữ tiền tệ. Đặc
biệt là các ngân hàng chính sách khuyến khích các hộ nghèo,vay vốn đầu tư xây
dựng trang trai, đồn điền góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn.Một
trong những thành tựu mà thị trường tài chính đạt được,không thể không nhắc
tới đó là thị trường chứng khoán đã hình thành và có những bước phát triển nhất
định.Số lượng các nhà đầu tư tham gia vào thị trường liên tục tăng qua các
năm,nếu như vào cuối năm 2000 mới có hơn 3000 nghìn tài khoản giao dịch thì
đến nay đã có hơn 24.300 tài khoản ,trong đó có 246 nhà đầu tư có tổ chức và
251 nhà đầu tư nước ngoài.Cũng tính từ năm 2000,toàn thị trường có 4 công ty
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chứng khoán thành viên,1 tổ chức lưu ký chứng khoán nước ngoài,thì đên nay
thị trường đã có một hệ thống lưu ký chứng khoán hoạt động ổn định với 13
công ty chứng khoán thành viên 2 tổ chức lưu ký trong nước và 3 tổ chức lưu ký
chứng khoán nước ngoài.Thực hiên chủ trương của chính phủ,việc thúc đẩy cổ
phần hoá các doanh nghiệp nhà nước được tiến hành thông qua việc đấu giá
công khai trên sàn giao dịch,tuy mới bắt đầu thực hiện từ đầu năm 2005 nhưng
cũng đã góp phần huy động được một khối lượng vốn nhất định cho ngân sách
nhà nước.Việc đấu thầu,huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu(trái
phiếu chính phủ,trái phiếu công ty,trái phiếu công trình,…)cũng được tiến hành
thường xuyên hơn với 125 đợt đấu thầu,và huy động hơn 7.000 tỷ đồng trái
phiếu chính phủ,trái phiếu đô thị,trái phiéu quỹ hỗ trợ phát triển.Các mô hình
đầu tư mới như quỹ đầu tư chứng khoán,hợp đồng mua lại trái phiếu,cổ phiếu có
kỳ hạn cũng đã bắt đầu xuất hiện trên thị trường, đã làm phong phú hơn cho
hàng hoá giao dịch trên thị trường.
Nhìn chung,hệ thống thị trường tài chính nước ta vẫn còn nhiều bất cập.
Đặc biệt tình trạng độc quyền trong kinh doanh của các ngân hàng vẫn khá phổ
biến; quyết định cho vay vẫn còn chịu ảnh hưởng lớn của các quyết định hnàh
chính nhà nước;chưa mở rộng và thay đổi phương thức kinh doanh;năng lực
thẩm định dự án thấp;trình độ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu,chưa chủ động mở
rộng thị trường,tìm kiếm khách hàng và dự án để cấp vốn,tỷ lệ nợ quá hạn và
khó đòi cao,khả năng giám sát của Ngân hàng nhà nước đối với toàn hệ thống
còn yếu kém….Hệ thống ngân hàng ,với những yếu kém cố hữu này đã phần
nào gây nên thất thoát,lãng phí không nhỏ về tài sản của Nhà nước và nhân
dân.Ngoài ra,số lượng người đầu tư chứng khoán cũng còn hạn chế,chủ yếu là
các nhà đầu tư cá nhân, ít vốn và chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố tâm lý,và các
nhà đầu tư có tổ chức,nhà đầu tư nước ngoài còn quá ít.Nếu tính bình quân hiện
nay trên thị trường chỉ có khoảng 5% số tài khoản được giao dịch thường
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
xuyên.Hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến thị trường có tính pháp lý chưa
cao,thiếu đồng bộ như chính sách ưu đãi về thuế trong công ty niêm yết,các vấn
đề liên quan đến việc niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài,các chính sách ngoại hối đối với các nhà nước đầu tư nước
ngoài….Quá trình tiến hành cổ phần hoá nhằm thúc đẩy quá trình tạo hàng cho
thị trường còn rất mơ hồ.Chính vì vậy hoạt động huy động vốn của các doanh
nghiệp thông qua thị trường chứng khoán vẫn chưa phát huy được hiệu quả và
chưa trở thành động lực để thúc đẩy các doanh nghiệp nên niêm yết.Công tác
tuyên truyền và phổ cập kiến thức về thị trường chứng khoán vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu phát triển của thị trường.Do vậy,nguồn lực tham gia vào thị trường
còn rất hạn chế.Chất lượng hoạt động và cung cấp dịch vụ trên thị trường chứng
khoán cũng chưa cao,tính minh bạch và hiệu quả còn hạn chế,thể hiện ở chất
lượng công tác công bố thông tin,chất lượng hoạt động của trung tâm giao dịch
chứng khoán cũng như các thành viên thị trường.Các biểu hiện vi phạm trên thị
trường ở một số công ty chứng khoán cũng như công ty niêm yết đã ảnh hưởng
đến lòng tin của công chúng đầu tư.Như vậy cần có những giải pháp để khuýên
khích công chúng tham gia nhiều vào thị trường tài chính.
2.1.3. Thị trường lao động.
Thị trường lao động về mặt lý luận được hiểu là không gian trao đổi hàng
hoá sức lao động.Bất kỳ ở đâu có giao dịch mua và bán loại hàng hoá” đắc biệt”
này thì ở đó có thị trường lao động.Như vậy,thị trường lao động là một loại thị
trường đặc biệt với tính chất, đặc điểm và các hình thức biểu hiện riêng vì nó
liên quan đến con người với tư cách,một mặt là một thực thể kinh tế trong vai
trò vừa là người sản xuất vừa là người tiêu dùng những hàng hoá ,dịch vụ do
mình sản xuất ra,mặt khác,là thực thể xã hội trong vai trò một công dân có
quyền lợi và nghĩa vụ và trước xã hội và cộng đồng.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Với nhiều cải cách lớn về thể chế và chính sách kinh tế-xã hội nói
chung,trong đó co thể chế và chính sách về lĩnh vực lao động-việc làm;Trong
giai đoạn này thị trường lao động(trong nước cũng như ngoài nước) đã có nhưng
bước chuyển đáng kể trên nhiều mặt:Tính đến 1/7/2005,cả nước có 11.106.583
người từ đủ 15 tuổi trở nên đang làm công ăn lương trong các ngành kinh tế
quốc dân thuộc các loại hình kinh tế,chiếm 25,56% trong tổng số lao động có
việc làm.Nói chung,tỷ lệ lao động làm công ăn lương chiếm trong tổng số lao
động có việc làm cũng đã tăng đáng kể so với nhưng năm trước.Cũng với việc
tăng tỷ lẹ lao động,thì thu nhập của người lao động tham gia thị trường này ngày
càng được cải thiện và tương quan giữa thu nhập với chất lượng lao động ngày
càng chặt chẽ theo hướng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao-thì thu
nhập từ việc làm cũng cao.Theo kết quả điều tra lao động-việc làm 1/7/2005,thu
nhập bình quân tháng của một lao động làm công ăn lương nói chung của cả
nước là 973 nghìn VNĐ,tu nhập bình quân tháng của một lao động làm công, ăn
lương tốt nghiệp cao đẳng, đại học gấp hai lần lao động chưa qua đào tạo; trong
số lao động đã đào tạo ,lao động có trình độ càng cao thì tiền lương tiền công
cũng càng cao,mức chênh lệnh giữa nhóm cao nhất và thấp nhất khoảng 1,5
lần.Tuy nhiên,thu nhập của lao dộng làm công ăn lương vẫn mang nặng tính
bình quân hoá, đặc biệt là khu vực kinh tế nhà nước.Tiền lương,tiền công vẫn
chưa thực sự đóng vai trò là công cụ tích cực trong điều chỉnh cung cầu trên thị
trường lao động.
Bên cạnh sự tăng cung cầu thị trường lao động trong nước,cầu thị trường
lao động ngoài nước,cũng ngày càng ra tăng.Năm 2005,tình trạng lao động Việt
Nam bỏ trốn,hoặc bỏ việc làm theo hợp đồng thành lao động bất hợp pháp giảm
đáng kể,quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong khu vực đã được cải
thiện,khả năng mở rộng thị trường sang Trung Đông có nhiều triển vọng.Chỉ
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
trong năm năm(2001-2005) cả nước xuất khẩu được trên 295 nghìn lao động,thị
trường xuất khẩu lao động từng bước được mở rộng và phát triển.
Tuy nhiên, với những thành tựu đạt được thì thị trường lao động vẫn còn
nhiều bất cập.Nguyên nhân chủ yếu là:
Thứ nhất, đòi hỏi về việc làm vẫn đang là vấn đề bức xuc của xã hội do tỷ
lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn còn cao.Cơ cấu và chất
lượng lao động chuyển dịch còn chậm,năng suất lao động thấp.
Thứ hai, lực lượng lao động đã qua đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của
thị trường lao động(cả trong nước và ngoài nước),khả năng cạnh tranh yếu, đặc
biệt là thị trường lao động chất lượng cao.
Thứ ba, thị trường lao động mới ở trong giai đoạn hình thành,lại chịu áp lực
lớn về tăng dân số,tăng cung lao động và tình trạng đói nghèo.Trong khi đó việc
điều tiết có hiệu quả đối với loại thị trường này lại đối mặt với những hạn chế
lớn do thiếu căn cứ lý luận và những kinh nghiệm thực tiễn cần thiết.
Thứ tư,hệ thống giao dịch trên thị trường lao dộng còn nhiều bất cập cả về
mặt tổ chức,quản lý cũng như nội dung,hình thức hoạt động và hiệu quả kinh tế-
xã hội.
Thứ năm,hệ thống thông tin thị trường lao động còn nhiều yếu kém,cả về tổ
chức hệ thống ,năng lực hoạt động cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu của các
đối tượng dùng tin.
Thứ sáu, hệ thống các chính sách về thị trường lao động,mặc dù đã được
đổi mới nhiều nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển (cả trong nước
và nước ngoài) trong tình hình mới.Còn thiếu những chính sách cần thiết để phát
triển và thu hút đội ngũ lao động có hàm lượng chất xám cao,nâng cao sức cạnh
tranh của thị trường lao động.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét