"khoẻ" nếu có "bệnh" thì đa ra các giải pháp hữu hiệu giúp cho doanh nghiệp đa
ra các giải pháp hữu hiệu
- b- Xét về khía cạnh con ngời
- Về số lợng đội ngũ cán bộ và chức danh kiểm toán viên còn thiếu trầm
trọng so với nhu cầu công việc
- Về chất lợng đội ngũ kiểm toán viên phần lớn cha đợc bồi dỡng cơ bản và
bài bản về chuyên môn nghiệp vụ và các kiến thức liên quan.Mặc dù đã đợc đào
tạo chính quy chuyên ngành về kế toán, tài chính và một số chuyên ngành kinh
tế kỹ thuật khác , họ có kinh nghiệm vè công tac kế toán , tài chính Nhng vẫn
cha đáp ứng đợc yêu cầu kiến thức về kiểm toán .Bởi vì kiểm toán là một hoạt
động nghề nghiệp đòi hỏi phải có sự đào tạo chuyên môn nghiệp vụ , phong
cách , kỹ năng , kỹ xảo thành thục trớc khi thực thi nhiệm vụ
- Một điểm nữa cần lu ý đó là những tri thức ứng dụng khoa học kỹ thuật
hiện đại trong kiểm toán cha đợc áp dụng . Hiẹn nay tại Việt nam cũng có rất
nhiều công ty đa áp dụng hình thức kế toán máy nên đã giảm một khối lợng lớn
công việc ghi chép, giữ sổ và lập báo cáo nh trớc đây. Tuy nhiên đội ngũ kiểm
toán viên độc lập cũng cha đợc đào tạo để thích ứng với yêu cầu kiểm toán
trong môi trờng máy vi tính
- c- Vì đạo đức nghề nghiệp các tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên không
đợc tự quảng cáo công khai về mình dới bất cứ hình thức nào nhng không phải
vì thề mà kiểm toán viên không đợc chủ động tiếp cận khách hàng tìm hiểu nhu
cầu và đề xuất các dịch vụ thiết thực mang lại hiệu qủa cao cho khách hàng .
Chính điều này cũng đã làm cho nhiều khách hàng cha đến với các tổ chức
kiểm toán Việt nam
3- Vì hoạt động kiểm toán ở nơc ta còn mới mẻ , kiến thức chuyên môn còn
hạn hẹp nên nhận thức của công chúng và những ngời quan tâm cha thực sự tin
tởng vào chất lợng công việc của kiểm toán cũng nh vai trò của kiểm toán .
Điều đó đã làm hạn chế đến sự phát triển của kiểm toán
- Trừ những đơn vị kế toán có sự tham gia quản lý của nớc ngoài , hầu hết
những ngời quản lý ở các đơn vị cha hiẻu hết mục đích của hoạt động kiểm toán
, cha thấy đợc lợi ích thiết thực từ những t vấn của kiểm toán viên .
- Nhiều doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp nhà nớc , công ty t
nhân , công ty cổ phần , cha muốn tiết lộ những thông tin thực về hoạt động của
doanh nghiệp mình cho ngời khác , trừ khi bị bắt buộc hoặc khi doanh nghiệp
có sự cố
-Vì vâỵ mà khách hàng của các tổ chức kiểm toán Việt nam hiện nay chủ
yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài,liên doanh với nớc ngoài , các
tổ chức viện trợ hoặc tiếp nhận viện trợ ( là những tổ chức bị bắt buộc phải kiểm
toán ), một số doanh nghiệp khác có sự cố tài chính
iII. một số giải pháp để nâng cao chất lợng kiểm toán
báo cáo tài chính
Dù ở phơng diện xu thế phát triển , phơng diện môi trờng kiểm toán , môi
trờng quiản lý hay là nhu cầu tự thân thì việc nâng cao chất lợng kiểm toán đã
nổi nên nh một nhu cầu bức xúc , nếu không nói là đã trở thành một đòi hỏi
khách quan , một sự thách thức có tầm quan trọng lớn trên con đờng tự đổi mới
và hoàn thiện hoạt động kiểm toán .
Muốn có chất lợng kiểm toán cần phải có những yếu tố đảm bảo :
1. Yếu tố về công cụ pháp lý
tức là các luật và các văn bản pháp quy phải đầy đủ , rõ ràng , dễ hiểu khi điều
chỉnh các quan hệ kiểm toán và cả khi điều chỉnh các hoạt động của đối tợng
kiểm toán
2-Phải xây dựng chuẩn mực kiểm toán đợc nghiên cứu công phu làm chỗ
dựa hành nghề cho kiểm toán viên
làm thớc đo đánh giá chất lợng kiểm toán . Chuẩn mực này phải là một hệ thống
các tiêu chuẩn khoa học , khách quan , phù hợp với môi trờng pháp lý và điều
kiện quản lý của Việt nam , lại phù hợp với những chuẩn mực chung đã đợc
quốc tế thừa nhận
3- Đào tạo và bồi dỡng đội ngũ kiểm toán viên
- Với sự đòi hỏi của thực tế phải có một đội ngũ kiểm toán viên
- Có đủ t cách và trình độ chuyên môn cao , phù hợp với yêu cầu kiểm toán .
Sự chính trực , lơng tâm nghề nghiệp và trình độ am hiểu về luật pháp , về quản
lý tài chính về nghiệp vụ kế toán và kiểm toán có ý nghĩa quyết định chất lợng
hoạt động của mỗi kiểm toán viên nói riêng cũng nh của cả cuộc kiểm toán nói
chung .
- Thứ nhất : Thống nhất quan điểm về đào tạo đối tợng kiểm toán
- Có ý kiến cho rằng trong các trờng đại học tài chính kế toán , các trờng
kinh tế có thể hình thành chuyên ngành "đào tạo kiểm toán" có ý kiến khác lại
cho rằng nghề kiểm toán không thể đào tạo cùng một lúc , song song với các
chuyên ngành khác trong nhà trờng , đối tợng đào tạo kiểm toán phải là giai
đoạn nâng cao tiếp theo đối với những sinh viên đã tốt nghiệp đại học hoặc đã
trải qua chuyên ngành kế toán .Còn theo quan điểm của mình ngời viết nhgiêng
về ý kiến thứ hai sở dĩ nh vậy là vì đối với kiểm toán viên là rất cao họ không
chỉ có phẩm chất đạo đức tốt mà họ còn phải có vốn kiến thức kinh tế xã hội
chuyên môn nghiệp vụ pháp luật am hiẻu các thông lệ quốc tế và đặc biệt phải
có vốn thực tế từng trải mới có thể độc lập xử lí đợc những tình huống phức tạp
diễn ra trong hoạt động kiểm toán
- Thứ hai:cần xây dựng mục tiêu trơng trình đào tạo và bồi dỡng thống
nhất trong toàn quốc về bồi dỡng và đào tạo kiểm toán viên .Để thực hiện đợc
giải pháp này bộ tài chính có thể chủ trì thành lập hội đồng gồm các thành viên
có liên quan
- để biên soạn mục tiêu chơng trình đào tạo và bồi dỡng kiểm toán viên
thống nhất toàn quốc
- Thứ ba:Sau khi có trơng trình thống nhất chúng ta có thể cho phép "tự do
hoá " việc đào tạo và bồi dỡng cán bộ kiểm toán .Xung quanh vấn đề này ,có ý
kiến cho rằng nhà nớc nên khống chế chỉ cho một số trờng đại học đợc phép
đào tạo cán bộ kiểm toán nhng chúng tôi cho rằng nh vậy sẽ làm giảm mức độ
cạnh tranh mà nên để nhiều trờng đợc phép đào tạo trong lĩnh vực này để tạo ra
sự ganh đua giữa các trờng cũng nh giữa các sinh viên học chuyên ngành kiểm
toán trong các trờng đó
- Thứ t:Xây dựng hệ thống tài liệu phục vụ giảng dạy học tập bao gồm các
giáo trình lí thuyết các bài giảng thực tiễn các tình huống và quy trình kiểm
toán các văn bản pháp luật Đồng thời đổi mới phơng pháp giảng dạy nhằm
nâng cao chất lợng và hiệu quả đào tạo ,bồi dỡng ,đào tạo một đội ngũ giáo viên
.Hơn nữa ,qua đào tạo các chuyên gia giảng dạy có thể tác động tới những sinh
viên giỏi tham gia vào công tác kế toán kiểm toán
- Thứ năm:Đổi mới công tác tuyển chọn cán bộ đầu vào nhằm cả vào hai đối
tợng: Chỉ lựa chọn cán bộ cũ có đủ điều kiện và thi tuyển kiểm toán viên từ
những sinh viên u tú của các trờng đại học để bồi dỡng thành một lớp kiểm toán
viên giỏi phù hợp với yêu cầu mới và có đủ khả năng đảm trách nhiệm vụ lâu
dài
- Thứ sáu:Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về đào tạo bồi dỡng kiểm toán
viên giúp kiểm toán viên có cơ hội và điều kiện hội nhập với quiốc tế từ đó có
thể học hỏi kinh nghiệm từ các nớc có nền kiểm toán phát triển nh
:Đức,Malayxia ,Nhật ,Anh mối quan hệ quốc tế đó sẽ góp phần nâng cao chất
lợng đào tạo và nghiên cứu khoa học phục vụ cho hoạt động kiểm toán
- Tóm lại đào tạo và bồi dỡng đội ngũ kiểm toán viên là vấn đề quan trọng
và bức bách của hoạt động kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng .
Muốn đào tạo đội ngũ kiểm toán viên có năng lực trí tụê hoạt động có hiệu quả
thì phải có chiến lợc và việc xây dựng tiềm lực cho công tác đào tạo và bồi dỡng
. Điều đó sẽ đóng góp vào sự phát triển của đội ngũ kiểm toán viên trong tơng
lai.
4. Thời gian giá phí chất l ợng kiểm toán:
Chất lợng sản phẩm là một khái niệm tơng đối, biến đổi theo thời gian , không
gian, theo sự phát triển của nhu cầu xã hội và sự biến đổi của khoa học kỹ thuật.
Vậy chất lợng dịch vụ kiểm toán đợc đánh giá nh thế nào ?Chất lợng dịch vụ
kiểm toán là mức độ thoả mãn mong muốn có đợc ý kiến xác đáng và đảm bảo
bí mật về đối tợng kiểm toán của các đối tợng sử dụng thông tin đợc kiểm toán
đồng thời thoả mãn ớc muốn về những đóng góp của kiểm toán vẫn nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý kế toán tài chính theo chế độ chính sách Nhà nớc của chủ
thể sử dụng dịch vụ kiểm toán với thời gian định trớc và mức giá phù hợp
.*(Theo định nghĩa của Ngô Đức Long :Về chất lợng kiểm toán tạp chí Kế
toán số 14/98).
Từ khái niệm này chất lợng kiểm toán dợc đánh giá thông qua 3 chỉ tiêu :
Chỉ tiêu 1 : Mức độ xác đáng của ý kiến nhận xét về đối tợng kiểm toán và
đảm bảo tính bí mật thông tin.
Chỉ tiêu 2 : Mức độ thoả mãn mong muốn về sự đóng góp của KTV cho chủ
thể sử dụng dịch vụ kiểm toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kế toán tài
chính theo đúng chế độ chính sách Nhà nớc .
Chỉ tiêu 3 : Đảm bảo đúng thời gian đã đề ra một cách hợp lý và giá phí phù
hợp.
Giá phí và thời gian kiểm toán là một chỉ tiêu trong ba chỉ tiêu đánh giá chất l-
ợng kiểm toán. Nó gắn liền với 2 chỉ tiêu còn lại , thể hiện sự chọn trong việc sử
dụng vốn về quản lý chi phí của doanh nghiệp thực hiện kiểm toán.
Thời gian đủ cần thiết để đảm bảo thực hiện cuộc kiểm toán là khoảng thời gian
không quá dài, làm tăng chi phí lao động ảnh hởng đến hiệu quả kinh tế của tổ
chức kiểm toán nhng không thể quá ngắn chỉ để thực hiện một số bớc công việc
cần thiết nhằm đảm bảo cho ý kiến của mình, đồng thời phải kịp thời, phù hợp
với yêu cầu về thời gian sử dụng các thông tin đợc kiểm toán. Thời gian tiến
hành kiểm toán dài hay ngắn phụ thuộc giá phí mà khách hàng có thể trả và giá
phí kiểm toán là yếu tố đầu tiên tác động đến đơn vị khách hàng lựa chọn mời
công ty kiểm toán nào.?
Để nâng cao chất lơng kiểm toán thì KTV và công ty kiểm toán phải đặt giá phí
kiểm toán ở mức độ phù hợp với thu nhập của các doanh nghiệp Việt Nam trong
một khoảng thời gian kiểm toán phù hợp.
5. Một số kinh nghiệm rút ra qua kiểm toán ở Việt Nam (của một số công
ty kiểm toán ) nhằm nâng cao chất lợng kiểm toán báo cáo tài chính:
Đối với các nớc khác , kiểm toán độc lập báo cáo tài chính là bắt buộc nhng ở
Việt Nam do hoạt động kiểm toán còn mới mẻ cho nên Nhà nớc cha bắt buộc
mọi doanh nghiệp phải đợc kiểm toán và do doanh nghiệp cha hiểu kiểm toán là
gì? , mặt khác, họ không muốn ngời thứ ba can thiệp vào tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Trong thực tế có những doanh nghiệp biết về công việc kiểm
toán và hoạt động của các công ty kiểm toán qua các phơng thức tiến hành kiểm
tra hoạt động tài chính phụ thuộc vào nội dung và yêu cầu của từng hợp đồng
kiểm toán.
Sau đây tôi xin trình bày một số kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện
kiểm toán ở Việt nam:
1. Trong công việc Tìm hiểu khách hàng : Đối với khách hàng thờng xuyên
sau mỗi cuộc kiểm toán công ty phải đánh giá và quan tâm đến những thay đổi
trong kinh doanh của khách hàng và KTV phải bổ sung thêm thông tin vào hồ
sơ thờng trực. Đối với khách hàng mới chấp nhận mời kiểm toán thì trong giai
đoạn tiếp theo phải hoàn thiện hồ sơ thờng trực về khách hàng. Khi thu thập
thông tin về khách hàng phải bố trí những KTV giàu kinh nghiệm và am hiểu
lĩnh vực kinh doanh của khách hàng.
2. Trong việc kiểm tra tính pháp lý của khách hàng, KTV cần phải kiểm tra
chi tiết một số vấn đề sau:
Giấy phép thành lập và điều lệ công ty khách hàng. Đối với công ty liên
doanh có vốn đầu t nớc ngoài cần xem xét:Nguồn vốn đầu t, vốn pháp định,
giấy phép đầu t, tổng số vốn đồng góp, dạng vốn góp và các chứng từ liên quan
đến vốn góp. Trong thực tế, có nhiều công ty liên doanh đã cố tình ghi trùng,
ghi khống số tài sản góp (bên nớc ngoài)vốn ,có nhiều loại ngoại tệ (kỳ này
ngoại tệ này, kỳ sau ngoại tệ khác) làm cho vốn góp tăng lên nhiều lần
Các biên bản họp , các hợp đồng kinh tế quan trọng Từ các tài liệu này có
thể giúp KTV phát hiện đợc lý do thực hiện kiểm toán (để vay vốn ngân hàng,
để ban giám đốc đợc ký hợp đồng tiếp với ban quản trị , ) và nắm vững đ ợc
một cách tổng quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
3. Trong việc lập kế hoạch kiểm toán :Ngời lập kế hoạch (KTV độc lập cao
cấp )phải xác định rõ mục đích kiểm toán, đánh giá rủi ro, tính toán mẫu và
những công việc phải làm, ngoài ra phải giành quỹ thời gian để hớng dẫn , giúp
đỡ đơn vị sửa lại sổ sách, báo cáo và hớng dẫn nghiệp vụ kế toán nếu cần thiết,
cần lựa chọn ngời tham gia cuộc kiểm toán, u tiên những ngời có sự hiểu biết về
lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp và những ngời tham gia kiểm toán đơn vị
(nếu là khách hàng thờng xuyên). Kế hoạch kiểm toán phải đợc trao đổi trong tổ
kiểm toán.
Đối với các hợp đồng lớn kéo dài, khối lợng công việc phải thực hiện nhiều cần
lập kế hoạch chung cho cả đợt và kế hoạch chi tiết theo từng tháng, từng tuần và
có thể cho từng tổ.(Nh bảng kế hoạch của công ty VIBA, Bắc Nam)
4. Trong thực hiện kiểm toán :
Hiện tại, các công ty kiểm toán ở Việt Nam vẫn sử dụng phơng pháp kiểm
toán theo khoản mục , phơng pháp này dễ thực hiện nhng có nhiều hạn chế ,
mức độ rủi ro phát hiện cao . Do giữa từng khoản mục có mối quan hệ chặt chẽ,
liên quan tới nhau mà kiểm toán theo khoản mục lại bỏ qua các quan hệ này.
Theo phơng pháp hiện đại các công ty kiểm toán quốc tế sử dụng là phơng pháp
kế toán theo chu trình, phơng pháp này dựa vào quan hệ chặt chẽ giữa các
khoản mục, các quá trình cấu thành các yếu tố trong một chu trình của hoạt
động tài chính. Để nâng cao chất lợng kiểm toán, các công ty kiểm toán Việt
Nam nên sử dụng phơng pháp này để phát hiện bằng chứng kiểm toán và phân
tích nhằm đa ra kết luận hợp lý về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Bằng chứng kiểm toán là cơ sở quan trọng bậc nhất cho việc đánh giá chất l-
ợng cuộc kiểm toán, nó là cơ sở để kiểm toán viên đa ra những kết luận về báo
cáo tài chính và tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
Trong quá trình kiểm toán , KTV phải thu thập các bằng chứng thông qua các
phơng pháp :
+Ph ơng pháp 1 :Kiểm tra vật chất.
+Ph ơng pháp 2 : Lấy xác nhận.
+Ph ơng pháp 3: Xác minh tài liệu.
+Ph ơng pháp 4 : Quan sát.
+Ph ơng pháp 5 : Điều tra.
+Ph ơng pháp 6 : Tính toán.
+Phơng pháp 7: Phân tích.
Cần lu ý khi bằng chứng kiểm toán cha thật đáng tin cậy thì không đợc sử dụng
vì nó dễ dẫn tới những kết luận sai lầm. Khi có nguồn thông tin đối lập thì phải
mở rộng diện điều tra Hết sức cẩn thận khi xét đoán những bằng chứng kiểm
toán có tác dụng khẳng định kết luận này nhng phải phủ định kết luận khác.
Trong việc phân tích và đánh giá cần phải phân bổ tính trọng yếu cho từng
khoản mục. Dựa vào các bằng chứng thu đựoc để phân tích đánh giá, điều quan
trọng là sử dụng hệ thống các tỷ suất tài chính để phân tích, đánh giá tình hình
tài chính của doanh nghiệp. Đối với những khoản mục không có đủ bằng chứng
cần phải thu thập thêm hoặc từ chối đa ra kết luận đối với khoản mục đó.
5. Một vấn đề hết sức quan trọng ảnh hởng đến chất lợng kiểm toán đó là mối
quan hệ giữa KTV và các đối tợng khác trong quá trình thực hiện kiểm toán:
Quan hệ KTV với trợ lý:Trong quá trình kiểm toán, KTVphải giám sát,
kiểm tra các phần việc của trợ lý đợc giao. Và tự thân thẩm định kết luận
các t liệu đó có sử dụng đợc không. Nếu những t liệu của trợ lý đợc sử
dụng mà dẫn đến sai phạm trọng yếu thì KTV phải chịu trách nhiệm trớc
pháp luật.
Quan hệ KTV với chuyên gia :Trong trờng hợp đặc biệt , KTV có thể
phải xin ý kiến chuyên gia. Nếu ý kiến của chuyên gia là thiếu khách
quan, KTV có thể thay chuyên gia khác và có thể trích dẫn ý kiến của
chuyên gia nếu đợc sự đồng ý của chuyên gia hoặc cấp trên.
Quan hệ KTV với khách hàng: Là quan hệ xuyên suốt cuộc kiểm toán.
Khách hàng là thợng đế nhng lại bị kiểm tra, phỏng vấn những câu hỏi mà
họ không muốn trả lời, kể cả cấp cao nhất của doanh nghiệp. Song KTV
không làm hết chức năng của mình thì sẽ phải chịu trách nhiệm trớc pháp
luật.
Quan hệ của KTV với KTV nội bộ.
Quan hệ của KTV với các KTV khác.
Quan hệ KTV với ngời thứ ba:Trong nhiều trờng hợp KTV phải gặp
trực tiếp hoặc xác nhận qua th với ngời thứ ba để xác minh các thông tin
về tài chính của doanh nghiệp. Khi lấy ý kiến của ngời thứ ba, KTV phải
có văn bản có chữ ký xác nhận hoặc chứng từ gốc để khi cần thiết có thể
truy cứu trách nhiệm.
Nguyên tắc cơ bản nhất đối với mọi KTV là tính độc lập, nó đợc thể hiện qua t
thế, tác phong và bản lĩnh nghề nghiệp. Song nó không đồng nghĩa với việc
KTVchỉ thông qua chứng từ sổ sách để có thể đ a ra ý kiến kết luận vì bất cứ
cuộc kiểm toán nào cũng không đủ thời gian, chi phí cho KTV làm việc này.
Mỗi KTV phải tranh thủ và thu thập thông tin, tài liệu của mọi ngời liên quan ở
trên . Do vậy, mối quan hệ giữa KTV với những ngời này ảnh hởng tới chất lợng
cuộc kiểm toán và tuân thủ các chuẩn mực đã đề ra. KTVgiải quyết tất cả các
quan hệ này và kết hợp với tính độc lập của một ngời kiểm toán viên sẽ nâng
cao chất lợng của cuộc kiểm tóan.
iv. kết luận: Tóm lại trong một nền kinh tế đang chuyển đổi , tuy còn nhiều vấn
đề là những cản ngại cho quiá trình phát triển thị trờng kiểm toán nhng đồng
thời nó cũng mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp nói chung và
các công ty kiểm toán độc lập nói riêng . Đó là mảnh đất màu mỡ đang chờ đợi
các công ty kiểm toán độc lập lựa chọn giống tốt để gặt hái thành công .
Bảng kế hoạch kế toán 1:
Kế hoạch kiểm toán
Công trình vô tuyến chuyển tiếp HN-TP HCM
(Viba Bắc-Nam) Năm 1995.
Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11
Sắp xếp lại - Thẩm tra hồ - Thẩm tra hồ - Thẩm tra
- T vấn biểu
các hạng mục
công
trình( dựa vao
dự toán chi
tiết đã duyệt).
+ Thẩm tra
hồ sơ quyết
toán từ HN
đến
Vinh( thiết
kế, dự toán,
quyết toán).
+ Đi thực tế
tuyến:
HN-Ninh
Bình-Thanh
Hoá-Vinh-hà
Tĩnh.
Cuối tháng
họp tổ rút
kinh nghiệm.
Lập kế hoạch
kinh tế tháng
8/95
sơ quyết toán
từ Hà Tĩnh
đến Nam Kì.
- Theohạng
mục công
trình:
+ Cột ăng
ten-Đờng
giao thông.
+ Lắp máy-
KTCb khác
+ HT điện-
đền bù, KS.
- Đi thực tế:
Huế-Đà
Nẵng-Tam
Kì-Quảng
Ngãi.
- Cuối tháng
hop tổ rút
kinh nghiệm.
- Lập kế
hoạch tháng
9/95
sơ quyết toán
từ Quảng
NgãI đến
thành phố Hồ
Chí Minh.
Theo hạng
mục công
trình:
- Đi thực tế
tuyến:
+ Quy Nhơn-
Nha Trang-
Phan Thiết-
Tân Minh-
Xuân Lộc-TP
HCM.
-Cuối tháng
họp tổ rút
kinh nghiệm.
-Lập kế
hoạch tháng
10/95
phần xuất vật
t thiết bị và
công trình.
- Lập bảng
cân đối nguồn
vốn đầu t.
- Quyết toán
phần vật t
thiết bị gồm:
+Nhập từ
nguồn nào?
+Xuất :
*Công trình.
*Bàn giao nơi
sử dụng.
+Tồn :
*ở kho
*Thừa thiếu .
-Cuối tháng
họp tổ rút
kinh nghiệm.
-Lập kế
hoạch tháng
11/95
mẫu quyết
toán công
trình.
- Viết báo
cáo kế toán
tổng quyết
toán công
trình vô tuyến
chuyển tiếp
HN-
TPHCM(dự
thảo)
- Làm việc
với ban quản
trị công ty
VTN:Thông
qua báo cáo
kiểm
toán,phát
hành báo cáo
kế toán và
thanh lý hợp
đồng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét