TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 - 2007
Trang 15
DẤU ẤN VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN ASEAN NHỮNG
ĐÓNG GÓP VÀ NHỮNG BÀI HỌC CHO HỘI NHẬP
Trần Thị Thu Lương
ĐHQG-HCM
TÓM TẮT: Bài báo phân tích những ảnh hưởng khách quan của cuộc kháng chiến ở
Việt Nam đối với sự hình thành tổ chức ASEAN và nêu lên một cách nhìn khác về sự đóng góp
của Việt Nam vào sự thành lập và phát triển của ASEAN. Từ đó rút ra một số kinh nghiệm cho
sự hội nhập hôm nay của Việt Nam vào ASEAN.
Trong 10 năm qua, một Việt Nam hội
nhập mạnh mẽ vào ASEAN, một Việt Nam
có nhiều
đóng góp quan trọng tạo nên sự
trỗi dậy của một ASEAN mới trong bối
cảnh thế giới phức tạp đầy biến động đã
được thừa nhận và khẳng định. Tuy nhiên
trước khi đạt được những thành tựu ấy,
Việt Nam đã phải đi qua nhiều thập kỷ
thăng trầm, sóng gió trong quan hệ với
ASEAN. Trong suốt những thập kỷ ấy,
mặc dù ch
ưa phải là một thành viên của
hiệp hội, nhưng Việt Nam vẫn có những
tác động mạnh mẽ tới lịch sử phát triển của
ASEAN.
Sẽ không thể hiểu được một cách sâu
sắc Việt Nam trong ASEAN hôm nay và
tương lai nếu không hiểu rõ Việt Nam với
ASEAN hôm qua. Trên quan điểm đó,
chúng tôi cho rằng việc phân tích những
dấu ấn của Việt Nam trong tiến trình phát
triển ASEAN không chỉ là việc ôn lại lị
ch
sử mà còn để soi sáng nhận thức và rút ra
những bài học quý cho tiến trình hội nhập
của chúng ta trong hiện tại và tương lai.
1- Trước đại chiến thế giới lần thứ II,
sự xâm lược và thống trị thuộc địa của chủ
nghĩa thực dân cũ đã nhấn chìm các quốc
gia Đông Nam Á vào họa mất nước nô lệ
và do vậy, ngọn cờ khởi nghĩa chống thực
dân bùng cháy khắp Đông Nam Á từ lục
địa đến hải đảo. Khát vọng được tự do độc
lập, thoát khỏi ách thống trị thực dân là
khát vọng cháy bỏng chung của các dân
tộc ở Đông Nam Á. Xét trên bình diện khu
vực cho đến khi Đại chiến thế giới lần thứ
II kết thúc, nét lớn nhất của Đông Nam Á
là phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
được triển khai nhanh nhất, mạnh nhất so
với các khu vự
c khác trên thế giới.
Từ những ngày đầu ấy, những người
Cộng sản Việt Nam là lực lượng đầu tiên
coi Cămpuchia, Lào và các dân tộc thiểu
số khác sinh sống trên bán đảo Đông
dương là lực lượng đồng minh của mình.
Science & Technology Development, Vol 10, No.09 - 2007
Trang 16
Sau đó với Cách mạng tháng 8-1945
và sự ra đời của một nhà nước Dân chủ
cộng hoà, Việt Nam đã trở thành ngọn cờ
đầu của phong trào giải phóng dân tộc ở
Đông Nam Á. Việt Nam đã tiên phong
trong ý tưởng hợp tác các nước Đông Nam
Á chống lại chủ nghĩa thực dân. Tháng 9-
1947 “Liên minh Đông Nam Á” do chủ
tịch Hồ Chí Minh khởi xướng đã được
thành lập. Đây là một liên minh hợp tác
giữa ng
ười Thái Lan (trong phong trào
Thái Lan tự do), người Lào (đang kháng
chiến chống Pháp) và những người Cộng
sản Việt Nam đang hoạt động trên đất Thái
với tư cách là đại diện của nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà. “Liên minh Đông
Nam Á” đã xây dựng được mạng lưới các
cơ sở hoạt động ở Thái Lan, Đông dương
và Malaixia. Mặc dù liên minh này tồn tại
không lâu, nhưng nó vẫn có một ý nghĩa
quan trọng khi chứng tỏ rằng nguyện vọng
liên kết sức mạnh để chống thực dân là
nguyện vọng có thực, thiết tha tiềm ẩn của
các dân tộc trong khu vực và Việt Nam đã
tỏ rõ được vị trí, vai trò tiên phong của
mình trong xu thế liên kết đó.
2- Bắt đầu vào những năm 50 của thế
kỷ 20 những thay đổi lớn lao trong so sánh
lực lượng trên thế giới đã dẫ
n đến sự hình
thành hai cực của một cuộc đối đầu.
Một bên với vai trò là người đứng đầu
thế giới tư bản, Mỹ đã gấp rút xây dựng
một hệ thống căn cứ quân sự được bố trí
làm 3 phòng tuyến phối hợp, vừa để bao
vây ngăn chặn và tìm cách bóp nghẹt các
nước xã hội chủ nghĩa với phong trào đấu
tranh vì độc lập dân chủ
của các nước, vừa
là phòng tuyến phòng thủ cho Mỹ, cho các
thế lực đồng minh ở Đông Nam Á và Châu
Á Thái Bình dương. Trong lúc đó Liên Xô
cùng hệ thống XHCN không ngừng mở ra
ảnh hưởng và sự giúp đỡ to lớn đối với
cuộc đấu tranh chính nghĩa vì độc lập dân
tộc của nhân dân Châu Á và Đông Nam Á.
Cuộc đối đầu này được gọi là Chiến tranh
lạnh và từ sau Đại chiến thế giới l
ần thứ II
nó đã đè nặng lên các mối quan hệ quốc tế,
đặc biệt là tình hình ở khu vực Đông Nam
Á.
Đông Nam Á được Mỹ coi là đoạn
then chốt của phòng tuyến ngăn chặn cộng
sản từ Nhật Bản xuống phía Nam quanh
bán đảo Ấn Độ. Mỹ cho rằng an ninh của 3
khu vực cơ bản của Châu Á là Nhật Bản,
Ấn Độ và Úc phần lớn tuỳ thuộ
c vào việc
Đông Nam Á khước từ cộng sản bởi nếu
mất Đông Nam Á, 3 khu vực trên sẽ cô lập
với nhau. Mặt khác, nếu mất Đông Nam Á,
Mỹ sẽ hầu như mất sự kiểm soát vùng
duyên hải Thái Bình Dương. Trong kế
hoạch đó chiến trường ở Việt Nam được
coi là con bài Domino chiến lược trong học
thuyết Domino của Mỹ. Bức thông điệp
của chính phủ Hoa K
ỳ gửi cho chính phủ
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 - 2007
Trang 17
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tháng 6 năm
1964 ghi rõ “Hoa Kỳ có lợi ích phải chống
lại một thắng lợi của Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam. Hoa kỳ
quyết tâm không để Đông Nam Á rơi vào
sự kiểm soát của Cộng sản thông qua các
hoạt động lật đổ và Chiến tranh du kích”
(1).
Rõ ràng là âm mưu và hoạt động của
đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á, ở Việt Nam
đã mang tính hệ thống chiến lược toàn cầu.
Như vậy là sau đại chiến II, do những
biến đổi sâu sắc của tương quan lực lượng,
do mưu toan của Mỹ và các thế lực đế
quốc hòng đảo ngược tiến trình phát triển
của phong trào vì hoà bình, chủ nghĩa xã
hội và tiến bộ trên thế giới, do vị trí chiến
lược của mình, Đông Nam Á, đặc biệt là
Việt Nam trở thành “
đấu trường” nóng
bỏng của cuộc chiến tranh lạnh.
Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt
Nam chống lại quân xâm lược Mỹ và thế
lực phản động là cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nước của Việt
Nam, tiếp tục sự nghiệp gìn giữ độc lập
dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Tuy nhiên trong bối cảnh chiến tranh lạnh
đó không th
ể nói Việt Nam cũng như các
quốc gia khác ở Đông Nam Á không bị
xoáy hút nghiệt ngã vào hai cực của sự đối
đầu. Trên thực tế các quốc gia ở Đông
Nam Á bị chia rẽ ở hai đầu chiến tuyến.
Tuy nhiên nguyện vọng liên kết để
phát triển của các quốc gia Đông Nam Á
vẫn âm thầm lan tỏa. Do đó vào cuối thập
niên 50 đến 60 tại Đông Nam Á đã xuất
hiện 3 phương án xây dự
ng tổ chức hợp tác
khu vực. Phương án của Mailaixia và
phương án của Philippin đều dự kiến thành
lập Hiệp hội các nhà nước Đông Nam Á
(Association of Southeast Asian States)
hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, xã hội văn
hoá và hành chính, còn phương án của
Thái Lan trù tính thiết lập sự hợp tác khu
vực trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
giáo dục, nghệ thuật và kỹ thuật. Kết quả
của quá trình vận động đó là sự thành l
ập
các tổ chức Hiệp hội Đông Nam Á (ASA)
1961 và Maphilindo 1963 với mục tiêu liên
kết để cùng phát triển. Sự ra đời và hoạt
động của các tổ chức này cho thấy nhu cầu
liên kết khu vực không còn chỉ là ý tưởng
mà đã trở thành hiện thực. Tuy nhiên sự
tan vỡ nhanh chóng của các tổ chức đó
cũng cho thấy ý thức khu vực chưa đủ
mạnh để tạo nên một liên kết bền vữ
ng.
Hay nói khác đi, quyền lợi riêng rẽ của
từng quốc gia vẫn còn được đặt cao hơn,
lớn hơn nhu cầu liên kết trong một tổ chức
khu vực. Tác nhân tạo nên tình thế khiến
các quốc gia này vượt lên những điểm yếu
đó để thành lập được một tổ chức liên kết
bền vững hơn - hiệp hội ASEAN chính là
những thay đổi của tình hình chính trị
Science & Technology Development, Vol 10, No.09 - 2007
Trang 18
trong khu vực dưới tác động của cuộc
chiến đấu chống quân xâm lược Mỹ của
nhân dân Việt Nam và nhân dân Đông
dương nửa sau thập niên 60.
Bắt đầu từ 1964, các lực lượng quân sự
Mỹ đã được ồ ạt đưa vào miền Nam Việt
Nam. Chiến tranh đặc biệt đã trở thành
chiến tranh cục bộ với sự tham gia trực
tiếp của các lực lượng quân s
ự Mỹ. Cùng
với đó là các hoạt động xâm lược ngày
càng trắng trợn của Mỹ ở miền Nam Việt
Nam.
Hoa Kỳ còn leo thang chiến tranh ra
miền Bắc, tiến hành bắn phá bằng không
quân các cơ sở kinh tế quân sự ở miền Bắc
Việt Nam hòng dùng sức mạnh tàn bạo của
bom đạn bẻ gãy ý chí thống nhất đất nước
của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên dã tâm
đó bị chặn đứng b
ởi cuộc chiến đấu quật
cường mưu trí và dũng cảm của nhân dân
Việt Nam trong những cuộc đọ sức nảy lửa
ở cả 2 chiến trường Nam, Bắc từ 1964 đến
1966.
Kết quả này đã đẩy Mỹ dần vào thế bị
động sa lầy ở chiến trường Việt Nam và
Đông dương. Tham vọng ngăn chặn ảnh
hưởng của chủ nghĩa xã h
ội ở Đông Nam
Á không thực hiện được, ngược lại phong
trào đấu tranh thoát khỏi quỹ đạo của Mỹ
đang ngày càng dâng cao ở các nước đồng
minh thân cận Thái Lan và Philippin. Lợi
dụng cơ hội đó, các đối thủ chính của Mỹ
trên thế giới, trước hết là Liên Xô đã vượt
lên và thiết lập được một thế cân bằng
chiến lược với Mỹ trên phạm vi toàn cầu.
Tình hình đ
ó buộc Mỹ phải tính đến khả
năng rút bỏ sự tham gia trực tiếp của quân
đội Mỹ ở chiến trường Việt Nam và Đông
dương. Cùng lúc đó Anh tuyên bố rút khỏi
bán đảo Malăcca.
Đứng trước khả năng Mỹ và Anh khó
có thể thực thi được chiến lược của họ ở
ĐNA và đang tìm cách rút chân ra khỏi sa
lầy, các lực lượng cách mạng Đông Nam Á
ngày càng lớn mạnh,
ảnh hưởng chủ nghĩa
xã hội đang tăng lên trong khu vực, các
quốc gia Đông Nam Á bên ngoài chiến
trường Đông dương thấy rõ tính cấp thiết
phải tìm kiếm một sự hợp tác nhằm hỗ trợ
nhau bảo vệ an ninh quốc gia trong thế giới
bị phân cực sâu sắc của thời kỳ chiến tranh
lạnh. “Lợi ích của chúng ta gắn bó chặt
chẽ với số phận toàn
Đông Nam Á. chúng
ta phải tự trông cậy vào mình mà chống lại
những ảnh hưởng tiêu cực. Chúng ta có
thể làm được điều đó nếu các nước Đông
Nam Á hợp tác với nhau và trở nên hùng
mạnh trong các vấn đề kinh tế để làm cơ
sở cho sự phát triển trong những lĩnh vực
khác”(2) (phát biểu của ngoại trưởng
Adam Mamik, Indonexia tháng 3 - 1967).
Kết quả là ngày 8-8-1967 với những
nỗ lực của Thái Lan, Philippin, Malaixia
và Indonexia, Hiệ
p hội các quốc gia Đông
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 - 2007
Trang 19
Nam Á (ASEAN) đã được tuyên bố thành
lập tại Băng Cốc với mục đích tổ chức hợp
tác trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và
văn hoá nhằm tăng cường sức mạnh của
mỗi nước cũng như toàn hiệp hội để đối
phó một cách hiệu quả với các mối đe doạ
từ bên ngoài. Mặc dù nhấn mạnh tới mục
tiêu hợp tác kinh tế
và văn hoá như vậy
nhưng động lực tiềm ẩn đằng sau của sự
liên kết đó chính là mối lo ngại về an ninh
của các quốc gia sáng lập ASEAN.
Rõ ràng là cuộc chiến đấu chống Mỹ
của nhân dân Việt Nam đã tạo ra sự biến
chuyển trong tình hình chính trị ở Đông
Nam Á vào nửa sau thập niên 60 nên có
thể xem đó là một nhân tố khách quan tác
động đến sự ra đời của tổ ch
ức ASEAN.
Yếu tố này dù chìm khuất nhưng vẫn tác
động sâu sắc tới những hoạt động tiếp đó
của ASEAN do đó Việt Nam trở thành đối
tượng quan trọng cho những hành xử của
ASEAN 5 và ASEAN 6. Sự nghịch lý của
hợp tác khu vực đã tồn tại ngay từ lúc mở
đầu.
Nghịch lý là ở chỗ, trong bối cảnh
chiến tranh lạnh khi cơn bão tham vọng
đang muốn nhấn chìm cả Việt Nam, cả
Đông Nam Á vào vòng xoáy của chiến
tranh và lệ thuộc, khi lịch sử đã đặt lên vai
Việt Nam gánh nặng nghiệt ngã của một
chiến trường nóng với những hy sinh
xương máu và những khổ đau chia cắt
không thể diễn tả bằng lời, khi nhân dân
Việt Nam quật cường trong cuộc đọ sức
sinh tử với đế quốc Mỹ để bảo v
ệ không
chỉ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của mình
mà còn là để thực hiện sứ mệnh của người
chiến sĩ đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ
của khu vực Đông Nam Á và của toàn
nhân loại thì Việt Nam lại ở phía đối diện
của một hiệp hội liên kết khu vực có mục
tiêu thiết lập hoà bình khu vực và muốn gạt
bỏ sự can thiệp từ bên ngoài.
Nếu
Đông Nam Á đã bị biến thành
“đấu trường” của các cường quốc thì vì sao
những thành viên dũng cảm (Việt Nam và
các quốc gia Đông dương) đang chiến đấu
chống lại dã tâm đó của đế quốc Mỹ và thế
lực phản động lại không thể trở thành
thành viên của hiệp hội liên kết khu vực
ngay từ khi nó được thành lập?. Nghịch lý
đó là một vấn đề củ
a khu vực, nó phản ánh
mâu thuẫn giữa phong trào giải phóng dân
tộc với chủ nghĩa đế quốc đồng thời cũng
phản ánh mâu thuẫn giữa 2 phe xã hội chủ
nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong phạm vi
khu vực.
Chính vì vậy sau đó mặc dù cuộc
kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt
Nam đã giành thắng lợi trọn vẹn vào mùa
xuân 1975, giáng một đòn quyết định vào
việ
c đẩy lùi sự can thiệp của các cường
quốc nước ngoài đặc biệt là Mỹ ở khu vực
Đông Nam Á, nhưng ASEAN vẫn chỉ là
Science & Technology Development, Vol 10, No.09 - 2007
Trang 20
một tổ chức của một đầu chiến tranh lạnh.
Nhịp cầu để Việt Nam và phần còn lại của
Đông Nam Á đến với ASEAN vẫn còn
nằm bên kia bờ vực.
3- Những hệ quả của chia rẽ vẫn tiếp
tục tác động, cho đến giữa thập niên 80
một khu vực Đông Nam Á hoà bình, ổn
định và phát triển vẫn chưa trở thành hiện
thực. Những căng th
ẳng kéo dài xoay
quanh những quan điểm về xung đột ở
Cămpuchia của Việt Nam và các nước
trong ASEAN đã khiến cho các quốc gia
trong khu vực Đông Nam Á không có điều
kiện tập trung vào sự phát triển kinh tế và
phải đối mặt với sự tụt hậu so với các “con
rồng” Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công,
v.v của khu vực Đông Bắc Á. Yêu cầu
sớm chấm dứt tình trạng xung đột, thoát ra
khỏ
i ảnh hưởng của chiến tranh lạnh để
cùng nhau phát triển đất nước và khu vực
trở nên cấp thiết với tất cả các quốc gia
Đông Nam Á. Yêu cầu đó càng trở nên
hiện thực hơn khi bước sang thập kỷ 90,
chiến tranh lạnh tan rã trên quy mô toàn
thế giới, sức ép của quá trình toàn cầu hoá
đã khiến cho tất cả các quốc gia trong khu
vực đều hiểu rằng “Nếu hành động đơn lẻ
thì không nước Đông Nam Á nào có thể
bảo vệ được mình” (3). Tất cả đều nhận
thức được tầm quan trọng của các mối liên
kết toàn diện, đa phương và phụ thuộc lẫn
nhau về kinh tế và an ninh ngày càng tăng
bất chấp những khác biệt về chế độ chính
trị. Đây là nét mới về chất trong quan hệ
quốc tế khu vực.
Rõ ràng là, tình hình Đông Nam Á sau
chiến tranh lạ
nh đã phát triển theo hướng
tích cực hơn. Xu hướng tìm kiếm hợp tác
giữa các quốc gia nhằm tạo những tiền đề
thuận lợi để tiếp tục duy trì sự bền vững
trở thành xu hướng chủ đạo. Vai trò của tổ
chức ASEAN ngày càng quan trọng trong
khi cơ cấu tổ chức và định hướng của nó
phát triển theo xu thế biến Đông Nam Á
thành khu vực phát triển hoà bình, hữu
nghị
và hợp tác, theo đó ASEAN cần phải
được mở rộng trên quy mô toàn khu vực.
Tuy nhiên nhất thể hoá khu vực,
ASEAN sẽ phải đối mặt với thách thức to
lớn trong vận hành và liên kết Hiệp hội
trước những khác biệt về hệ tư tưởng, chế
độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế của
các quốc gia vốn nằm ở hai cực chiến tranh
lạnh.
Nếu 1967 sự ra đời củ
a ASEAN chứng
tỏ “lần đầu tiên các nước Đông Nam Á đã
đi tới một điểm cơ bản của việc loại trừ
thói quen xấu là đi riêng rẽ với nhau, theo
những hướng khác nhau, đôi khi đối lập
nhau, khiến họ quay lưng với nhau” (4),
chứng tỏ “Đã có một sự đoàn kết khu vực
bất kể những khác biệt nảy sinh từ lợ
i ích
dân tộc (5) thì việc mở rộng ASEAN trong
thập niên 90 là bước ngoặt to lớn của hợp
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 - 2007
Trang 21
tác khu vực, đòi hỏi các quốc gia Đông
Nam Á phải có những cố gắng vượt bậc
mới có thể đưa hợp tác khu vực phát triển
sang giai đoạn mới.
Trong bước phát triển đó, Việt Nam từ
nhiều hệ quả của lịch sử đã trở thành tâm
điểm của những nỗ lực đổi mới vượt lên
chính mình. Việt Nam chủ động rút quân
tình nguyện tạ
i Cămpuchia, tích cực đổi
mới tư duy để thoát khỏi ảnh hưởng của
quá khứ chiến tranh lạnh. Việt Nam chủ
trương thực hiện chính sách đối ngoại mở
rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ
đối ngoại cả về chính trị, văn hoá, khoa
học kỹ thuật, kinh tế, xã hội, v.v với tất cả
các nước, trong đó đặc biệt là các nước
trong khu vự
c Đông Nam Á
“Môi trường quốc tế khu vực thay đổi,
vận động nội tại của Đông Nam Á trong đó
có quan hệ Việt Nam - ASEAN thay đổi.
Tất cả những điều này đòi hỏi những
phương pháp tiếp cận hoàn toàn mới để
xây dựng Đông Nam Á từng bị phân chia
theo sự kình địch về ý thức hệ thành Đông
Nam Á của một cộng đồng đa dạng liên kết
với nhau bởi những mối quan hệ an ninh
và thịnh vượng chung vì sự tiến bộ và phát
triển (6)
Những đổi mới có tính chất đột phá
trong đường lối đối ngoại của Việt Nam đã
góp phần quan trọng cải thiện tình hình,
nhờ đó tiến độ hội nhập vào khu vực của
Việt Nam trở nên nhanh chóng và vững
chắc. Kết quả 28/7/1995 Việt Nam chính
thức gia nhập vào ngôi nhà chung của Hi
ệp
hội liên kết khu vực Đông Nam Á.
Việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã
đánh dấu chấm dứt sự đối đầu giữa hai
khối ASEAN và Đông dương hình thành
dưới thời chiến tranh lạnh, mở ra một bước
ngoặt trong lịch sử phát triển hợp tác khu
vực ở Đông Nam Á. Sự tham gia của Việt
Nam vào ASEAN đã mở đầu cho quá trình
tham gia hợp tác khu vực của tất cả các
qu
ốc gia còn lại, biến ước mơ nhất thể hoá
khu vực của ASEAN được đề cập trong
“Tuyên bố Băng Cốc” năm 1967 thành
hiện thực. Hợp tác khu vực của ASEAN
nhờ đó đã bước lên bình diện mới để đối
phó một cách hiệu quả với những biến
động đầy phức tạp của thế giới thời kỳ hậu
chiến tranh lạnh. Vi
ệc Việt Nam gia nhập
ASEAN cũng đánh dấu thắng lợi cho
chặng đường trở lại cội nguồn Đông Nam
Á của Việt Nam.
4- Việt Nam vốn sinh ra từ cội nguồn
Đông Nam Á rồi bị tách ra sáp nhập vào
thế giới văn minh Trung Hoa trong hàng
ngàn năm. Đến thời kỳ cận đại sự cai trị
của thực dân Pháp trong liên bang Đông
dương đã khách quan khiến Việt Nam tăng
cường m
ối liên hệ với Cămpuchia, Lào là
những quốc gia Đông Nam Á truyền
thống. Trong thời gian này Việt Nam đã
Science & Technology Development, Vol 10, No.09 - 2007
Trang 22
hướng trở lại Đông Nam Á trong ý thức
cùng đoàn kết để chống lại thực dân giành
độc lập. Tuy nhiên, sự trở lại đích thực với
Đông Nam Á của Việt Nam chính là từ sau
khi Việt Nam gia nhập ASEAN. Chặng
đường trở về Đông Nam Á của Việt Nam,
chặng đường tìm cho mình một khu vực
thích hợp là một chặng đường thăng trầm
phải vượt qua nhiều trở ngại, khó khă
n và
thách đố. Sẽ không thể hiểu được một Việt
Nam hội nhập khu vực năng động mạnh
mẽ hôm nay nếu không hiểu được những
bài học sâu sắc trong chặng đường trở về
đầy cam go mà Việt Nam đã đi trước khi
bước vào ASEAN.
Trước hết, đó là bài học của tính kiên
định vì một Đông Nam Á độc lập, tự chủ,
hoà bình và ổn định.
Mục tiêu cũng nh
ư nền tảng cho sự ra
đời và tồn tại của tổ chức ASEAN là nhằm
tạo ra và gìn giữ một Đông Nam Á độc lập,
tự chủ, hoà bình để các quốc gia cùng ổn
định cùng phát triển.
Nhưng có thể có được một Đông Nam
Á như thế hay không khi mà do nhiều
nguyên nhân khu vực này đã bị biến thành
đấu trường từ sau đại chiến II? Các thế lực
đế quốc từ bên ngoài có tự nguyện r
ời khỏi
Đông Nam Á để trả lại cho Đông Nam Á
tư thế độc lập tự chủ của một ASEAN mới
như ngày nay không?
Có thể khẳng định rằng không thể có
điều đó nếu không có thắng lợi của cuộc
đấu tranh quyết liệt của các dân tộc Đông
Nam Á chống lại sự xâm lược, sự thống trị,
sự khống chế của chủ ngh
ĩa đế quốc thực
dân và các thế lực phản động từ bên ngoài
vào khu vực. Trong đó thắng lợi của nhân
dân Đông dương, đặc biệt là thắng lợi trọn
vẹn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của
nhân dân Việt Nam là đòn quyết định đẩy
lùi sự can thiệp của các cường quốc nước
ngoài đứng đầu là Mỹ vào khu vực Đông
Nam Á. Quan trọng hơn, chiến thắ
ng của
Việt Nam đã chứng minh hùng hồn rằng sự
can thiệp quân sự của một nước siêu
cường đối với một nước nhỏ nếu gặp sự
chống trả quyết liệt sẽ có thể bị hạn chế và
không phát huy tác dụng. Điều đó chứng tỏ
vận mệnh của một quốc gia hay một khu
vực không phải nhất định b
ị quyết định bởi
ý muốn của các siêu cường bên ngoài mà
phụ thuộc chủ yếu vào ý chí của quốc gia,
khu vực đó.
Bài học lịch sử này là hành trang quý
giá để Việt Nam khi gia nhập đã thổi vào
ASEAN một tinh thần độc lập tự chủ kiên
cường trước những sức ép của nhiều thế
lực trong một bối cảnh phức tạp và đầy
biến động của th
ế giới hiện nay. Việt Nam
đã tích cực và chủ động đóng góp nội dung
cho “Tuyên bố Bali II” và “Dự thảo Cộng
đồng ASEAN” nhằm hình thành Tuyên bố
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 - 2007
Trang 23
và kế hoạch hành động của Cộng đồng An
ninh ASEAN (ASC). Việt Nam đã vận
động các quốc gia Đông Nam Á đề cao
chủ quyền quốc gia, đưa vào văn kiện ASC
những cụm từ hoặc những tuyên bố mạnh
mẽ như “Các nước ASEAN không để lãnh
thổ của mình được phép sử dụng vào mục
đích chống phá các nước khác, cũng không
cho phép can thiệp quân sự từ bên ngoài
vào dưới bất kỳ hình th
ức và biểu hiện
nào”. Đó có thể xem là một trong những
tuyên bố mạnh mẽ nhất của ASEAN hiện
nay về chính trị và an ninh. Điều đó có thể
hiểu được vì ASEAN hôm nay là một
ASEAN có Việt Nam thắng Mỹ.
Sự tham gia một cách có hiệu quả của
Việt Nam trong ASEAN đã góp phần quan
trọng cho việc mở rộng hợp tác của
ASEAN với các đối tác bên ngoài nhất là
các đối tác và láng giềng của Việ
t Nam.
Sự cải thiện nhanh chóng quan hệ Việt
- Trung, vị thế địa chiến lược và sự phát
triển năng động của Việt Nam đã giúp Việt
Nam thực sự đóng góp một phần quan
trọng vào việc tăng cường mối quan hệ
hợp tác, tăng cường hiểu biết giữa Trung
Quốc và ASEAN. Cùng với sự lớn mạnh
của ASEAN, Việt Nam đóng góp vai trò
không nhỏ vào thế cân bằ
ng chiến lược và
ảnh hưởng giữa các nước lớn đặc biệt là
cân bằng chiến lược Mỹ - Trung - một vấn
đề lớn có ý nghĩa trong việc duy trì hoà
bình, ổn định và hợp tác ở Đông Nam Á.
Việt Nam cũng góp phần to lớn vào
việc mở rộng quan hệ ngoại giao giữa
ASEAN và Liên bang Nga, ASEAN và Ấn
Độ, ASEAN và EU, tổ chức nhiều diễn
đàn hợp tác lớn như ASEM (2004), APEC
(2006), v.v Như vậy là tính kiên đị
nh đấu
tranh vì một Đông Nam Á độc lập tự chủ
hoà bình và ổn định của một Việt Nam
trong cuộc chiến tranh chống Mỹ đầy máu
lửa và hy sinh hôm qua là nền tảng để có
được một Việt Nam mạnh mẽ năng động
trong ASEAN trỗi dậy hôm nay.
Thứ hai đó là bài học về hội nhập từ
khác biệt.
Trong mảng màu đa sắc của các thành
viên ASEAN thì Việt Nam là hiện t
ượng
khá nổi bật về sự khác biệt. Những gai góc
thách đố của việc mở rộng từ ASEAN 6
đến ASEAN 10 nằm trong những khác biệt
về chế độ chính trị, về hệ tư tưởng, về sự
chênh lệch trình độ phát triển kinh tế, v.v
đều có liên quan hoặc tập trung ở sự khác
biệt của Việt Nam với ASEAN. Nói khác
đi, nếu hành trang của các quốc gia Đông
Nam Á mang tới ngôi nhà ASEAN là rất
đ
a dạng thì hành trang của Việt Nam là
tiêu biểu cho sự đa dạng đó. Do vậy để đến
được với ASEAN, Việt Nam đã phải vượt
lên chính mình bằng những đổi mới đột
phá và đặc biệt đã luôn phát huy tinh thần
Science & Technology Development, Vol 10, No.09 - 2007
Trang 24
sáng tạo để quá trình hội nhập từ khác biệt
của mình đảm bảo vừa không đánh mất
bản thân vừa làm mạnh thêm cho một
ASEAN đa dạng.
Việt Nam cùng với các nước ASEAN
đã đề ra nhiều sáng kiến mới như “Chương
trình hành động Hà Nội” với những định
hướng và giải pháp cho việc hiện thực hoá
“Tầm nhìn 2020”. Việt Nam có nhiều
đóng góp về mặt ý tưởng và
đề ra biện
pháp nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển
vùng thể hiện trong “Tuyên bố Hà Nội”
năm 1998 “Tuyên bố Hà Nội về thu hẹp
khoảng cách phát triển, nhằm tăng cường
liên kết ASEAN” năm 2001, v.v Ngoài ra
Việt Nam còn đề xuất ý tưởng về “Cộng
đồng văn hoá xã hội” một trong 3 trụ cột
chính xây dựng cộng đồng ASEAN.
Quan trọng nhất là Việt Nam đã từ nền
kinh t
ế theo cơ cấu tập trung quan liêu bao
cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự chuyển
đổi này nhằm đưa kinh tế Việt Nam vào
quỹ đạo hội nhập khu vực và quốc tế.
Sự hội nhập mạnh mẽ từ sự khác biệt
của Việt Nam và các thành viên mới của
ASEAN đã góp phần quan trọng tạo nên sự
chuyển biế
n về chất trong nội dung hợp tác
khu vực ở Đông Nam Á. Từ một hợp tác có
tính chất đóng cửa thành một hợp tác có
tính chất mở cửa. Từ hợp tác bởi các mục
tiêu chính trị sang hợp tác do thị trường
thúc đẩy, từ hợp tác giữa các nền kinh tế
có trình độ phát triển tương tự nhau sang
hợp tác giữa các nền kinh tế có trình độ
phát triển chênh lệch nhau, t
ừ hợp tác
hướng vào bên trong và chia sẻ thị trường
sang hợp tác hướng ra bên ngoài và góp
chung nguồn lực, v.v Bước chuyển biến
này là kết quả của quá trình liên tục đổi
mới của tất cả các quốc gia trong ASEAN
trong đó có thể coi Việt Nam là một thí dụ
điển hình.
Chặng đường 10 năm là một chặng
đường rất ngắn, rất mới trong sự hội nhập
của Việt Nam vào ASEAN. Những thành
t
ựu đạt được trong bước đường hội nhập
ấy là rất cơ bản và đáng kể nhưng những
thách đố và khó khăn trong chặng đường
sắp tới cũng rất to lớn và phức tạp. Tuy
vậy chúng ta có thể khẳng định rằng có thể
học được nhiều bài học bổ ích trong chặng
đường lịch sử hội nhập vào ASEAN đã qua
của Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét