quả hơn cả bởi vì nó thoả mãn nhu cầu về vốn về số lượng và thời gian đồng
thời chi phí sử dụng vốn tín dụng ngân hàng thấp hơn các chi phí vay khác.
Hơn nữa, để có thể vay vốn của ngân hàng thì các doanh nghiệp cần phải
nâng cao uy tín của mình, đảm bảo các nguyên tắc cho vay. Do vậy, doanh
nghiệp phải tìm hiểu, khai thác thông tin trên thị trường để định hướng hoạt
động kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả từ đó thúc đẩy phát triển kinh
tế.
Hai là, tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục của
nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế và góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trong nền kinh tế, thường xuyên có một số doanh nghiệp trong quá trình
sản xuất kinh doanh có một bộ phận tiền tệ nhàn rỗi được tách ra khỏi quá
trình tái sản xuất như: tiền khấu hao tài sản cố định chưa sử dụng, tiền mua
nguyên vật liệu nhưng chưa mua… Các khoản tiền này luôn được các doanh
nghiệp tìm cách đầu tư kiếm lời, ngoài ra còn có các khoản tiền để dành của
dân cư. Tất cả tạo thành nguồn vốn tiềm tàng trong nền kinh tế. Trong khi đó,
có một số doanh nghiệp, cá nhân thiếu vốn để phục vụ cho nhu cầu kinh
doanh của mình. Như vậy, ta thấy trong xã hội luôn có người thừa vốn và
thiếu vốn. Song khó khăn về mặt không gian lẫn thời gian khiến những người
này khó có thể gặp nhau. Vì vậy, tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa người
thừa vốn và người thiếu vốn để giải quyết thoả đáng mối quan hệ này. Tức là
ngân hàng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi của nền kinh tế để đầu tư cho
quá trình mở rộng sản xuất, đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế.
Ba là, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan
hệ giao lưu kinh tế quốc tế.
Ngày nay, xu hướng quốc tế hoá và hội nhập hoá ngày càng được mở
rộng nên một nền kinh tế muốn phát triển thì phải tăng cường giao lưu với các
nước. Trong nền kinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ mua
5
bán trong nước mà còn có những quan hệ xuất nhập khẩu với các doanh
nghiệp nước ngoài. Ngân hàng có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua
hình thức bảo lãnh hoặc cấp tín dụng cho các doanh nghiệp để từ đó nâng cao
uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế.
Bốn là, tín dụng ngân hàng kích thích các doanh nghiệp tăng cường chế
độ hạch toán kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Trong hoạt động tín dụng, yêu cầu đặt ra đối với các tổ chức tín dụng là
thu hồi được vốn và có lãi. Các đơn vị kinh tế khi sử dụng nguồn vốn này đã
bị tạo một áp lực chi phí đối với các hoạt động của mình. Các chi phí này
buộc các doanh nghiệp phải xem xét lại chế độ hạch toán kinh tế của mình,
giảm thiểu các chi phí hoạt động, cắt giảm các chi phí không cần thiết như
vậy mới nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Năm là, tín dụng ngân hàng là công cụ có hiệu quả trong việc điều tiết
khối lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế.
Dựa vào quan hệ tín dụng, NHNN đã quản lý được khối lượng cho vay
hợp lý tại các tổ chức tín dụng. Trong mối quan hệ đó thì NHNN đóng vai trò
là người cho vay cuối cùng, việc mở rộng hay thu hẹp cửa sổ chiết khấu của
NHNN sẽ ảnh hưởng tới quy mô nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, qua đó
sẽ ảnh hưởng tới khối lượng cho vay của các tổ chức tín dụng này. Sự mở
rộng tín dụng dẫn tới tình trạng giảm bớt lượng tiền mặt trong lưu thông. Như
vậy, NHNN thông qua việc cho vay chiết khấu đã tác động tới khối lượng cho
vay của các tổ chức tín dụng, từ đó có thể quản lý được lượng tiền mặt trong
lưu thông nhằm đạt được các mục tiêu mong muốn.
S áu là , tín dụng ngân hàng còn là động lực đối với việc hình thành và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
6
Điều quan trọng nhất để có thể thực hiện thành công công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước là vốn. Có vốn thì mới có thể phát triển cơ sở hạ tầng,
cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao trình độ khoa học công nghệ… Nguồn vốn
dùng để tài trợ có thể là nguồn vốn trong nước và vốn vay từ nước ngoài.
Song phát triển kinh tế dựa vào nội lực vẫn là mục tiêu cơ bản và ngân hàng
chính là trung gian huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế để cho vay.
1.1.3.2. Đối với ngân hàng
Thứ nhất, tín dụng là hoạt động chủ yếu mang lại thu nhập cho ngân
hàng. Thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập
của ngân hàng. Qua đó ta có thể thấy tầm quan trọng của hoạt động tín dụng,
nó mang tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Bên
cạnh đó, tín dụng ngân hàng cũng chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn. Do vậy, các
ngân hàng thương mại thường coi trọng vấn đề quản trị rủi ro tín dụng là vấn
đề trọng tâm trong công tác quản trị.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng giúp ngân hàng đa dạng hoá hoạt động kinh
doanh, đối tượng và phạm vi đầu tư, từ đó giảm thiểu rủi ro trong hoạt động
kinh doanh ngân hàng.
1.1.3.3. Đối với khách hàng
Tín dụng ngân hàng góp phần thoả mãn nhu cầu vốn và sử dụng vốn của
khách hàng: thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng đã cung cấp vốn cho
khách hàng thiếu vốn giúp họ thoả mãn tốt nhất các nhu cầu tiêu dùng trong
cuộc sống (đối với khách hàng cá nhân), đồng thời tận dụng được mọi cơ hội
đầu tư (đối với khách hàng doanh nghiệp).
1.1.4. Các hình thức tín dụng ngân hàng
Có nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng, song thực tế các nhà kinh tế
học thường phân loại tín dụng theo các tiêu thức sau đây:
7
1.1.4.1. Thời hạn tín dụng
Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng thành 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng và được
sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh
nghiệp và phục vụ các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60
tháng và chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi
mới trang thiết bị kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình nhỏ, có
thời hạn thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, tín dụng
trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh
nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng trở lên, sử
dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới,
các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng, sân bay…), cải tiến
và mở rộng sản xuất kinh doanh với quy mô lớn. Tín dụng dài hạn bao gồm
nhiều giai đoạn cam kết giải ngân. Việc giải ngân tuỳ thuộc vào nhu cầu sử
dụng vốn của khách hàng, tiền vay có thể được giải ngân một lần hoặc có thể
được giải ngân trong suốt thời hạn cam kết. Loại tín dụng này có mức độ rủi
ro rất lớn vì trong thời hạn dài, những biến động xảy ra ngân hàng không thể
lường trước được.
1.1.4.2. Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
- Tín dụng có bảo đảm: Là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc người
bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay. Hình thức này áp dụng đối
với các khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi
hỏi phải có người bảo lãnh hoặc tài sản bảo đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ
pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu thứ hai bổ sung cho nguồn thu
8
thứ nhất thiếu chắc chắn, nó có tác dụng giảm bớt rủi ro và tạo tâm lý yên tâm
cho ngân hàng.
- Tín dụng không có bảo đảm: Là hình thức tín dụng không có tài sản
hoặc người bảo lãnh đứng ra đảm bảo cho khoản nợ vay.
1.1.4.3. Mục đích sử dụng vốn
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: Là loại tín dụng cấp cho các
nhà doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông
hàng hoá.
- Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân
như: du lịch, mua sắm…
1.1.4.4. Xuất xứ tín dụng
- Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng cấp vốn
trực tiếp cho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời người đi vay trực tiếp
hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Tín dụng gián tiếp: Là hình thức tín dụng được thực hiện thông qua
việc mua lại các chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
1.1.4.5. Phương pháp hoàn trả
Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng làm 3 loại:
- Tín dụng trả góp: Là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc
và lãi theo định kỳ. Loại tín dụng này áp dụng đối với các khoản vay có giá trị
lớn và thời hạn dài.
- Tín dụng phi trả góp: Là loại tín dụng mà người vay có thể thanh toán
một lần theo định kỳ đã thoả thuận. Loại tín dụng này áp dụng với các khoản
vay có giá trị nhỏ và thời hạn ngắn.
9
- Tín dụng hoàn trả yêu cầu: Là loại tín dụng mà người vay có thể hoàn
trả bất cứ khi có thu nhập, ngân hàng không ấn định thời hạn, hình thức này
thường áp dụng để cho vay thấu chi, cho vay thẻ tín dụng.
1.1.4.6. Theo hình thái giá trị của tín dụng
- Tín dụng bằng tiền: là hình thức tín dụng mà hình thái giá trị của tín
dụng là bằng tiền (còn gọi là cho vay).
- Tín dụng bằng tài sản: là hình thức tín dụng mà hình thái giá trị của tín
dụng là bằng tài sản. Hình thức tín dụng này chính là Cho thuê tài chính.
- Tín dụng bằng uy tín: là hình thức tín dụng mà hình thái giá trị của tín
dụng là bằng uy tín. Hình thức tín dụng này chính là Bảo lãnh ngân hàng.
1.2. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NHTM
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng
Hoạt động tín dụng ngân hàng là hoạt động phản ánh quan hệ vay mượn
có hoàn trả trên cơ sở lòng tin giữa một bên là ngân hàng với một bên là
khách hàng – các chủ thể kinh doanh khác nhằm mục tiêu là lợi nhuận và phát
triển kinh tế xã hội.
Do đó, chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của khách
hàng (người vay tiền), phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự
tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng được thể hiện trên nhiều khía cạnh:
- Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng thể hiện ở chỗ khoản tín dụng
được cấp phải phù hợp với mục đích sử dụng vốn của khách hàng, với lãi suất
và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản thuận tiện, thu hút được nhiều khách hàng
nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc tín dụng. Đáp ứng được nhu cầu vốn của
khách hàng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh
doanh có hiệu quả.
10
- Đối với ngân hàng: Chất lượng tín dụng được hiểu ở phạm vi, mức độ,
giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm
bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và
có lãi, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động, mang lại
lợi nhuận và đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng.
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Chất lượng tín dụng là sự phục vụ
đáp ứng nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn
việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích
tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và tăng trưởng tín dụng.
Như vậy, chất lượng tín dụng ngân hàng là một khái niệm vừa cụ thể
(thể hiện qua các chỉ tiêu có thể tính toán được như: nợ quá hạn, hiệu quả sử
dụng vốn vay…), vừa mang tính trừu tượng (thể hiện: thu hút được khách
hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện…). Do đó, hiểu đúng được bản chất của
chất lượng tín dụng ngân hàng sẽ giúp ngân hàng nâng cao được chất lượng
tín dụng, thực hiện thắng lợi chiến lược kinh doanh và đúng vững trong nền
kinh tế thị trường.
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chính của ngân hàng
thương mại. Phần lớn lợi nhuận của ngân hàng cũng được tạo ra từ chính
nghiệp vụ này. Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng yếu tố rủi ro luôn thường
trực, nhất là rủi ro tín dụng chiếm tỷ lệ khá cao, do đó việc kiểm soát cũng
như các biện pháp chống đỡ, hạn chế rủi ro tín dụng được chú ý đặc biệt. Mặt
khác, trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng luôn là một tổ chức kinh tế hạch
toán độc lập và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Vì vậy,
để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình, các ngân hàng thương mại
không ngừng phải nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng. Trong xã hội, sản
xuất của cải vật chất là cơ sở tồn tại của xã hội loài người, nhu cầu tín dụng
11
được đáp ứng tạo ra sự luân chuyển sản phẩm ngày càng tăng, sản phẩm sản
xuất ngày một nhiều, tạo ra sự phát triển đi lên của nền kinh tế. Vì vậy, hoạt
động sản xuất kinh doanh của ngân hàng cũng gắn liền với hoạt động sản xuất
kinh doanh của các tổ chức kinh tế và các cá nhân. Do đó, việc nâng cao chất
lượng tín dụng là đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế, khách hàng và cũng là nhu
cầu thiết thực của chính các ngân hàng thương mại. Đảm bảo chất lượng tín
dụng sẽ đem lại lợi ích cho cả ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.
1.2.2.1. Đối với nền kinh tế
Chất lượng tín dụng được quan tâm bởi lẽ:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng tín dụng góp phần thúc đẩy lực lượng sản
xuất xã hội phát triển. Khi lực lượng sản xuất phát triển sẽ thúc đẩy sản xuất
lưu thông hàng hoá ngày càng gia tăng nhằm đáp ứng nhu cầu giao dịch cũng
ngày càng tăng của xã hội.
Thứ hai, đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để ngân hàng thực
hiện tốt vai trò trung gian thanh toán. Khi chất lượng tín dụng được đảm bảo
sẽ tăng cường vòng quay vốn tín dụng, với số lượng tiền như cũ có thể thực
hiện số lần giao dịch lớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông và
củng cố sức mua của đồng tiền.
Thứ ba, nâng cao chất lượng tín dụng tạo điều kiện cho ngân hàng làm
tốt chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng là cầu
nối giữa tiết kiệm và đầu tư, góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế, phân
bổ điều hoà vốn cho đầu tư được hợp lý, giúp cho xã hội bớt lãng phí ở những
nơi thừa vốn, giảm khó khăn ở những nơi thiếu vốn, giải quyết tốt quan hệ
cung và cầu, điều hoà và ổn định lưu thông tiền tệ.
Thứ tư, tín dụng là công cụ để thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà
nước về phát triển kinh tế xã hội theo ngành, theo lĩnh vực, theo địa phương.
Do vậy, nâng cao chất lượng tín dụng sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất
12
xã hội, giúp đầu tư đúng hướng để khai thác khả năng tiềm tàng về tài nguyên
lao động, đảm bảo cho sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế, tăng cân đối giữa các
ngành nghề trong khu vực.
Thứ năm, chất lượng tín dụng góp phần thực hiện tốt chính sách tiền tệ
quốc. Điều này là do hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại có
quan hệ chặt chẽ với khối lượng tiền trong lưu thông, thông qua cho vay
chuyển khoản thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, các ngân hàng
thương mại có khả năng mở rộng tiền ghi sổ gấp nhiều lần với thực tế có. Đó
là nhờ khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng, khối lượng tiền được mở
rộng và đưa vào lưu thông có quyền thanh toán và chi trả như các phương tiện
khác và có thể chuyển thành tiền mặt. Chính bởi lẽ đó, tín dụng là nơi tiềm ẩn
lạm phát. Đảm bảo chất lượng tín dụng tạo điều kiện cho ngân hàng thương
mại cung cấp phương tiện thanh toán phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế tạo
khả năng giảm bớt lượng tiền thừa, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền
tệ và tăng uy tín quốc gia.
1.2.2.2. Đối với ngân hàng thương mại
Chất lượng tín dụng là yếu tố hàng đầu quyết định sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng vì:
Một là, nâng cao chất lượng tín dụng làm tăng khả năng sinh lời từ sản
phẩm dịch vụ của ngân hàng. Khi ngân hàng và khách hàng có mối quan hệ
tốt, thường xuyên, đáng tín cậy trong hoạt động tín dụng sẽ thu hút khách
hàng đến với ngân hàng để thực hiện các dịch vụ khi họ có nhu cầu, ngân
hàng giảm được thời gian, chi phí quản lý … tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Hai là, nâng cao chất lượng tín dụng tạo uy tín cho bản thân ngân hàng.
Hoạt động tín dụng phải hiệu quả thì việc mở rộng tín dụng mới bền vững,
đối tượng khách hàng cung cấp ngày một nhiều, sản phẩm tín dụng ngày càng
phong phú sẽ làm tăng quy mô, khả năng tài chính của ngân hàng như tăng
vốn và tài sản của ngân hàng, tăng khả năng chi trả, thanh toán, tăng hiệu quả
13
sử dụng trang thiết bị công nghệ hiện đại… Từ đó, khẳng định được vị thế
của ngân hàng trên thị trường.
Ba là, nâng cao chất lượng tín dụng sẽ đảm bảo an toàn trong kinh
doanh. Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro. Chính vì vậy,
trong kinh doanh nói chung và kinh doanh ngân hàng nói riêng, mục tiêu lợi
nhuận và mục tiêu an toàn, giảm thiểu rủi ro luôn đi kèm với nhau. Đối với
hoạt động tín dụng, đó là rủi ro mất vốn khi ngân hàng cho vay không thu hồi
được vốn hoặc rủi ro khi khách hàng không trả được nợ đúng hạn. Khi những
rủi ro này xảy ra sẽ làm giảm khả năng sinh lời, đe dọa đến khả năng thanh
toán… thậm chí có thể gây ra nguy hiểm cho ngân hàng. Do đó, việc nâng cao
chất lượng tín dụng sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn trong hoạt
động kinh doanh ngân hàng.
1.2.2.3. Đối với khách hàng
Nâng cao chất lượng tín dụng góp phần tăng chất lượng sản xuất kinh
doanh. Chất lượng tín dụng được đảm bảo có nghĩa là ngân hàng đang trên đà
phát triển tốt, nhờ vậy mà có điều kiện cung cấp tín dụng kịp thời, đáp ứng
yêu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh của khách hàng. Mặt khác, để đảm bảo
chất lượng tín dụng thì ngân hàng cần tiến hành kiểm tra, kiểm soát việc sử
dụng vốn tín dụng của khách hàng qua đó cùng với khách hàng chấn chỉnh
kịp thời những thiếu sót trong hoạt động kinh doanh.
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng thương
mại
Có rất nhiều tiêu thức đánh giá chất lượng tín dụng nhưng để thuận tiện
cho việc nghiên cứu cũng như đánh giá một cách toàn diện về tình hình hoạt
động của ngân hàng, người ta thường xét trong mối quan hệ giữa hai mặt định
tính và định lượng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét