5
Cũng như bất kỳ một nghiên cứu nào, nghiên cứu nghèo đói cũng có
những thuận lợi và khó khăn riêng. Thuận lợi là ở chỗ vấn đề nghèo đang được
sự quan tâm rất lớn của người dân nên nghiên cứu viên dễ dàng nhận được sự
ủng hộ và giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu. Hơn nữa là tài liệu tham khảo khá
phong phú, từ lý thuyết cơ sở đến thực tiễn, cả trong và ngoài nước. Khó khăn
gặp phải thường xảy ra trong quá trình thực hiện điều tra phỏng vấn. Thiếu
nguồn lực để thực hiện điều tra một cách đầy đủ. Mẫu điều tra không được thực
hiện ở vùng núi cao hoặc vùng quá sâu. Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến tính
đại diện của số liệu điều tra.Với những thuận lợi cũng như khó khăn nêu trên,
tác giả đã nỗ lực hết sức để hoàn thành bài viết này. Kết quả nghiên cứu là một
đóng góp nhỏ về mặt thực tiễn nghèo đói ở đòa phương. Từ đó, tác giả hy vọng
rằng các nhà hoạch đònh chiến lược phát triển ở Ninh Thuận sẽ có cơ sở rõ ràng
khi quyết đònh lựa chọn chiến lược.
Cuối cùng, tác giả rất mong nhận được những ý kiến trao đổi và đóng góp.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
Chương 1
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG VỀ NGHÈO
ĐÓI
1.1. Khái niệm nghèo đói:
Khái niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốc gia
hay từng vùng, từng nhóm dân cư nhìn chung không có sự phân biệt đáng kể.
Tiêu chí chung nhất để xác đònh nghèo đói là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa
mãn những nhu cầu cơ bản của con người về: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa,
đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau chung nhất thường là ở chỗ thỏa mãn ở
mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế -
xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.
Ở Việt Nam, một khái niệm về đói nghèo thường được sử dụng là khái
niệm được đưa ra tại hội nghò về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu
vực châu Á - Thái Bình Dương tổ chức ở Thái Lan năm 1993 và được các quốc
gia trong khu vực thống nhất. Khái niệm này cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng
một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con
người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội,
phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa
nhận.”
Tương tự với quan điểm trên là quan điểm của nhà kinh tế học người Mỹ
Galbraith: “Con người bò coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi
thích đáng để họ tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng. Khi
đó, họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như là cái cần thiết
tối thiểu để sống một cách đúng mức.” (Bộ LĐTBXH, 2003)
Một khái niệm khác nhưng cụ thể hơn về nghèo đói được đưa ra tại hội
nghò Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan
Mạch năm 1995: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1
đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản
phẩm thiết yếu để tồn tại.”
Riêng Ngân hàng thế giới, qua thời gian cũng có những cách tiếp cận
khác nhau về nghèo trong các báo cáo của mình. Trong Báo cáo năm 1990, đònh
nghóa nghèo đói của tổ chức này bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và
dòch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến năm 2000/2001, Báo cáo
đã thêm vào khái niệm những nét mới như tình trạng bò gạt ra bên lề xã hội hay
tình dễ bò tổn thương: “Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghóa là khốn cùng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Nghèo có nghóa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm
sóc, mù chữ và không được đến trường. Nhưng đối với người nghèo, sống trong
cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghóa hơn thế. Người nghèo đặc biệt dễ bò tổn
thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ.
Họ thường bò các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bò gạt ra bên lề
xã hội nên không có tiếng nói và quyền lực trong các thể chế đó.”
Tất cả những tiêu chí đói nghèo này đều hoàn toàn phù hợp với những gì
mà trước đây Amartya Sen gọi là “khả năng mà một con người có được, đó là
quyền tự do đáng kể mà họ được hưởng để vươn tới một cuộc sống mà họ mong
muốn” (Sen, 1981). Rõ ràng là tình trạng thiếu thốn nêu trên đã hạn chế đáng
kể khả năng này của người nghèo.
Tuy nhiên, quan niệm của chính người nghèo ở nước ta cũng như một số
quốc gia khác trên thế giới về nghèo đói thì lại đơn giản hơn, trực diện hơn rất
nhiều. Những đoạn trích từ Báo cáo phát triển thế giới 2001 của WB dưới đây
cho thấy cái mà người nghèo nhận thức về cuộc sống trong cảnh đói nghèo của
mình:
“
Đừng hỏi tôi đói nghèo là gì vì ông đã thấy nó ngay từ bên ngoài nhà tôi. Hãy quan sát
ngôi nhà và xem nó có bao nhiêu lỗ thủng trên đó. Hãy nhìn những đồ đạc trong nhà và
những quần áo tôi đang mang trên người. Hãy quan sát tất cả và ghi lại những gì ông
thấy. Cái mà ông thấy chính là đói nghèo đó.
”
Một người nghèo ở Kênia
“
Nghèo đói là sự hổ thẹn, cảm giác phải phụ thuộc vào người khác và buộc phải chấp
nhận sự bạo hành, sỉ nhục, thái độ thờ ơ khi tìm kiếm sự giúp đỡ.
”
Một người nghèo ở Latvia
“
Nghèo đói đồng nghóa với nhà ở bằng tranh, tre, nứa, lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát;
không đủ đất đai sản xuất, không có trâu bò, không có Tivi, con cái thất học, ốm đau
không có tiền đi khám chữa bệnh…
“
Một người nghèo ở Việt Nam
Tóm lại, tất cả những quan niệm về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba
khía cạnh chủ yếu của người nghèo:
• Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
• Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con
người
• Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
1.2. Các phương pháp xác đònh đối tượng nghèo hiện nay:
Các phương pháp sử dụng nhằm đo mức độ nghèo và xác đònh đối tượng
nghèo ở Việt Nam có thể được phân loại thành những nhóm sau:
• Chi tiêu của hộ
Phương pháp này dựa vào các cuộc điều tra chi tiêu của hộ như ĐTMSDC
1993 và 1998 hay ĐTMSHGĐ 2002. Những cuộc điều tra này bao gồm những
thông tin chi tiết về chi tiêu của hộ. Thông tin này có thể được dùng để tính
chuẩn nghèo, đo bằng mức chi tiêu đầu người cần thiết để đảm bảo đủ 2100
Kcalo một ngày, dựa vào cách mà hộ phân bổ chi tiêu của họ giữa các hạng mục
lương thực và phi lương thực. Những hộ có chi tiêu đầu người dưới chuẩn nghèo
được xếp vào diện nghèo. Tỷ lệ nghèo được tính bằng tỷ lệ dân số có mức chi
tiêu dưới chuẩn nghèo.
Hạn chế chính của phương pháp này là điều tra chi tiêu đầu người thường
rất tốn kém, mẫu thường nhỏ cho nên ước tính nghèo đói thường có sai số. Trong
ĐTMSDC 1993 và 1998, không thể tính tỷ lệ nghèo đáng tin cậy ở cấp tỉnh trở
xuống. ĐTMSHGĐ 2002 cho phép ta tính được tỷ lệ nghèo đáng tin cậy cho cấp
vùng, và có thể cho cấp tỉnh, nhưng phương pháp chi tiêu của hộ không thể dùng
ở cấp huyện, chưa nói đến là cấp xã hay cấp hộ.
• Vẽ bản đồ nghèo (Poverty mapping)
Đây là phương pháp được nhóm tác chiến bản đồ nghèo đói liên bộ sử
dụng để ước lượng các chỉ số đói nghèo ở các cấp xã, huyện và tỉnh ở Việt Nam,
còn gọi là “Phương pháp ước lượng diện tích nhỏ” (Nhóm tác chiến bản đồ đói
nghèo liên bộ, 2003). Phương pháp này kết hợp giữa phỏng vấn sâu của điều tra
hộ với phạm vi rộng của tổng điều tra dân số. Những cuộc điều tra hộ như
ĐTMSHGD sẽ thu thập thông tin không chỉ về chi tiêu của hộ, mà còn cả một
loạt các biến khác như quy mô, thành phần của hộ, trình độ học vấn của các
thành viên trong hộ, nghề nghiệp và tài sản của họ… Còn tổng điều tra dân số
không hỏi về chi tiêu, nhưng lại bao gồm những thông tin về nhiều biến số kể
trên.
Phương pháp vẽ bản đồ nghèo là gắn hai công cụ thống kê này thông qua
ba bước chính. Bước thứ nhất là xác đònh một loạt các biến số chung giữa cuộc
điều tra chi tiết và cuộc tổng điều tra dân số cùng thời kỳ. Thứ hai, tiến hành
phân tích thống kê để đánh giá mối quan hệ giữa mức chi tiêu bình quân đầu
người với những biến số này. Bước thứ ba là dùng những kết quả phân tích để
“dự báo” chi tiêu của hộ có trong tổng điều tra dân số. Mức chi tiêu dự báo này
dùng để đánh giá xem một hộ có nghèo hay không. Về mặt này, vẽ bản đồ vẫn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
là một phương pháp dựa vào chi tiêu, nhưng nó dựa vào mức chi tiêu dự báo, chứ
không phải là chi tiêu thực tế của hộ. Phương pháp vẽ bản đồ nghèo cho phép
tính được tỷ lệ nghèo ở cấp thấp, được đo bằng tỷ lệ hộ nghèo trong tổng điều
tra dân số của mỗi tỉnh, huyện, thậm chí cả xã. Nhưng phương pháp này cũng
không thực sự là hoàn hảo bởi lẽ chi tiêu dự báo chỉ có thể ước tính với sai số.
• Phương pháp dựa vào thu nhập
Việc áp dụng nghiêm ngặt phương pháp tính theo thu nhập do Bộ
LĐTBXH đưa ra để đo mức nghèo có thể xếp vào loại này. Trên nguyên tắc,
phương pháp của Bộ LĐTBXH dựa trên điều tra gồm những câu hỏi về tài sản
và về thu nhập từ các nguồn khác nhau. Thu nhập từ tất cả các nguồn này được
cộng lại, chia cho số người trong hộ, và so sánh với một trong ba chuẩn nghèo
tùy theo xã đó thuộc vùng nào. Ở thành thò, chuẩn nghèo hiện nay là 150.000
đồng một tháng. Ở nông thôn vùng đồng bằng, chuẩn nghèo là 100.000 đồng, ở
miền núi, vùng sâu và hải đảo là 80.000. Những hộ có thu nhập hàng tháng thấp
hơn 50.000 đồng được xếp vào hộ đói ở mọi vùng. Tỷ lệ nghèo có thể được tính
bằng tỷ lệ dân số sống dưới chuẩn nghèo trong xã, huyện, hoặc tỉnh. (Quyết đònh
số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2000, áp dụng từ năm 2001)
Phương pháp này bò phê phán vì hai lý do: Thứ nhất, về mặt lý luận, các
mốc thu nhập dùng để phân loại hộ nghèo ở những loại xã khác nhau có tính chủ
quan, và chưa chắc đã so sánh được. Một hộ thành thò có thu nhập đầu người
150.000 đồng một tháng có thể nghèo hơn hoặc giàu hơn một hộ có thu nhập là
80.000 đồng một tháng ở vùng sâu hay miền núi. Nhưng trên thực tế, phương
pháp của Bộ LĐTBXH không được áp dụng đồng nhất ở các đòa phương. Điển
hình là chỉ một phần trong số các hộ được điều tra, chủ yếu là những hộ đã nhận
giấy chứng nhận hộ nghèo, và một số hộ khác được coi là ở sát mức nghèo. Kết
quả điều tra thường không được chính quyền đòa phương tính đến khi phân bổ
những khoản trợ giúp như miễn giảm học phí hoặc thẻ khám bệnh. Và chính
quyền đòa phương thường đặt ra tỷ lệ nghèo mà không xem xét phương pháp của
Bộ LĐTBXH, rất giống với kiểu giao chỉ tiêu trước thời kế hoạch hóa tập trung.
• Phân loại của đòa phương
Ưu điểm chính trong cách làm của Bộ LĐTBXH ở đòa phương trên thực tế
lại là do các đòa phương không tuân thủ một cách cứng nhắc phương pháp dựa
vào thu nhập nêu trong tài liệu hướng dẫn. Điểm căn bản trong việc xác đònh đối
tượng nghèo và phân bổ các khoản trợ giúp trên thực tế ở cấp đòa phương là có
sự chi phối của một thiết chế theo tập tục truyền thống, đó là thôn. Mỗi thôn sẽ
lên danh sách những hộ nghèo và đói. Danh sách này được cập nhật một hoặc
hai lần trong một năm, khi mà những lợi ích như miễn học phí và thẻ khám chữa
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
bệnh được phát. Những hộ được coi là không nghèo thường không tham gia hội
đồng này vì họ ít có khả năng nhận được lợi ích gì. Nhiều khi, số kinh phí có
được không cho phép phân bổ những khoản trợ giúp cho tất cả những hộ được
xếp vào diện nghèo. Do đó, vấn đề là bàn xem ai sẽ nhận được những khoản trợ
giúp đó, cộng thêm những đánh giá chủ quan của hộ khác, ngoài những con số
về thu nhập. Phương pháp của Bộ LĐTBXH chỉ được sử dụng mỗi khi không đạt
được sự nhất trí liệu một hộ này hay một hộ khác sẽ được nhận trợ giúp.
Nhược điểm của phương pháp này là thiếu một quy tắc chặt chẽ để xác
đònh hộ nghèo và liệu việc thảo luận ở cấp thôn có thực sự thành công trong việc
xác đònh ai là người cần trợ giúp nhất hay không vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ.
Một nhược điểm nữa là nó hoàn toàn loại bỏ một số hộ ra khỏi việc xem xét
phân loại. Những hộ bò coi là không chòu chăm chỉ lao động hoặc không có trách
nhiệm xã hội hiếm khi nhận được trợ giúp, và thậm chí còn không được liệt vào
danh sách các hộ nghèo. Trên thực tế, việc không trợ giúp những hộ này có thể
gây thiệt thòi cho con cái của họ, những người hoàn toàn không có lỗi trong việc
cha mẹ chúng nghiện rượu hay không chòu làm việc.
• Xếp hạng giàu nghèo
Phương pháp này thường được sử dụng nhiều nhất trong các PPA
(Participatory Poverty Assessment), bao gồm một tập hợp những nhận xét về
hiện trạng của tất cả các hộ trong một cộng đồng. Ở Việt Nam, cộng đồng tiêu
biểu nhất là thôn. Một tỷ lệ đáng kể các hộ trong cộng đồng sẽ tập hợp nhau lại
để xếp thứ tự, hoặc thường là phân loại các hộ trong số đó. Trong những PPA
được thực hiện, những người tham dự được chọn sao cho có đủ nam, nữ, người
già, trẻ em, người nghèo và không nghèo. Đại diện của chính quyền đòa phương,
thường có cả trưởng thôn cũng tham gia. Những cán bộ xã hội từ những tổ chức
phi chính phủ, hoặc các tổ chức nghiên cứu trong nước, đã làm quen với xã và
những vấn đề chính ảnh hưởng đến đời sống của các hộ trong đó, đứng ra làm
đầu mối liên hệ.
Việc phân loại hộ thường được thực hiện thông qua thảo luận nhóm nhằm
chỉ ra những đặc tính của người nghèo. Sau đó, những tờ phiếu có ghi tên tất cả
các hộ trong thôn được phân phát cho các đại biểu tham dự để họ phân loại hộ
vào các nhóm. Cuối cùng, trường hợp những hộ được phân loại khác nhau bởi ít
nhất hai thành viên sẽ được đem ra thảo luận trong cả nhóm. Việc thảo luận
nhằm tìm hiểu nguyên nhân của việc khác nhau, và tìm kiếm sự nhất trí liên
quan đến phân loại phù hợp cho mỗi trường hợp. Do vậy, công tác xếp hạng giàu
nghèo mang tính toàn diện hơn những phương pháp chỉ dựa vào chi tiêu hay thu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
nhập không thôi, và khách quan hơn phương pháp tự đánh giá hoặc phân loại bởi
chính quyền đòa phương. Tuy nhiên, phương pháp này có chi phí cao nhất.
1.3. Nguyên nhân của nghèo đói
Hiện rất khó để có thể chỉ ra được tất cả những nguyên nhân của nghèo.
Và cũng khó để phân biệt trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến nghèo
thì đâu là nguyên nhân còn đâu là kết quả, cũng như sự tác động qua lại của
chúng đến khả năng thoát nghèo của người nghèo. Tuy nhiên nhìn chung thì
nghèo ở Việt Nam cũng có những nét riêng biệt được tạo nên từ nhiều nguyên
nhân tổng hợp có nguồn gốc từ những khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện
kinh tế-xã hội và điều kiện lòch sử. Những kết quả nghiên cứu về nghèo trước
đây đã chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng nghèo ở Việt Nam
như sau:
1.3.1. Nghề nghiệp, tình trạng việc làm và trình độ học vấn
• Nghề nghiệp gắn với sản xuất nông nghiệp
Xuất phát từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, dân số sống tập trung
chủ yếu ở nông thôn (theo Niên giám thống kê năm 2002 tỷ lệ này là 74,89%)
và sản xuất chủ yếu là thuần nông, do đó đại bộ phận dân cư phải đối mặt với
những khó khăn thường gặp trong sản xuất nông nghiệp như thiên tai, dòch bệnh,
sâu bọ. Bên cạnh đó, tỷ lệ tăng dân số cao trong một giai đoạn dài trước đó càng
làm cho đời sống người dân, đặc biệt là người dân sống ở nông thôn thêm khó
khăn. Vùng sinh sống và nghề nghiệp vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của
những yếu tố khác như: trình độ học vấn, thiếu khả năng tiếp cận thông tin thò
trường, kỹ năng chuyên môn bò hạn chế, thiếu đất và thiếu việc làm thêm ngoài
nông nghiệp. Theo báo cáo của Văn phòng xóa đói giảm nghèo của Vụ Bảo trợ
xã hội thì vào năm 2002 có đến 87,9% hộ nghèo ở nông thôn. Kết quả nghiên
cứu của ĐTMSDC98 còn cho thấy những hộ có nghề chính là nông nghiệp có tỷ
lệ nghèo cao nhất (48%), chiếm 79% tổng số người nghèo.
Trong những năm gần đây, tuy tỷ trọng những hộ có chủ hộ làm việc
trong các ngành nông nghiệp có giảm đi và tỷ trọng các hộ có chủ hộ làm việc
trong các văn phòng hay dòch vụ bán hàng tăng lên nhưng không đáng kể. Mức
nghèo ở Việt Nam giảm chủ yếu là do tỷ lệ người nghèo trong từng nhóm nghề
nghiệp giảm chứ không phải do có sự chuyển dòch trong cơ cấu nghề nghiệp.
Những hộ mà có một nguồn thu nhập ổn đònh nào đó, chẳng hạn như tiền
lương từ công ăn việc làm thường xuyên hay từ các khoản chuyển nhượng phúc
lợi của xã hội thường được xếp vào nhóm các hộ sung túc hơn. Thường thì các
nguồn thu này không lớn nhưng điều quan trọng nhất của nó là tính ổn đònh và
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
đảm bảo. Những hộ sống nhờ vào những nguồn thu thất thường như làm thuê
theo ngày luôn cảm thấy thiếu an toàn kinh tế. Những hộ nghèo là những hộ có
đặc điểm này. Có thể nói rằng, thu nhập thấp và thất thường có thể làm cho một
hộ trở nên nghèo hơn.
• Trình độ học vấn thấp, thiếu kỹ năng làm việc và thông tin
Những người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội
kiếm được việc làm tốt, ổn đònh. Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đủ để ăn và
do vậy không có điều kiện để học tập nâng cao trình độ nhằm vươn lên thoát
nghèo. Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp còn ảnh hưởng đến các quyết đònh có
liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái…Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ
em và trẻ sơ sinh cao, khả năng đến trường của trẻ em gia đình nghèo thấp sẽ
làm cho các giải pháp thoát nghèo thông qua giáo dục trở nên khó khăn hơn.
Bảng 1.1: Trình độ học vấn của người nghèo ở Việt Nam 1998
Trình độ học vấn cao nhất Tỷ lệ nghèo (%)
Tỷ lệ tính trong tổng
số người nghèo (%)
Tỷ lệ trong tổng dân
số (%)
Không được đi học
Tiểu học
Phổ thông cơ sở
Phổ thông trung học
Dạy nghề
Đại học
Tổng cộng
57
42
38
25
19
4
37
12
39
37
8
3
0
100
8
35
36
12
6
3
100
Nguồn: ĐTMSDC98, Tổng cục thống kê (1999)
ĐTMSDC98 cho thấy khoảng 90% người nghèo chỉ có trình độ phổ thông
cơ sở hoặc thấp hơn. Kết quả điều tra mức sống cho thấy, trong số người nghèo,
tỷ lệ người chưa bao giờ đi học chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%; phổ
thông cơ sở chiếm 37%. Chi phí cho giáo dục đối với người nghèo còn lớn gây
không ít khó khăn cho họ trong việc tiếp cận với giáo dục nhiều hơn. Học vấn
thấp buộc chặt người nghèo với những công việc có thu nhập thấp trong nông
nghiệp và hạn chế khả năng tìm được việc trong các ngành phi nông nghiệp,
những công việc mang lại thu nhập cao hơn hay ít ra là ổn đònh hơn.
Trình độ học vấn đóng vai trò quan trọng trong quá trình giảm nghèo đói.
Cụ thể là tạo ra khả năng tiếp cận những vấn đề liên quan tới việc tiếp thu các
kiến thức kỹ thuật, kỹ năng làm việc và nắm bắt thông tin. Các nghiên cứu đói
nghèo có sự tham gia của người dân (PPA) trước đây đã cho thấy rằng những hộ
thuộc nhóm khá giả là những hộ thường xuyên tiếp xúc với cán bộ khuyến nông,
quan hệ với những người ở ngoài cộng đồng, tiếp cận với thông tin và với các
phương tiện truyền thông đại chúng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
1.3.2. Thiếu khả năng tiếp cận các nguồn lực
Người nghèo thường thiếu nguồn lực nhưng không có khả năng tiếp cận
nguồn lực. Không có nguồn lực để đầu tư, người nghèo lại càng nghèo hơn. Do
đó, họ thường rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực.
• Thiếu đất
Hầu hết người dân Việt Nam sống bằng nông nghiệp cho nên diện tích và
chất lượng đất đóng vai trò quyết đònh đến mức sống của hộ. Không có đất,
thiếu đất, đất đai xấu hoặc không có quyền canh tác trên đất sẽ ngăn các hộ
phát triển các hoạt động nông nghiệp và đó là lý do khiến cho nhiều hộ nông
dân rơi vào hoàn cảnh không thể sản xuất đủ lương thực hoặc tạo ra thu nhập đủ
để nuôi sống gia đình họ.
Thêm vào đó, người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dòch vụ
sản xuất như khuyến nông, khuyến ngư nên vẫn thường sản xuất theo kiểu tự
cung tự cấp mà không có một phương án sản xuất nào có thể mang lại lợi nhuận
cao hơn. Do vẫn theo phương pháp truyền thống nên năng suất và giá trò cây
trồng, vật nuôi thấp, không đủ sức cạnh tranh trên thò trường và kết quả là họ dễ
rơi vào nghèo khổ hơn.
Theo luật pháp Việt Nam hiện nay, đất không thuộc quyền sở hữu của hộ
nhưng họ được giao quyền sử dụng đất trong thời gian dài (thường từ 20 đến 50
năm tùy thuộc vào từng loại đất) và họ cũng có quyền chuyển nhượng. Người
nghèo do không có khả năng sản xuất và túng thiếu nên thường chuyển nhượng
quyền sử dụng cho các hộ giàu. Chính vì vậy mà dù người dân được chia đất một
cách bình đẳng theo các tiêu chuẩn quốc tế thì những hộ nghèo vẫn thường có ít
đất hơn so với các hộ giàu. Bảng 1.2 cho thấy diện tích đất canh tác cây hàng
năm và cây lâu năm của các hộ tăng lên theo nhóm chi tiêu bình quân đầu
người, với số lượng đất trồng cây hàng năm của các hộ thuộc nhóm giàu nhất lớn
hơn diện tích của các hộ ở nhóm thấp nhất tới 1,4 lần. Sự khác biệt còn lớn hơn
nhiều ở diện tích trồng cây lâu năm tính trên đầu người: 6 lần.
Bảng 1.2: Diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình Việt Nam phân theo nhóm chi tiêu (m
2
)
Nghèo Khá nghèo Trung bình Khá giàu Giàu
Tổng diện tích đất 6437 6953 7138 6928 9856
Trong đó:
Diện tích trồng cây hàng năm 3600 3928 4625 4414 5081
Diện tích trồng cây lâu năm 613 845 1016 1485 3527
Nguồn: Ngân hàng thế giới ước tính dựa trên số liệu ĐTMSDC98
• Hạn chế tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
Theo Waheed (1996), thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, kéo theo
thu nhập hộ gia đình thấp. Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp. Tiết kiệm thấp
lại là nguyên nhân của sự thiếu hụt vốn đầu tư, và lại dẫn đến thu nhập thấp.
Không đủ vốn, người nghèo không thể làm gì được; từ việc cơ bản nhất là mua
giống cây trồng vật nuôi hay phân thuốc chứ đừng nói đến việc cải tiến sản xuất
hay áp dụng khoa học kỹ thuật mới. Muốn thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn này
cần phải có nguồn vốn từ bên ngoài, trong trường hợp này là nguồn vốn vay hay
vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng chính thức và phi chính thức, hay từ các dự
án cấp tín dụng cho người nghèo của chính phủ.
Tuy nhiên, qua các nghiên cứu cho thấy
1
, ở Việt Nam, người nghèo
thường bò hạn chế trong việc tiếp cận được với các nguồn tín dụng chính thức
của chính phủ trong lúc các nguồn phi chính thức có ít khả năng giúp hộ gia đình
thoát nghèo. Mặc dù hiện nay có rất nhiều nguồn, nhiều dự án cung cấp tín dụng
cho người nghèo thông qua các chương trình quốc gia về XĐGN nhưng vẫn còn
rất nhiều người rất nghèo không thể tiếp cận được các nguồn tín dụng này.Có
nhiều nguyên nhân, loại trừ sự nhũng nhiễu của người có quyền quyết đònh thì
nguyên nhân còn lại là do người nghèo thiếu hiểu biết, thiếu hiểu biết, không có
khả năng thế chấp, không biết cách làm ăn dẫn đến không có khả năng trả nợ.
Và rồi họ tiếp tục nghèo hơn.
“Nợ nần làm cho chúng tôi thức trắng đêm - cảm giác nợ nần thật là khủng
khiếp. Tôi cảm thấy khiếp sợ mỗi khi có chủ nợ đến nhà đòi tiền còn bản thân
thì không thể trả được. Tôi cảm thấy xấu hổ vì lúc đó họ rất coi thường tôi.”
(PPA tại Trà Vinh, Oxfam Anh).
1.3.3. Những đặc điểm về nhân khẩu học
• Bất bình đẳng giới ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của phụ nữ và trẻ
em
Bất bình đẳng giới làm sâu sắc hơn tình trạng đói nghèo trên tất cả các
mặt. Ngoài những bất công mà cá nhân người phụ nữ và trẻ em gái phải gánh
chòu thì còn có những tác động bất lợi đối với gia đình.
Phụ nữ chiếm gần 50% trong tổng số lao động nông nghiệp và chiếm tỷ
trọng cao trong số lao động tăng thêm hàng năm trong ngành nông nghiệp. Thế
nhưng chỉ có 25% phụ nữ tham gia các khóa khuyến nông về chăn nuôi và 10%
1
Tham khảo (Phạm Vũ Lửa Hạ, 2003 trong Làm gì cho nông thôn Việt Nam?), (Trần Văn Bích, 1999
trong Hộ gia đình Việt Nam nhìn qua phân tích đònh lượng) và Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và
xóa đói giảm nghèo của Việt Nam 11/2003.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét