Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Mô hình tổ chức KTNN ở VN trong nền KTTT

1.1.4. Nhiệm vụ của Kiểm toán nhà nước.
Theo quy định của pháp luật, Kiểm toán nhà nước ở những quốc gia khác
nhau có những nhiệm vụ khác nhau, song xét một cách chung nhất, nhiệm vụ và
quyền hạn chung nhất của Kiểm toán nhà nước bao gồm:
1.1.4.1. Thực hiện kiểm toán.
Kiểm toán nhà nước thường thực hiện các cuộc kiểm toán tuân thủ, xem xét
việc chấp hành các chính sách, luật lệ và chế độ của nhà nước tại các đơn vị sử
dụng vốn và tài sản công. Kiểm toán nhà nước cũng thực hiện các cuộc kiểm
toán hoạt động để đánh giá hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý của các đơn
vị công. Để thực hiện nhiệm vụ này, Kiểm toán nhà nước cần thực hiện:
● Lập kế hoạch kiểm toán hàng năm, trình cơ quan có thẩm quyền duyệt;
● Tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán hàng năm đã được phê duyệt và các
nhiệm vụ đột xuất theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
● Kiểm tra, xác minh tính đúng đắn, trung thực, hợp lý của các tài liệu có
liên quan đến ngân sách nhà nước; kiểm tra các thông tin, tài liệu kế toán - tài
chính của các tổ chức, đơn vị sử dụng kinh phí nhà nước, xem xét việc chấp
hành các chế độ, chính sách tài chính, ngân sách, kế toán của nhà nước của nhà
nước;
● Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc sửa chữa, xử lý những sai phạm
của các đơn vị được kiểm toán để chấn chỉnh công tác quản lý tài chính, ngân
sách, chế độ kế toán;
● Quản lý hồ sơ kiểm toán, giữ gìn bí mật thông tin, tài liệu, số liệu kế toán
và thông tin về hoạt động của đơn vị được kiểm toán theo quy định của pháp
luật.
1.1.4.2. Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.
Kiểm toán nhà nước có nhiệm vụ soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh về
Kiểm toán nhà nước, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khác về lĩnh vực
Kiểm toán nhà nước theo thẩm quyền.
5
Kiểm toán nhà nước đóng góp ý kiến với các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trong việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về ngân sách, tài
chính, kế toán.
1.1.4.3. Chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ kiểm toán.
Kiểm toán nhà nước chỉ đạo và hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ kiểm
toán, quy trình, chuẩn mực và phương pháp kiểm toán trong hệ thống kiểm toán
nhà nước.
Kiểm toán nhà nước hướng dẫn về chuyên môn và nghiệp vụ đối với các tổ
chức kiểm toán nội bộ trực thuộc các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, các tổ
chức chính trị - xã hội có sử dụng nguồn kinh phí nhà nước.
1.1.5. Quyền hạn của Kiểm toán nhà nước.
Cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm toán nhà nước ở những nước khác
nhau theo quy định trong pháp luật là khác nhau. Những quyền hạn chung nhất
là:
● Yêu cầu đơn vị được kiểm toán cung cấp các giải trình về các vấn đề có
liên quan đến hoạt động kiểm toán;
● Phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc thu thập tài liệu, bằng chứng;
● Kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền trong các việc:
- Xử lý các đơn vị, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về ngân sách, tài
chính, kế toán;
- Xử lý các tổ chức, cá nhân gây cản trở công việc kiểm toán hay cung cấp
thông tin sai sự thật.
- Chịu trách nhiệm soạn thảo, sửa đổi, ban hành, bổ sung các văn bản pháp
luật về quản lý kinh tế - tài chính, kế toán - kiểm toán.
Ngoài những điểm chung trong nhiệm vụ và quyền hạn, tuỳ theo quy định
trong pháp luật của từng nước, Kiểm toán nhà nước tại mỗi nước còn có những
nhiệm vụ và quyền hạn riêng, ví dụ: Toà thẩm kể của Pháp có quyền xét xử như
một quan toà đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về tài chính - kế
toán, ngân sách.
6
1.1.6. Nguyên tắc hoạt động của Kiểm toán nhà nước.
Để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Kiểm toán
nhà nước cần tuân thủ một số nguyên tắc hoạt động nhất định.
Những nguyên tắc hoạt động cơ bản của Kiểm toán nhà nước:
● Tuân thủ pháp luật, chuẩn mực và quy trình kiểm toán đã được pháp luật
thừa nhận.
● Đảm bảo tính độc lập một cách tương đối: không một tổ chức, cá nhân nào
được phép can thiệp một cách trái pháp luật vào hoạt động của Kiểm toán nhà nước.
● Đảm bảo tính trung thực, khách quan và giữ gìn bí mật nhà nước, bí mật
của các đơn vị, tổ chức được kiểm toán.
● Không gây cản trở hoạt động và can thiệp vào công việc điều hành, quản
lý của đơn vị được kiểm toán.
● Đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động kiểm toán.
1.2. Các mô hình tổ chức bộ máy Kiểm toán nhà nước.
Bộ máy Kiểm toán nhà nước là một hệ thống tập hợp những viên chức nhà
nước để thực hiện chức năng kiểm toán ngân sách và tài sản công.
Như vậy, trong quan hệ với hệ thống bộ máy Nhà nước, KTNN là một phân
hệ thực hiện chức năng kiểm toán; xét trong hệ thống kiểm toán nói chung,
KTNN là một phân hệ thực hiện chức năng kiểm toán đối với một đối tượng cụ
thể là tài sản Nhà nước; xét trong mối quan hệ với kiểm toán viên nhà nước,
KTNN là một hệ thống tập hợp các kiểm toán viên này theo một trật tự xác định
để thực hiện chức năng kiểm toán tài sản công.
Trong hàng loạt những mối liên hệ phức tạp với bộ máy nhà nước, hệ thống
kiểm toán và các kiểm toán viên, đã hình thành nhiều mô hình tổ chức bộ máy
KTNN khác nhau tuỳ theo tính chất và phạm vi của các mối liên hệ đó.
1.2.1. Mô hình tổ chức Kiểm toán nhà nước xét trong mối liên hệ với bộ máy
nhà nước.
1.2.1.1. Mô hình cơ quan Kiểm toán nhà nước được tổ chức độc lập với cơ
quan lập pháp và hành pháp.
Mô hình này (sơ đồ 1.1) được ứng dụng ở hầu hết các nước có nền kinh tế
7
phát triển, có nhà nước pháp quyền được xây dựng nền nếp, hệ thống kiểm toán
đã hình thành từ lâu đời và phát triển ở một trình độ cao (Ví dụ: Kiểm toán nhà
nước Cộng hoà liên bang Đức, Toà Thẩm kế của Cộng hoà Pháp ), nhờ đó
Kiểm toán nhà nước phát huy được đầy đủ tính độc lập trong việc thực hiện các
chức năng của mình.
Sơ đồ 1.1. Mô hình Kiểm toán nhà nước
được tổ chức độc lập với Quốc hội và Chính phủ.
Ghi chú:
1.2.1.2. Mô hình cơ quan Kiểm toán nhà nước trực thuộc cơ quan hành pháp.
Việc tổ chức cơ quan KTNN trực thuộc cơ quan hành pháp (Chính phủ) điều
hành nhanh nhạy quá trình thực hiện ngân sách và các hoạt động khác. Tuy
nhiên, nó cũng hạn chế phần nào tính độc lập của Kiểm toán nhà nước khi thực
hiện chức năng phản biện của Chính phủ.
Việc tổ chức cơ quan KTNN trực thuộc Chính phủ ở các nước khác nhau
cũng không hoàn toàn như nhau. Chẳng hạn, ở Trung Quốc, KTNN được tổ
chức thành một cơ quan hành chính như một bộ, song có quyền kiểm toán các
Bộ máy Nhà nước
Kiểm toán
nhà nước
Toà
án
Quốc
hội
Chính
phủ
Các ban của Quốc hội Các bộ của Chính phủ
Ban hành luật
Bổ
nhiệm
Duyệt ngân sách
Giám sát
Liên hệ trong tổ chức
Quan hệ chỉ đạo
Quan hệ đặt hàng kiểm toán
Quan hệ kiểm toán
8
bộ khác của Chính phủ (kể cả Bộ Tài chính); hoặc, KTNN cũng có thể được tổ
chức như một cơ quan chuyên môn bên cạnh nội các (như ở Nhật Bản,
Indonesia) hay bên cạnh Thủ tướng Chính phủ (Việt Nam trước đây)
1.2.1.3. Mô hình cơ quan Kiểm toán nhà nước trực thuộc cơ quan lập pháp.
Trong mô hình này, cơ quan KTNN là một cơ cấu trực thuộc Quốc hội (có
thể là Thượng viện hoặc Hạ viện), là cơ quan kiểm tra tài chính công cao nhất
của cơ quan quyền lực tối cao.
Với mô hình này, KTNN trợ giúp đắc lực cho nhà nước không chỉ ở kiểm tra
thực hiện pháp luật mà còn cả trong việc soạn thảo và xây dựng các sắc luật liên
quan đến ngân sách, tài chính, kế toán Mô hình này cũng tạo điều kiện tối đa
để có thể độc lập và thực hiện chức năng phản biện đối với Chính phủ, giúp
Quốc hội (cơ quan quyền lực tối cao, đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân
dân) thực thi quyền kiểm soát các hoạt động tài chính của Chính phủ (cơ quan
hành pháp tối cao, trực tiếp vận hành nền tài chính quốc gia).
Tuy nhiên, mô hình này cũng khiến cho cơ quan Kiểm toán nhà nước không
có cơ hội tiếp xúc trực tiếp thường xuyên với sự điều hành và các hoạt động của
Chính phủ, do đó có thể làm chậm đi công tác kiểm toán.
Mô hình cơ quan Kiểm toán nhà nước trực thuộc cơ quan lập pháp được ứng
dụng rộng rãi ở nhiều nước trên khắp thế giới như Anh, Mỹ, Canada
9
Sơ đồ 1.2. Mô hình tổ chức Kiểm toán nhà nước Canada.

1.2.2. Mô hình tổ chức Kiểm toán nhà nước xét theo hình thức tổ chức cơ
quan.
Xét theo hình thức tổ chức, cơ quan Kiểm toán nhà nước có thể được tổ chức
thành “Toà” (Court) hoặc “Văn phòng” (Office).
1.2.2.1. Mô hình kiểm toán Nhà nước được tổ chức thành “Toà”.
Đây là mô hình tổ chức Kiểm toán nhà nước phổ biến tại nhiều nước có nền
kinh tế phát triển ở Tây Âu (Toà Thẩm kế Pháp (Court of Accounts), Kiểm toán
Nhà nước Hà Lan (Netherlands Court of Audit ).
Được tổ chức theo mô hình “Toà”, các cơ quan Kiểm toán nhà nước này độc
lập với cả cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và thường có một địa vị pháp lý
đặc biệt. Ngoài chức năng kiểm toán các đơn vị thuộc khu vực công, Kiểm toán
TOÀN QUYỀN
Quốc hội Thủ tướng
Toà án tối cao
Canada
Toà án Liên
bang Canada
Thượng
viện
Hạ
viện

quan
Kiểm
toán
quốc
gia
Nội các
Văn phòng
Thủ tướng,
Văn phòng

cơ mật
Các
công ty
trong các
ngành
then chốt
Chủ tịch
Ban Ngân
quỹ
Các tổ
chức, ban
ngành
nhà nước
Ban Bí thư
Hội thảo liên
Chính phủ
Các bộ trưởng
Các
uỷ ban,
trưởng
ban
Uỷ ban
Kế toán
Nhà
nước
10
nhà nước còn có thể đóng vai trò quan toà hay công tố viên trong các vụ án xét
xử những vi phạm trong việc quản lý và sử dụng nguồn tài sản quốc gia.
Ví dụ điển hình của Kiểm toán nhà nước được tổ chức theo mô hình này là
Toà Thẩm kế Pháp, phần lớn các kiểm toán viên nhà nước đều là những quan
toà khi tham gia cơ quan kiểm toán nhà nước.
1.2.2.2. Mô hình Kiểm toán nhà nước được tổ chức thành “Văn phòng”.
Đây là hình thức tổ chức Kiểm toán nhà nước phổ biến ở các nước (Ví dụ:
Kiểm toán nhà nước Anh - The UK National Audit Office, Kiểm toán nhà nước
Trung Quốc - National Audit Office Of The People’s Republic Of China ).
Cơ quan Kiểm toán nhà nước được tổ chức theo hình thức “văn phòng” có
thể độc lập với cả Quốc hội và Chính phủ (Cơ quan kiểm toán quốc gia
Australia), hay trực thuộc Quốc hội (Văn phòng Tổng kế toán trưởng Canada),
hoặc trực thuộc chính phủ (Kiểm toán nhà nước Trung Quốc).
Được tổ chức theo hình thức “Văn phòng”, Kiểm toán nhà nước thường chỉ
đảm nhận các chức năng kiểm toán các đơn vị thuộc khu vực công cộng, tư vấn
cho cơ quan hành pháp và lập pháp trong việc đưa ra những quyết định, những
chính sách điều hành nền tài chính công chứ không có chức năng phán xét, xét
xử những sai phạm trong quản lý và sử dụng tài sản và nguồn lực quốc gia.
1.2.3. Mô hình tổ chức Kiểm toán nhà nước xét trong mối quan hệ nội bộ cơ
quan.
Xét về liên hệ nội bộ, cơ quan Kiểm toán nhà nước lại có thể liên hệ theo
chiều dọc (liên hệ dọc) hay liên hệ theo chiều ngang (liên hệ ngang).
1.2.3.1. Liên hệ ngang.
Liên hệ ngang là mối liên hệ nội bộ trong cơ quan kiểm toán cùng cấp (trung
ương, khu vực hay địa phương). Liên hệ này có thể trực tuyến hoặc chức năng.
● Liên hệ trực tuyến: Trong liên hệ trực tuyến, Tổng kiểm toán trưởng (hoặc
Phó tổng kiểm toán được uỷ nhiệm) trực tiếp chỉ huy các hoạt động của kiểm
toán nhà nước.
Liên hệ trực tuyến có điểm ưu việt là đảm bảo lệnh của Tổng kiểm toán
trưởng được chuyển trực tiếp đến các kiểm toán viên, đảm bảo điều hành nhanh
11
nhạy và thông tin ngược xuôi kịp thời. Tuy nhiên, mô hình này chỉ thích hợp
trong điều kiện quy mô kiểm toán và số lượng kiểm toán viên không quá lớn.
Chẳng hạn, điều lệ tổ chức và hoạt động của KTNN(Việt Nam) qui định: " cơ
cấu tổ chức bộ máy giúp tổng kiểm toán nhà nước thực hiện nhiệm vụ được giao
gồm:"
1. Kiểm toán NSNN
2. Kiểm toán Đầu tư xây dựng cơ bản và các dự án vay nợ viện
trợ Chính phủ.
3. Kiểm toán Doanh nghiệp Nhà nước.
4. Kiểm toán Chương trình đặc biệt (an ninh, quốc phòng, dự
trữ quốc gia…).
5. Văn phòng kiểm toán nhà nước.
Tương tự như vậy là mô hình tổ chức của Hội đồng kiểm toán Nhật Bản,
Singapore…
● Liên hệ chức năng: Trong liên hệ chức năng, quyền điều hành công việc
được phân thành nhiều khối, mỗi khối lại chia thành nhiều cấp khác nhau. Mô
hình này thích hợp với bộ máy kiểm toán có quy mô lớn.
Ta có thể lấy cơ quan kiểm toán quốc gia Australia làm ví dụ.
Sơ đồ 1.3. Các mối liên hệ trong cơ quan kiểm toán quốc gia Australia.
1.2.3.2. Liên hệ dọc.
CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Giám đốc các bộ phận
kiểm toán
CB A
Ban
quản

tiềm
lực
Ban
hoạch
định
chính
sách

phát
triển
Ban
công
nghệ
tin
học
Ban
hỗ trợ
quản

12
Liên hệ dọc là mối liên hệ trong nội bộ tổ chức của cơ quan Kiểm toán nhà
nước theo tính chất cấp bậc, có hai mô hình chủ yếu:
● Mô hình cơ quan kiểm toán nhà nước trung ương có mạng lưới ở tất cả các
địa phương. Mô hình này thích hợp với các nước có quy mô lớn, các địa phương
phân bố rộng và phân tán, khối lượng tài sản công tại mỗi địa phương lớn và
quan hệ phức tạp. Đồng thời, mỗi địa phương cũng có khối lượng công sản, tài
sản tương đối đồng đều. Tình hình đó đòi hỏi phải có tổ chức kiểm toán nhà
nước ngay tại địa phương. Kiểm toán nhà nước Trung Quốc tổ chức Sở Kiểm
toán ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước, ngoài ra, các đặc khu hành
chính, khu tự trị cũng được tổ chức các văn phòng kiểm toán nhà nước
● Mô hình cơ quan kiểm toán nhà nước trung ương có mạng lưới kiểm toán ở
từng khu vực. Những khu vực này trước hết phải có khối lượng công sản đủ lớn
và thường ở xa trung tâm nên đòi hỏi có KTNN tại thực địa để thực hiện chức
năng của KTNN. Mô hình này thích ứng với những nước có quy mô nhỏ song
địa bàn tương đối phân tán. Ví dụ, Kiểm toán nhà nước Thái Lan gồm mười lăm
kiểm toán khu vực (Ayutthaya, Chon Buri, Nakhon Pathom, Nakhon
Ratchasima, Ubon Ratchathani, Udon Thani, Khon Kaen, Chang Mai, Lampang,
Phitsanulok, Nakhon Sawan, Phetchaburi, Surat Thani, Nakhon Sithammarat,
Songkhla). Mỗi kiểm toán khu vực phụ trách từ bốn đến sáu tỉnh, thành phố.
Ở một số nước nhỏ và tương đối tập trung có thể không có liên hệ dọc, cũng
có trường hợp, liên hệ dọc này lại thực hiện ngay trong liên hệ ngang bằng cách
bố trí kiểm toán một vài khu vực nào đó thành một bộ phận trong các bộ phận
chuyên môn. Mô hình Kiểm toán nhà nước Nhật Bản là một ví dụ: Trong năm
bộ phận của Hội đồng kiểm toán quốc gia, bộ phận thứ ba vừa phụ trách kiểm
toán lĩnh vực giao thông - vận tải và xây dựng, vừa phụ trách các vùng
Hokkaido và phụ trách đất công.
Như vậy, cơ quan kiểm toán nhà nước chứa đựng rất nhiều mối liên hệ về tổ
chức, tuỳ thuộc vào đặc điểm của đối tượng, của phạm vi, của khách thể của
kiểm toán, tuỳ thuộc vào đặc điểm tổ chức bộ máy nhà nước và hàng loạt các
quan hệ khác bên trong và bên ngoài hệ thống kiểm toán.
Phần 2.
13
TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM.
2.1. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm toán nhà nước
Việt Nam.
2.1.1. Sự cần thiết phải thành lập Kiểm toán nhà nước tại Việt Nam.
Trong quá trình đổi mới, mặt trái của nền kinh tế thị trường ngày càng bộc lộ
rõ và sâu sắc, đặc biệt nạn tham nhũng, sử dụng không hiệu quả làm thất thoát
tài sản công, chi tiêu ngân sách lãng phí, sai mục đích, sai chế độ là những vấn
đề nổi cộm và nhức nhối nhất. Tình hình đó đòi hỏi cấp thiết phải có một cơ
quan nhà nước với vai trò và chức năng là người kiểm tra tài chính công cao
nhất, giúp đỡ cho Quốc hội, Chính phủ trong việc điều hành nền tài chính quốc
gia.
Tuyên bố Lima (Peru, 10/1977) cũng nhấn mạnh “ nhất thiết mỗi quốc gia
phải có một Cơ quan Kiểm toán tối cao mà tính độc lập của nó phải được xác
lập bằng pháp luật ”.
Trong hơn mười năm hoạt động KTNN đã giúp các nghành , các địa phương
chấn chỉnh công tác quản lý điều hành và quyết toán NSNN; giúp các đơn vị,
các doanh nghiệp Nhà nước chấn chỉnh công tác quản lý tài chính, hoàn thiện
công tác kế toán, thống kê. Biểu hiện là qua các cuộc kiểm toán lại lần thứ hai,
lần thứ ba trình độ quản lý tài chính, ngân sách của các đơn vị đã có bước cải
thiện rõ rệt, các thiếu sót trong công tác kế toán, thống kê từ chứng từ, sổ sách
kế toán đến báo cáo quyết toán tài chính giảm đáng kể. Bước đầu KTNN đã
khẳng định được uy tín và vị thế của mình, hoạt động kiểm toán của KTNN
được Đảng, Nhà nước và Quốc hội quan tâm đánh giá cao và khuyến khích phát
triển; nhiều nghành nhiều địa phương, doanh nghiệp chủ đầu tư có văn bản đề
nghị KTNN kiểm toán giúp; nghành toà án cũng đã có lần đề nghị KTNN giám
định giúp khía cạnh tài chính của một vụ án kinh tế. Chỉ tính riêng KTNN khu
vực IV qua tám năm hoạt động đã thực hiện 74 cuộc kiểm toán lớn với hơn 2000
lượt đơn vị được kiểm toán, qua kiểm toán đã kiến nghị tăng thu, giảm chi, đưa
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét