Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

v2604

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Ngoài ra Ngân Hàng thờng đợc chính quyền quản lý một cách chặt chẽ và đôi khi
các quy định của cấp thẩm quyền ảnh hởng rất lớn đến các quy tắc kế toán nà thông lệ
kiểm toán đợc chấp nhận bởi đa số.
2. Kiểm toán nghiệp vụ tín dụng
2.1. Nội dung và đặc điểm của nghiệp vụ tín dụng nhìn từ góc độ kiểm toán
2.1.1. Nội dung nghiệp vụ tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động của một ngân hàng. Hoạt động này bao gồm các
nghiệp vụ trong bảng cân đối tài sản và nghiệp vụ ngoài bảng cân đối.
Các nghiệp vụ trong bảng cân đối thông thờng là: Các nghiệp vụ cho vay với
khách hàng và các tổ chức tín dụng khác, nghiệp vụ cho thuê tài chính, các nghiệp vụ
đầu t nh góp vốn vào các doanh nghiệp liên doanh, mua trái phiếu Ngoài ra theo
nghĩa rộng, các giao dịch tài chính phát sinh nh hoán đổi lãi suất, giao dịch lãi suất có
thời hạn, quyền lựa chọn lãi suất cũng đ ợc coi là nghiệp vụ tín dụng.
Các nghiệp vụ ngoài bảng cân đối nh: Bảo lãnh, tín dụng th, cam kết cung cấp tín
dụng.
2.1.2. Đặc điểm của nghiệp vụ tín dụng nhìn từ góc độ kiểm toán.
Có rất nhiều góc độ để nghiên cứu về nghiệp vụ tín dụng ( ngân hàng) và ở mỗi
một góc độ ta có thể nhận biết về đặc điểm của nghiệp vụ này một cách khác nhau. Có
thể nghiên cứu tín dụng khi xem xét chức năng của ngân hàng, hoặc từ khía cạnh cấp
tín dụng Tuy nhiên với công việc kiểm toán việc đánh giá các đặc điểm của nghiệp
vụ tín dụng thờng đợc nhìn nhận dới góc độ tài chính. Một số đặc điểm cơ bản về
nghiệp vụ này có thể kể đến nh sau:
Số d tài khoản cho vay là khoản mục tài sản có chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài
sản, là tài sản sinh lời chủ yếu của ngân hàng. Do vậy một sai sót nhỏ về giá trị khoản
mục này trên bảng cân đối tài sản cũng có thể có ảnh hởng lớn đến giá trị của báo cáo
thu nhập, chi phí. Chẳng hạn một khoản tín dụng ngắn hạn đợc chuyển thành tín
dụng dài hạn sẽ làm tăng khoản thu nhập lãi cho vay mà trong thực tế khoản lãi sẽ
không cao nh vậy.
Giá trị của khoản tín dụng khi ghi sổ ban đầu không bao gồm các khoản dự
phòng rủi ro, nhng khi định giá lại khoản vay thì các ngân hàng thờng áp dụng phơng
pháp định giá theo giá thị trờng hoặc tơng đơng theo thời gian, đặc biệt là các giao dịch
tài chính phát sinh. Điều đó có nghĩa là việc định giá tài sản sẽ không hoàn toàn theo
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
một chuẩn mực khách quan nào và đây cũng là khó khăn của các kiểm toán viên độc
lập khi đánh giá giá trị của khoản mục này. Việc định giá trị của các khoản vay cũng
ảnh hởng đến chi phí trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng đối với các khoản cho
vay một thể nhân hoặc pháp nhân hoặc các nghiệp vụ tín dụng khác, do vậy nếu giá trị
khoản cho vay đợc định lại với giá trị thấp thì chi phí dự phòng rủi ro có thể tăng cao.
Đối tợng vay tín dụng của ngân hàng có thể là một pháp nhân, một thể nhân hoặc
một công ty đối nhân. Các khách hàng này độc lập một cách tơng đối với nhau song
chắc chắn giữa họ có những mối quan hệ hoặc phụ thuộc vào nhau, ví dụ: Công ty A là
cổ đông của công ty B, công ty mẹ và công ty con hoặc mối quan hệ đó có tác động
trực tiếp, gián tiếp đến nhau( ví dụ hai khách hàng thực hiện một quan hệ mua bán
hàng với phơng thức thanh toán gối đầu, trả chậm ). Hệ quả của những mối quan hệ
này là khi một khách hàng gặp khó khăn sẽ có thể kéo theo khách hàng khác cũng gặp
khó khăn. Do đó khi kiểm toán nghiệp vụ tín dụng, kiểm toán viên cần chú ý tới mối
quan hệ của khách hàng có vay tín dụng ngân hàng nằm trong dạng nào khi đánh giá
khả năng đảm bảo an toàn một khoản tín dụng mà ngân hàng đã cấp.
Kiểm toán viên cũng cần phải có một cái nhìn nhận hợp lý về việc đánh giá các
khách hàng lớn của một ngân hàng. Ví dụ, có thể coi khách hàng lớn là khách hàng có
tổng d nợ đạt mức tối đa bằng 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng hoặc ở mức giới hạn
nào đó do ngân hàng đặt ra.
Mặt khác các ngân hàng chỉ cấp các khoản tín dụng sau khi có sự kiểm tra khả
năng tài chính của khách hàng một cách kỹ lỡng, toàn diện và phải giám sát thờng
xuyên khả năng tài chính của khách hàng trong suốt quá trình cho vay, thông qua yêu
cầu xuất trình quyết toán năm. Do vậy xem xét báo cáo tài chính của khách hàng vay
tín dụng cũng là công việc của kiểm toán viên khi đánh giá hoạt động tín dụng. Nh
vậy, muốn có sự đánh giá hợp lý kiểm toán viên cần phải hiều biết không chỉ về ngân
hàng mà còn cần hiểu biết về khách hàng của ngân hàng đó.
Rủi ro tín dụng là rất đa dạng, phụ thuộc cả vào khách hàng( tình hình tài chính,
trách nhiệm đối với khoản nợ)- lẫn ngân hàng( khả năng quản lý, dự đoán rủi ro). Và vì
độ an toàn của một khoản vốn cấp ra chỉ có thể biết chính xác khi kết thúc hợp đồng,
do đó yếu tố dự đoán có ảnh hởng lớn và kết quả dự đoán thể hiện qua quá trình xét
duyệt cấp tín dụng.
Để đối phó với những rủi ro về tín dụng, các ngân hàng lập ra những hệ thống
kiểm soát phức hợp bao gồm nhiều công đoạn trong quá trình thực hiện một khoản cấp
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tín dụng nh xem xét cho vay, giải ngân, giám sát nợ, thu hồi vốn Do vậy hoạt động
kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng là rất quan trọng để có thể ngăn chặn rủi ro
cho ngân hàng. Nh vậy khi tiến hành kiểm toán nghiệp vụ tín dụng, kiểm toán viên cần
tập trung đánh giá hoạt động kiểm soát nội bộ, đặc biệt là cách thức quản lý rủi ro mà
một ngân hàng áp dụng.
3. Quy trình kiểm toán nghiệp vụ tín dụng.
3.1. Lập kế hoạch kiểm toán
3.1.1. Phân tích rủi ro
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trờng hợp ngân hàng không thu đợc đầy đủ cả gốc
và lãi của khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn.
Rủi ro tín dụng có thể phân tích theo nhóm đối tợng và theo sự thất thoát giá trị
tài sản.
Rủi ro tín dụng phân tích theo nhóm đối tợng có thể bao gồm rủi ro thất thoát các
khoản cho vay do khả năng tài chính của khách hàng yếu kém, trong đó có những rủi
ro từ các giao dịch trong bảng cân đối và những rủi ro từ các giao dịch ngoài bảng cân
đối, và rủi ro do giá trị quyền sở hữu tài sản do những biến động của ngân hàng nh thay
đổi Ban lãnh đạo dẫn đến chất lợng hoạt động yếu kém, hoặc sự phát triển ngân hàng
quá nhanh mà trình độ quản lý không theo kịp
Rủi ro thất thoát giá trị tài sản chính là nguy cơ giảm giá trị tài sản mà ngân hàng
nắm giữ nh các tài sản thế chấp, các chứng khoán mà ngân hàng nhận cầm cố
Việc phân tích rủi ro sẽ giúp kiểm toán viên lập kế hoạch kiểm toán thích hợp,
không bỏ sót những điểm quan trọng cần kiểm toán.
3.1.2. Lập kế hoach
a. Lập kế hoạch về nội dung: Kế hoạch về nội dung kiểm toán cần xác định đợc:
- Quy mô kiểm toán cơ chế kiểm soát nội bộ
- Quy mô kiểm toán tín dụng( đặc biệt là lựa chọn theo xác suất)
- Các lĩnh vực cần kiểm toán, trọng tâm kiểm toán.
- Quy mô kiểm toán cơ chế kiểm soát nội bộ phụ thuộc vào:
- Cơ cấu tổ chức và kinh doanh của ngân hàng đợc kiểm toán
- Cơ cấu tín dụng về nghành nghề
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Quy mô kiểm toán tín dụng: kiểm toán tín dụng có thể tiến hành toàn diện hoặc
theo xác suất. Việc lựa chọn quy mô kiểm toán tín dụng có thể căn cứ vào một số tiêu
chí sau:
- Kết quả của việc phân tích rủi ro
- Kết quả kiểm toán cơ chế kiểm soát nội bộ của ngân hàng.
- Cơ cấu nghiệp vụ tín dụng, danh mục vốn đầu t.
- Mức độ thận trọng của lãnh đạo ngân hàng trong việc định giá trị các khoản vốn
cho vay.
- Hệ thống đánh giá, phân loại khách hàng hiện hành.
- Những điểm yếu kém đã đợc phát hiện.
- Danh sách khách hàng thấu chi và khách hàng cần nhắc nhở, các khách hàng đ-
ợc vay vốn đặc biệt.
- Mối quan hệ giữa việc tổ chức nghiệp vụ tín dụng và rủi ro về môi trờng kinh
tế
Lu ý: Khi tiến hành nghiên cứu cơ cấu tín dụng, kiểm toán viên cần lập hồ sơ về
cơ cấu tín dụng. Để có hồ sơ này, kiểm toán viên nên gửi yêu cầu cho ngân hàng để họ
cung cấp thông tin trớc khi tiến hành kiểm toán.
Cơ cấu nghiệp vụ tín dụng có thể đợc phân chia theo lĩnh vực hoạt động, theo cơ
cấu tài sản thế chấp, theo khả năng tài chính của khách hàng vay vốn hoặc theo cơ cấu
nghiệp vụ mới Hồ sơ về cơ cấu tín dụng còn bao gồm một bản danh mục tổng nợ của
khách hàng, trong đó có tất cả các khoản khách hàng nợ các bộ phận khác trong ngân
hàng, nếu nh trong ngân hàng phụ trách một hoặc một nhóm nghiệp vụ tín dụng, chẳng
hạn nh phòng tín dụng cho vay vốn bằng đồng nội tệ, phòng thanh toán quốc tế cho
vay vốn bằng ngoại tệ và các giao dịch ngoại bảng. Danh mục này sẽ cho ta một cái
nhìn tổng quan về rủi ro trong toàn bộ quan hệ kinh doanh với một khách hàng vì cũng
có thể một khách hàng đợc nhiều phòng giải quyết cho vay, nếu không có sự theo dõi
tổng hạn mức tín dụng chung thì một khách hàng có thể vay vợt hạn mức
Ví dụ: Để có thể tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính một ngân hàng, Công ty
kiểm toán A đã đặt ra các yêu cầu cung cấp thông tin gửi đến ngân hàng- khách hàng
kiểm toán một cách cụ thể và rất chi tiết. Để đánh giá danh mục cho vay của ngân
hàng, Công ty kiểm toán này đề nghị ngân hàng lập các báo cáo sau trên cơ sở thông
tin tại ngày 31 tháng 12 năm N và N+1 gồm:
- Tổng hợp d nợ theo thành phần kinh tế và đối tợng khách hàng
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Sao kê 20 khách hàng có d nợ lớn nhất.
- Phân tích các khoản vay của khách hàng theo chi nhánh.
- Tổng hợp d nợ theo kỳ hạn.
- Tổng hợp d nợ theo đồng tiền cho vay
- Sao kê các khoản cho vay chờ phát mại tài sản thế chấp.
- Chính sách về lập dự phòng, đặc biệt đối với các tài khoản cho vay, đầu t, bảo
lãnh và th tín dụng.
Kiểm toán viên cũng nên lập danh sách tất cả các hạn mức tín dụng đã duyệt cho
vay nhng cha giải ngân vì ở đây cũng tiềm ẩn một mức rủi ro nào đó, danh sách tất cả
các khoản tín dụng đang còn số d với hạn mức, mức giải ngân và tính toán mức vốn tự
có làm cơ sở đánh giá việc các khoản tín dụng lớn đó có vợt mức quy định hay không.
Lu ý tới danh sách các khoản vay gặp khó khăn hoàn trả, các khoản cho vay phải
điều chỉnh giá trị, danh sách khách hàng khấu chi ở một mức giới hạn nào đó
- Trong thực tế, khả năng thực hiện kiểm toán nghiệp vụ tín dụng với một lợng
mẫu các khoản vay là rất cao vì khối lợng nghiệp vụ này ở ngân hàng là rất lớn và có ở
các chi nhánh của một ngân hàng. Việc chọn mẫu, do vậy, cần phải tuân theo các
nguyên tắc chung trong kĩ thuật xác suất thống kê. Ngay cả trong trờng hợp tỷ trọng
của các mẫu đợc chọn trên tổng d nợ đạt ở mức cao nhất thì khó khăn cho các kiểm
toán viên luôn luôn sẽ là bằng cách để ngoại suy từ kết quả của kích thớc mẫu để đánh
giá tổng thể nợ vay?
Thông thờng các khoản tín dụng lớn, có nhiều rủi ro, hoặc khoản tín dụng phải
trích lập dự phòng rủi ro ở phạm vi lớn, hoặc khoản tín dụng đặc biệt sẽ đợc kiểm toán
toàn diện. Các khoản tín dụng khác thờng đợc kiểm toán theo xác suất.
Các lĩnh vực cần đợc kiểm toán trong toàn bộ hoạt động tín dụng sẽ đợc lựa chọn
tuỳ thuộc vào mục đích kiểm toán từng thời kỳ và yêu cầu của Ban giám đốc ngân
hàng. Các lĩnh vực phải kiểm toán trong kiểm toán tín dụng thờng là: tổ chức thực hiện
nghiệp vụ về cơ cấu tổ chức và quy trình vận hành; đảm bảo tín dụng, ý thức thanh
toán và tình trạng kinh tế của khách hàng vay vốn có ảnh hởng đến khả năng trả nợ.
b. Lập kế hoạch nhân sự và thời gian
Kế hoạch nhân sự cần nêu rõ sự phân công kiểm toán viên cho từng lĩnh vực kiểm
toán. Sự phân công cần dựa trên trình độ chuyên môn sâu về lĩnh vực kiểm toán, thậm
chí có thể ở một lĩnh vực rất nhỏ nh chuyên sâu về kiểm toán đầu t bất động sản, về
đầu t theo dự án và phải đảm bảo thực hiện nguyên tắc bốn mắt trong quá trình
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
kiểm toán. Trong trờng hợp đặc biệt nếu kiểm toán viên cha có đủ trình độ chuyên sâu
về lĩnh vực cần đánh giá hoặc nếu đào tạo sẽ kém hiệu quả, chẳng hạn lĩnh vực định
giá tài sản, cần có kế hoạch mời các chuyên gia về lĩnh vực này.
Kế hoạch về thời gian cần đợc xác định cho phù hợp với từng bớc kiểm toán để
đảm bảo công việc đợc tiến hành nhanh chóng nhng không sơ sài vì lý do thiếu thời
gian. Do nghiệp vụ tín dụng có khối lợng lớn, nên theo kinh nghiệm của các công ty
kiểm toán nớc ngoài, công việc thờng đợc bắt đầu vào khoảng tháng 9 hoặc tháng 10
hàng năm. Vào thời gian này, kiểm toán viên sẽ tập trung đánh giá hệ thống kiểm soát
nội bộ và các nghiệp vụ phát sinh trong 9 tháng đầu năm. Sang năm sau, khi báo cáo
tài chính năm đã lập xong, kiểm toán viên sẽ kiểm tra số liệu còn lại. Nh vậy sẽ không
gặp phải tình trạng thiếu thời gian dẫn đến áp lực công việc lớn làm tăng khả năng rủi
ro kiểm toán.
3.2. Thực hiện kiểm toán
3.2.1. Tài liệu ban đầu phục vụ cho kiểm toán tín dụng
Các tài liệu ban đầu cần thu thập đợc để làm cơ sở cho hoạt động kiểm toán tín
dụng thờng có:
- Các văn bản quy định khung về hoạt động tín dụng, các văn bản hớng dẫn về
nội bộ ngân hàng về hoạt động này.
- Kế hoạch kinh doanh của ngân hàng.
- Phân loại tín dụng do ngân hàng hay một công ty xếp hạng tín dụng thực hiện.
- Hồ sơ về cơ cấu tín dụng.
- Kết quả thanh tra, kiểm toán kỳ trớc.
3.2.2. Kiểm toán hệ thống kiểm soát nội bộ
Để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên cần xem xét tổng quan về
tổ chức cơ cấu của bộ phận tín dụng và tổ chức quy trình làm việc của bộ phận này, bởi
vì sơ đồ tổ chức cho chúng ta nhận biết cách thức mà một ngân hàng áp dụng để theo
dõi hoạt động tín dụng cũng nh theo dõi diễn biến rủi ro trong kinh doanh. Mỗi một
ngân hàng sẽ có một cách tổ chức cơ cấu bộ phận tín dụng khác nhau và vì vậy sẽ có
cách thức tổ chức kiểm soát nội bộ nghiệp vụ tín dụng khác nhau.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cũng cần ghi nhận thực trạng môi trờng kiểm soát nội bộ trong ngân hàng vì nếu
môi trờng kiểm soát nội bộ thuận lợi, kiểm toán viên có thể sử dụng đợc kết quả của
kiểmtoán nội bộ trong quá trình kiểm toán nội bộ trong quá trình kiểm toán.
Các công cụ giúp kiểmtoán viên thực hiện kiểm toán hệ thống kiểm soát nội bộ
là: các tài liệu hiện có ở ngân hàng quy định về việc thực hiện các giao dịch tín dụng,
đánh giá qua việc phỏng vấn cán bộ tín dụng, qua kết quả trả lời bảng câu hỏi, đồ thị
quy trình nghiệp vụ tín dụng Tuy nhiên, việc sử dụng danh mục câu hỏi có thể gặp
trở ngại nếu ngời đợc hỏi không muốn trả lời đúng sự thực.
Kiểm toán viên cần tiến hành kiểm toán hệ thống kiểm soát nội bộ bằng phơng
pháp hệ thống để xác định xem hệ thống kiểm soát nội bộ có phù hợp với tình trạng lý
tởng đã đợc dự định hay không bằng cách xác định tình trạng lý tởng cần đạt đợc với
hệ thống hiện có và phân tích đánh giá những điểm khác biệt, những điểm mạnh, điểm
yếu của hệ thống
Khi tìm hiểu bất kỳ một quy trình nghiệp vụ nào, ví dụ quy trình cấp tín dụng,
quy trình quản lý hạn mức tín dụng kiểm toán viên luôn phải tìm xem trong quy trình
đó chốt kiểm tra đợc cài đặt ở điểm nào? Quy trình còn thiếu chốt kiểm tra nào? ở mỗi
chỗ kiểm tra nh vậy có quy định rõ bằng văn bản ai là ngời chịu trách nhiệm thực hiện
kiểm tra, cách thức kiểm tra không Để đ a ra những nhận xét về một quy trình đòi hỏi
kiểm toán viên phải đọc đợc quy trình và hình dung xem nếu mình là ngời thực hiện
quy trình thì có làm đợc không, trao đổi với cán bộ tín dụng để xem họ có nắm đợc quy
trình nghiệp vụ hay không
(1) Xem xét đơn xin vay vốn của khách hàng
Xem xét đơn chính là quá trình thu thập, kiểm tra các thông tin cần thiết về
khách hàng, lập hồ sơ tín dụng để làm cơ sở cho việc ra quyết định tín dụng.
Với những hồ sơ tín dụng đã đợc lựa chọn để kiểm tra số lợng hồ sơ lựa chọn,
loại hồ sơ lựa chọn tuỳ thuộc đánh giá của kiểm toán viên về kết quả hoạt động kiểm
soát nội bộ và mức độ rủi ro phát hiện đợc chấp nhận kiểm toán viên cần:
- Kiểm tra xem các quy định về thẩm quyền đợc tiếp nhận, xem xét đơn đề nghị
cấp tín dụng có đợc thực hiện nh trong các văn bản hớng dẫn nghiệp vụ hay không?
- Kiểm tra lại nội dung văn bản xem xét giải quyết cho vay, chú ý những yêu cầu
đối với những hồ sơ chứng minh khả năng chi trả nh các số liệu về tình hình sản xuất,
kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, vốn tự có yêu cầu đối với đảm bảo tín dụng.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Kiểm tra cách sử dụng các mẫu biểu tín dụng đợc tiêu chuẩn hoá, nội dung của
mẫu biểu để đảm bảo rằng không một bớc nào trong quá trình xét duyệt bị bỏ xót. Để
thực hiện kiểm tra kiểm toán viên có thể lấy ra một số phiếu xét duyệt để theo xác suất
để xem xét, đặt ra các tình huống để đánh giá cách xử trí của cán bộ tín dụng khi sử
dụng mẫu biểu thống nhất.
-Việc đảm bảo nguyên tắc bốn mắt trong quá trình xét cấp tín dụng.
Đối với cho vay bất động sản, kiểm toán viên cần có sự quan tâm đặc biệt bởi vì
khi cho vay lĩnh vực này ngân hàng sẽ có thể gặp những sai lầm sau:
-Thông tin về ngời vay và các công trình sẽ tài trợ không đầy đủ.
-Hồ sơ tín dụng không đầy đủ hoặc không đủ sức thuyết phục.
-Các đánh giá về công trình sự án không đủ.
-Thiếu sự minh bạch, rõ ràng trong tình hình kinh tế của ngời vay vốn.
-Trình độ cán bộ không tơng ứng với nhu cầu đặc thù của nghiệp vụ tín dụng
này.
(2) Quyết định cho vay, cam kết cho vay và giải ngân.
-Tập hợp danh sách khách hàng vay có liên quan với nhau để đánh giá xem ngân
hàng có biện pháp đảm bảo việc cấp tín dụng cho các khách hàng có quan hệ phụ
thuộc nhau là cấp tín dụng cho một đơn vị khách hàng không? Hoặc ngân hàng có lu ý
đến thông tin kinh tế của các khách hàng có mối quan hệ kinh tế ràng buộc nhau, tuy
về mặt quan hệ pháp lý là hai chủ thể hoàn toàn khác nhau, để coi hai khách hàng này
thành một đối tợng khi ra quyết định cấp tín dụng không.
- Kiểm tra việc chấp hành các quy định về thẩm quyền cho vay, tôn trọng hạn
mức cho vay chung cũng nh giới hạn cho từng loại tín dụng
- Kiểm tra hình thức và nội dung của cam kết cho vay, cách ghi chép thể hiện quá
trình ra quyết định tín dụng
- Kiểm tra cách thức giải ngân và điều kiện giải ngân, chẳng hạn ngân hàng chỉ
giải ngân khi đã hoàn tất việc thế chấp tài sản trớc đó nếu khách hàng vay vốn với điều
kiện phải có tài sản thế chấp.
(3) Giám sát tín dụng
Kiểm tra việc sử dụng vốn vay là công việc cần phải đợc các cán bộ tín dụng thực
hiện nghiêm túc, vì chỉ có kiểm tra mới có thể biết đợc rằng khách hàng sử dụng vốn
vay nh thế nào? Có gì thay đổi làm tăng khả năng xảy ra rủi ro cho ngân hàng không?
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Kiểm toán viên cũng cần quan tâm đến hoạt động giám sát tín dụng này. Các nội
dung cần đợc kiểm toán viên kiểm tra là:
- Phạm vi và thời điểm của hoạt động giám sát thờng xuyên đợc quy định và thực
hiện nh thế nào? Hoạt động giám sát thờng xuyên có đợc thực hiện ngay cả với những
khoản vay trả nợ đúng hạn không?
- Các yêu cầu ghi trong hồ sơ giám sát có đợc thực hiện đầy đủ không? Việc lập
và sử dụng các mẫu biểu giám sát có hợp lý không?
- Việc thu thập các thông tin bổ sung về khách hàng, về môi trờng có đợc cán bộ
tín dụng quan tâm không, vì chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong doanh nghiệp, trong
môi trờng kinh tế, môi trờng pháp lý đều có thể có tác động đến rủi ro tín dụng. Các
cán bộ của bộ phận tín dụng có thiết lập chế độ thông báo, nhắc nhở các khách hàng về
trách nhiệm thanh toán các khoản nợ không?
(4) Quản lý hồ sơ và lu giữ tài sản thế chấp
Kiểm toán viên cần quan tâm đến trật tự sắp xếp hồ sơ tín dụng và cách bảo quản
hồ sơ tín dụng để đảm bảo rằng hồ sơ tín dụng luôn có đợc sự an toàn.
Kiểm toán viên cũng cần dành sự chú ý của mình vào việc kiểm tra cách thức
quản lý hồ sơ các tài sản thế chấp và bảo quản, khai thác các tài sản thế chấp, vì ngân
hàng phải chịu trách nhiệm vì sự thất thoát các tài sản này mặc dù nó cha thuộc quyền
sở hữu của ngân hàng.
(5) Kiểm toán đảm bảo tín dụng
Kiểm toán tài sản đảm bảo để xác định khối lợng và giá trị tài sản thực tế so với
số liệu ghi chép trên sổ sách, hồ sơ vay cũng là công việc cần thiết của kiểm toán viên.
Để xác định khối lợng tài sản đảm bảo tín dụng là có thực và khi cần ngân hàng
có quyền phát mại tài sản đó, kiểm toán viên cần kiểm tra các trích lục sổ địa chính,
trích lục tài khoản lu ký, các thông báo hoặc hợp đồng chuyển nhợng
Kiểm toán viên cũng cần xác định doanh thu phát mại dự kiến của tài sản thế
chấp tại thời điểm kiểm toán để lợng định rủi ro thất thoát giá trị tài sản. Đặc biệt trong
trờng hợp cấp tín dụng đầu t vào bất động sản thì việc kiểm tra hiện trờng, đánh giá
tiến độ và xem xét tiền vay có đợc sử dụng đúng không là rất cần thiết.
(6) Kiểm toán việc xử lý các khoản nợ có vấn đề
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, ngân hàng có thể gặp phải các khoản nợ
có vấn đề. Định nghĩa về khoản nợ có vấn đề có thể khác nhau do cách nhìn nhận, cách
đánh giá giá trị của các khoản nợ của ban lãnh đạo ngân hàng. Tuy nhiên việc xác định
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
một khoản nợ là có vấn đề không nên lệ thuộc vào việc khách hàng đã trễ hạn nợ bao
nhiêu lâu, mặc dù đây là một dấu hiệu cần thiết mà quan trọng là cần xem xét khách
hàng đang ở trong tình trạng tài chính nh thế nào.
Điều quan trọng là cách thức xử lý nợ có vấn đề của Ban lãnh đạo ngân hàng bởi
vì việc theo dõi, xử lý nợ có vấn đề ảnh hởng lớn đến tình hình tài chính của ngân
hàng.
Khi tiến hành kiểm toán nghiệp vụ này, kiểm toán viên cần quan tâm đến các vấn
đề sau:
- Việc thực hiện các quy định về thẩm quyền xử lý các khoản nợ có vấn đề.
- Định nghĩa về khoản nợ có vấn đề của Ban lãnh đạo ngân hàng.
- Cách thức tiến hành việc trích lập các khoản dự phòng cần thiết, tính hợp lý của
các khoản dự phòng đã trích lập, cách thức tiến hành việc xoá sổ các khoản nợ đợc coi
là không có khả năng thu hồi vốn hoặc quá tốn kém trong việc thực hiện các thủ tục
pháp luật.
- Quy định của ngân hàng về trách nhiệm lập báo cáo các khoản nợ có vấn đề,
hình thức báo cáo, mức độ của báo cáo
Sau khi đã có những nhận xét chung, kiểm toán viên cần thực hiện các thử
nghiệm cụ thể bằng các kiểm tra riêng lẻ một vài trờng hợp cấp tín dụng để có các
bằng chứng kiểm toán thích hợp cho đánh giá của mình về hệ thống kiểm soát nội bộ.
Khi tiến hành kiểm tra các trờng hợp riêng lẻ, kiểm toán viên cần so sánh việc thực
hiện các bớc trong quy trình cấp tín dụng, các tiêu chí phân loại khách hàng, cách thức
cũng nh các bớc tiến hành phân loại khách hàng, quy trình kiểm tra, đánh giá tài sản
thế chấp đã đ ợc thực hiện trong thực tế với quy định sẵn có. Kiểm toán viên cũng cần
phân tích đánh giá cả hai tình trạng: các quy định đã đặt ra và việc thực hiện các quy
định đó để rút ra nhận xét về u nhợc điểm của từng cơ chế.
Sau khi kết thúc kiểm toán hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên cần đa ra
nhận xét về tính chính xác, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ áp dụng tại ngân
hàng và những đề nghị đối với các lĩnh vực cần đợc cải thiện
Sau khi tiến hành kiểm toán hệ thống kiểm soát nội bộ, kế hoạch kiểm toán có thể
đợc điều chỉnh lại cho phù hợp với thực tế, vì rủi ro kiểm toán thực tế là rất khó có thể
xác định đợc cụ thể.
14

Xem chi tiết: v2604


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét