giá các điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam, năm 1990 Bộ Tài chính đã
cho phép Bảo Việt triển khai "bảo hiểm sinh mạng cá nhân - một loại hình
ngắn hạn của bảo hiểm nhân thọ ". Đến hết năm 1995 đã có trên 500000 ng-
ời tham gia bảo hiểm với tổng số phí trên 10 tỷ VND. Qua việc nghiên cứu
tác dụng cũng nh sự cần thiết phải có một loại hình bảo hiểm mới - bảo hiểm
nhân thọ ở Việt Nam, ngày 10/3/1996 Bộ Tài chính đã ký quyết định số 281/
TC/TCNH cho phép Bảo Việt triển khai hai loại hình bảo hiểm nhân thọ: bảo
hiểm nhân thọ có thời hạn 5-10 năm và chơng trình đảm bảo cho trẻ em đến
tuổi trởng thành (an sinh giáo dục).
Ngày 22/6/1996 Bộ Tài chính ký quyết định số 568/TC/QĐ/TCCB
thành lập công ty Bảo hiểm nhân thọ (Bảo Việt nhân thọ) từ đó Bảo Việt
nhân thọ tiến hành các hoạt động nhằm triển khai tốt các loại hình bảo hiểm
này một cách khẩn trơng.
Hoạt động bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển và giữ vai trò quan
trọng trong mỗi nền kinh tế. Đối với các tổ chức và cá nhân điều này có thể
thấy rõ qua tác dụng của bảo hiểm nhân thọ.
2. Tác dụng của bảo hiểm nhân thọ:
Bảo hiểm nhân thọ có rất nhiều tác dụng trong đời sống kinh tế xã hội.
Chính những tác dụng này đã giúp nó tồn tại và đạt đợc những thành công
nh ngày nay.
a. Đối với ngời tham gia bảo hiểm:
Bảo hiểm nhân thọ đã góp phần ổn định cuộc sống của dân c, bảo vệ
cho các cá nhân và gia đình họ chống lại sự bất ổn định về tài chính gây ra
bởi các bất hạnh nh: tử vong, thơng tật, đau ốm, mất giảm thu nhập hoặc ng-
ời trụ cột trong gia đình qua đời để lại một gánh nặng nghĩa vụ cha kịp hoàn
thành ( trách nhiệm nuôi dỡng ngời thân, bảo đảm học hành cho con cái, các
khoản vay thế chấp ). Nói cách khác bảo hiểm nhân thọ là sự chia sẻ các
tổn thất giữa những ngời tham gia bảo hiểm nhằm thay thế sự bất ổn bằng sự
ổn định về tài chính trong các trờng hợp có sự cố bảo hiểm xảy ra. Trờng hợp
5
rủi ro không xảy ra, ngời tham gia bảo hiểm vẫn đợc hởng các quyền lợi từ
số phí đã đóng.
Bảo hiểm nhân thọ cũng góp phần nâng cao sức khoẻ cho nhân dân
thông qua việc kiểm tra sức khoẻ miễn phí tại các trung tâm y tế do công ty
bảo hiểm chỉ định trớc khi ký kết hợp đồng. Mặt khác, khi ngời đợc bảo
hiểm gặp rủi ro nh ốm đau, phẫu thuật tàn tật công ty bảo hiểm cũng chi
trả một số tiền để họ phục hồi sức khoẻ nhanh chóng. ở Pháp năm 1995, chi
phí chăm sóc y tế và thuốc men đạt 862 tỷ F (12,4 tỷ USD) trong đó các
công ty bảo hiểm tham gia thanh toán 31%.
b. Đối với nền kinh tế xã hội:
Bảo hiểm nhân thọ ra đời cũng là một nhân tố thúc đẩy nền kinh tế
phát triển. Nó có một số tác dụng sau:
+ Bảo hiểm nhân thọ góp phần tăng tích luỹ, tiết kiệm cho ngân sách.
Trong thời kỳ bao cấp, hàng năm ngân sách phải chi ra một khối lợng vốn
khá lớn để bồi thờng cho các cá nhân, công ty gặp rủi ro (trợ cấp thôi việc,
trợ cấp ốm đau ) dới hình thức trợ cấp. Đây là điều bất hợp lý gây cho ngân
sách luôn bị thiếu hụt (bội chi), làm hạn chế việc phát triển kinh tế và các
mặt khác của đời sống xã hội. Ngày nay, mỗi cá nhân mua bảo hiểm nhân
thọ là một cách tự bảo vệ mình, chủ động đối phó với rủi ro, đồng thời còn
tạo ra một khoản tiết kiệm. Sự giúp đỡ của ngân sách hay của các tổ chức sử
dụng lao động chỉ còn mang ý nghĩa động viên chứ không có vai trò quyết
định căn bản nh trớc kia nữa. Các quỹ dự phòng cho các trờng hợp rủi ro có
thể sử dụng vào các mục đích khác.
Bảo hiểm nhân thọ góp phần thu hút vốn để phát triển kinh tế. Việt
Nam đang thực hiện quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc. Một
trong những yếu tố đảm bảo thắng lợi mục tiêu chiến lợc kinh tế xã hội đã đề
ra là vấn đề tạo vốn đầu t. Nghị quyết đại hội Đảng VII đã khẳng định nguồn
vốn trong nớc là chủ yếu, nguồn vốn nớc ngoài là quan trọng. Nhng không
có gì tốt hơn là tự lực, tự cờng bởi lẽ khi đón nhận nguồn vốn đầu t nớc
ngoài thì chúng ta phải trả lãi suất và ít nhiều mất tự chủ về kinh tế. Chẳng
hạn trong các công ty liên doanh, khi các ông chủ nớc ngoài góp trên 50%
6
vốn, họ chi phối hầu nh toàn bộ hoạt động của công ty, ngời Việt Nam chỉ là
hình thức bên ngoài, trên thực tế không có quyền hành gì.
Bảo hiểm nhân thọ là một giải pháp huy động nguồn vốn dài hạn để
đầu t cho giáo dục từ việc tiết kiệm thờng xuyên, có kỷ luật của mỗi gia
đình. Đây cũng là giải pháp đúng đắn góp phần xây dựng mục tiêu công
bằng xã hội. Vì dự trù cho tơng lai giáo dục đối với con em mình cũng nên
coi là trách nhiệm của mỗi gia đình. Xét trên giác độ vi mô tham gia bảo
hiểm nhân thọ vẫn sẽ đảm bảo đợc quỹ giáo dục cho con cái ngay cả khi ng-
ời trụ cột gia đình không may qua đời.
Bảo hiểm nhân thọ còn góp phần rất lớn vào giải quyết việc làm cho xã
hội. Bảo hiểm là ngành có mạng lới đại lý rộng khắp trong và ngoài nớc. Bảo
hiểm nhân thọ là ngành thu hút nhiều lao động hơn cả vì nó cần có một mạng
lới nhân viên khai thác bảo hiểm, máy vi tính, tài chính, kế toán rất lớn. Vì
vậy, việc phát triển bảo hiểm nhân thọ sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho
thị trờng lao động.
Mặc dù điều kiện sống hiện nay ngày càng đợc nâng cao nhng những
rủi ro bất ngờ luôn rình rập xung quanh chúng ta và có thể xảy ra bất cứ lúc
nào. Tham gia bảo hiểm nhân thọ là cách tự bảo vệ của mỗi cá nhân, mỗi gia
đình chống lại sự bất ổn về tài chính nếu rủi ro xảy ra. Nh vậy, bảo hiểm
nhân thọ góp phần làm giảm ngời bần cùng, nghèo khổ cho những bất hạnh
trong cuộc sống đem lại. Hơn nữa chúng ta phải lo cho tơng lai của mình sau
khi về hu.
Nói cách khác, bảo hiểm nhân thọ đã góp phần giải quyết gánh nặng
trách nhiệm của xã hội đối với ngời lao động về hu, tuổi cao.
Vậy bảo hiểm nhân thọ là gì và tính chất của nó ra sao?
3. Khái niệm và tính chất của bảo hiểm nhân thọ:
a. Khái niệm:
Có nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm nhân thọ. Thực tế bảo hiểm
nhân thọ là sự cam kết giữa Công ty bảo hiểm với ngời tham gia bảo hiểm
(ngời đợc bảo hiểm) trong đó Công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả cho ngời
tham gia bảo hiểm (ngời đợc bảo hiểm) một khoản tiền nhất định khi có
những sự kiện định trớc xảy ra (ngời đợc bảo hiểm bị chết, thơng tật toàn bộ
vĩnh viễn, hay còn sống đến một thời điểm chỉ rõ trong hợp đồng). Còn ngời
tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn.
Tuy nhiên đứng trên góc độ pháp lý, xã hội-kỹ thuật, có những khái
niệm về bảo hiểm nhân thọ khác. Đó là:
7
Về mặt pháp lý: Bảo hiểm nhân thọ là bản hợp đồng trong đó để nhận
đợc phí bảo hiểm của ngời tham gia bảo hiểm (ngời ký kết hợp đồng) thì ng-
ời bảo hiểm cam kết sẽ trả cho một ngời hay nhiều ngời thụ hởng bảo hiểm
một số tiền nhất định (đó là số tiền bảo hiểm hay một khoản trợ cấp định kỳ)
trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểm bị tử vong hay ngời đợc bảo hiểm sống
đến một thời điểm ghi rõ trên hợp đồng.
Về mặt kỹ thuật: Bảo hiểm nhân thọ là nghiệp vụ bao hàm những cam
kết mà sự thi hành những cam kết này thuộc chủ yếu vào tuổi thọ của con
ngời.
Nh vậy thì bảo hiểm nhân thọ giải quyết nỗi lo âu về mặt an toàn trong
đời sống nhng nó chỉ gắn với các biến cố liên quan đến bản thân con ngời
nh: tử vong, sống sót, tai nạn và bệnh tật kéo theo sự mất khả năng lao động,
thơng tật và các chi phí y tế Đôi khi các sự cố không phải luôn tơng ứng
với các thiết hại. Tóm lại, bảo hiểm nhân thọ thay thế bảo trợ xã hội cơ bản
nơi mà bảo trợ xã hội không tồn tại, bổ sung cho bảo trợ xã hội khi bảo trợ
xã hội còn thiếu sót.
b.Tính chất của bảo hiểm nhân thọ:
Để tiến hành kinh doanh một sản phẩm, một ngành nghề, một lĩnh vực
nào đó thì trớc hết chúng ta phải nắm đợc tính năng và tác dụng của nó.
Khác với các sản phẩm khác, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có đặc thù riêng.
Thứ nhất, bảo hiểm là một loại sản phẩm đặc biệt. Sở dĩ nh vậy là vì
sản phẩm bảo hiểm là một dịch vụ, không những thế nó là một dịch vụ đặc
biệt. Điều này đợc thể hiện rõ qua các đặc tính cụ thể sau:
- Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không định hình. Thực chất của hoạt
động bảo hiểm là hoạt động chuyển giao rủi ro giữa những ngời tham gia bảo
hiểm với ngời bảo hiểm. Vào thời điểm bán, sản phẩm chủ yếu mà các nhà
bảo hiểm cung cấp ra thị trờng chỉ là lời hứa, lời cam kết bồi thờng hay trả
tiền bảo hiểm của nhà bảo hiểm khi xảy ra sự cố thuộc phạm vi bảo hiểm. Đó
là sản phẩm vô hình mà ngời bán không chỉ ra đợc màu sắc, kích thớc hay
hình dạng cảu nó và ngời mua cũng không cảm nhận đợc bằng các giác quan
của mình nh cầm, nắn, sờ, mó, ngửi hay nếm thử. Ngời mua buộc phải tin
vào ngời bán - nhà bảo hiểm.
- Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm có hiệu quả về xê dịch. Có nghĩa là
lợi ích đối với khách hàng từ việc chi trả, bồi thờng cũng bấp bênh và xê
dịch theo thời gian. Ngời ta mua bảo hiểm nhân thọ nhng không biết mình sẽ
sử dụng khi nào. đối với loại sản phẩm chỉ mang tính rủi ro thì khách hàng
mua bảo hiểm không những mong muốn mà không bao giờ có ý nghĩ sẽ gặp
rủi ro để đợc bồi thờng.
8
- Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm "của chu trình sản xuất kinh doanh
đảo ngợc". Các doanh nghiệp bảo hiểm không phải bỏ vốn trớc mà nhận phí
bảo hiểm trớc của ngời tham gia bảo hiểm đóng góp và thực hiện nghĩa vụ
sau với bên đợc bảo hiểm khi xảy ra sự cố bảo hiểm. Do vậy không thể tính
đợc chính xác hiệu quả của một sản phẩm bảo hiểm vào thời điểm bán sản
phẩm.
- Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm dễ bắt chớc. Một hợp đồng bảo
hiểm dù là bản gốc cũng không đợc cấp bằng phát minh sáng chế và không
đợc bảo hộ về bản quyền. Về lý thuyết, mọi doanh nghiệp bảo hiểm đều có
thể bán một cách hợp pháp những hợp đồng là bản sao chép của đối thủ cạnh
tranh ngoại trừ tên và cách thức tuyên truyền quảng cáo.
Thứ hai, thế giới tâm lý bảo hiểm rất phức tạp. Đó là việc chia sẻ giữa
sự an toàn hợp lý và sự mê tín.
Ngời ta mua bảo hiểm nhân thọ với sự pha trộn của hai cân nhắc, một
là hợp lý trong đề phòng rủi ro, một là biểu lộ sự mê tín. Ngời mua coi việc
mua sản phẩm bảo hiểm nh mua một chiếc bùa hộ mệnh.
Sự pha trộn giữa hai lập luận này đã làm cho ngời bảo hiểm rất khó
khăn trong khi đề cập đến vấn đề bảo hiểm với khách hàng và đánh giá chính
xác mức độ đảm bảo cần thiết. Nghĩa là, ngời bảo hiểm sẽ bị chi phối giữa
việc thoả mãn ngay nhu cầu cho khách hàng, những đảm bảo tối thiểu - phí
thấp, và việc đề nghị các bảo đảm cho an toàn cần thiết cái mà làm cho ngời
bảo hiểm khó có thể khai thác đợc do phạm vi bảo đảm rộng và phí cao.
Thứ ba, mối quan hệ giữa ngời bảo hiểm và ngời đợc bảo hiểm đợc ghi
nhận nh là một sự "nghi ngờ kép".
- Về phía ngời đợc bảo hiểm: họ nhìn nhận ngời bảo hiểm đồng thời là
hai ngời - ngời bảo trợ và ngời thu thuế.
Ngời đợc bảo hiểm tìm kiếm và thấy ở ngời bảo hiểm nh là một nhà t
vấn và đa ra những giải pháp để giải quyết những vấn đề lớn nh: tơng lai của
con cái họ, thu nhập của gia đình hay thu nhập của chính họ khi về hu.
Nhng đồng thời, ngời đợc bảo hiểm lại coi ngời bảo hiểm nh là ngời
thu thuế. Bởi lẽ xuất phát từ khái niệm: "hiệu quả xê dịch" mà ngời tiêu dùng
cảm thấy việc nộp phí trong thời gian dài không đem lại hiệu quả gì nếu
không có sự kiện bảo hiểm xẩy ra.
- Về phía nhà bảo hiểm: ở một khía cạnh nào đó, họ luôn có thái độ
ngờ vực khách hàng của mình. Khi bán bảo hiểm, họ luôn nghi ngờ rằng ng-
9
ời tham gia có khai đúng tình trạng sức khỏe của anh ta hay không? Khi thiệt
hại xảy ra, liệu ngời bị hại có khai báo đúng sự thực hay không? Chính thái
độ này đã dẫn đến việc c xử với khách hàng bị thiệt hại nh một "công an", tr-
ớc tiên là trấn áp.
II. Những vấn đề căn bản của bảo hiểm nhân thọ.
1. Đặc trng của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ.
Trớc hết ta phân biệt những điểm khác biệt giữa bảo hiểm nhân thọ và
bảo hiểm phi nhân thọ:
Bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọ
1. Phạm vi bảo hiểm Con ngời Tài sản
Con ngời
Trách nhiệm dân sự
2. Thời hạn bảo hiểm Dài hạn 5-10 năm hoặc
suốt đời
Thờng là một năm
3.Phí bảo hiểm
a. Nhân tố ảnh hởng - Thời gian tham gia
- Số tiền bảo hiểm
- Tỷ lệ lãi kỹ thuật
- Xác suất tử vong
- Xác suất rủi ro
- Số tiền bảo hiểm
- Chế độ bảo hiểm
b.Số lần đóng phí Phí đóng theo tháng, quý,
6 tháng hay 1 năm
Thờng đóng phí một lần
sau khi ký hợp đồng
4. Quyền lợi bảo
hiểm
Chi trả tiền bảo hiểm
trong những trờng hợp:
- Chết
- Thơng tật toàn bộ vĩnh
viễn
- Hết hạn hợp đồng
Chỉ đợc bồi thờng tổn
thất trong giới hạn hợp
đồng khi có tổn thất xảy
ra.
5. Tính chất Vừa mang tính chất rủi ro
vừa mang tính tiết kiệm.
Tất cả mọi ngời tham gia
đều đợc nhận số tiền bảo
hiểm
Chỉ mang tính rủi ro.
Chỉ một số ít ngời đợc
nhận số tiền bảo hiểm
khi gặp rủi ro thuộc
trách nhiệm bảo hiểm.
Qua bảng so sánh giữa bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ
trên, ta thấy bảo hiểm nhân thọ có một số đặc trng sau:
Thứ nhất: có sự phức tạp trong các mối quan hệ giữa ngời ký, ngời đợc
bảo hiểm và ngời đợc hởng quyền lợi bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ.
10
Các loại bảo hiểm khác ngoài bảo hiểm nhân thọ đều đề phòng các hậu
quả của một sự cố không lờng trớc. Ngời ta cũng biết đợc ai là ngời đợc h-
ởng quyền lợi của hợp đồng, chẳng hạn là nạn nhân trực tiếp hay gián tiếp
của sự cố.
Đối với bảo hiểm nhân thọ, trong trờng hợp tử vong, ngời đợc hởng
quyền bảo hiểm không phải là nạn nhân của sự cố. Ngời đợc bảo hiểm chết,
ngời đợc hởng là ngời có mối quan hệ thân thuộc với ngời đợc bảo hiểm. Ng-
ời ta thấy rằng điều này đã làm hạn chế đến sự tự do của ngời đợc bảo hiểm.
Ngời đợc bảo hiểm không phải lúc nào cũng có thể tự do thay đổi ngời đợc
thừa hởng vì một số ngời khác cũng cũng có thể đợc thừa hởng từ ngời này.
Trờng hợp này có thể xảy ra đối với bảo hiểm trong trờng hợp sống nhng rất
hiếm. Trong bảo hiểm nhân thọ, các mối quan hệ giữa ngời ký, ngời đợc bảo
hiểm và ngời đợc hởng rất phức tạp và mang tính nguyên tắc hơn rất nhiều so
với các loại hình bảo hiểm khác.
Thứ hai, bảo hiểm nhân thọ có tính đa mục đích. Trong khi các loại
hình bảo hiểm phi nhân thọ có một mục đích là bồi thờng cho các hậu quả
của một sự cố tiêu cực, không lờng trớc thì bảo hiểm nhân thọ lại có nhiều
mục đích khác nhau: tạo lập một quỹ dự phòng cho tơng lai để con cái học
tập hay lập nghiệp, lập ra một quỹ hu trí cho bản thân khi về già, để lại một
khoản tiền cho ngời thân khi tử vong, dành khoản tiền để chi tiêu cho một
mục đích trong tơng lai.
Thứ ba, trong bảo hiểm con ngời nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói
riêng, hầu hết các trờng hợp không áp dụng nguyên tắc bồi thờng mà áp
dụng nguyên tắc khoán. Bởi lẽ:
+ Trong trờng hợp tử vong, nhà bảo hiểm sẽ trả số tiền bảo hiểm khi
ngời đợc bảo hiểm chết. Nhng không thể xác định đợc số tiền này một cách
hoàn toàn khách quan vì khái niệm giá cả không thể áp dụng cho con ngời đ-
ợc. Tính mạng của con ngời là vô giá.
+ Một ngời đợc hởng bảo hiểm muốn gia đình hay ngời thân của anh ta
hởng một khoản tiền nhất định nào đó tuỳ thuộc vào thu nhập hoàn cảnh gia
đình của mình Anh ta có quyền ấn định khoản tiền bồi thờng vào thời điểm
ký hợp đồng với nhà bảo hiểm. Nh vậy bảo hiểm trong trờng hợp tử vong
không nhằm vào bồi thờng một thiệt hại. Hơn nữa, ttrong nhiều loại hình bảo
hiểm con ngời, biến cố dẫn đến nghĩa vụ của ngời bảo hiểm không có bản
chất thiệt hại. Do vậy khái niệm thiệt hại không thể sử dụng trong bảo hiểm
con ngời.
Nhìn chung, bảo hiểm con ngời dẫn đến các khoản trợ cấp khoán mà
số tiền đợc ấn định trớc và tách biệt với khái niệm bồi thờng. Đó là:
11
Nguyên tắc khoán đợc áp dụng trong hầu hết các loại hình bảo hiểm
con ngời. Loại trừ trờng hợp hoàn trả các khoản chi phí y tế, bị bệnh hoặc tai
nạn, bảo hiểm ở đây mang tính chất bồi thờng vì nhà bảo hiểm bồi thờng cho
ngời đợc bảo hiểm giá của sự chăm sóc thuộc trách nhiệm của anh ta.
Thứ t, trong bảo hiểm nhân thọ không có sự thế quyền.
Cùng một lúc, khách hàng có thể tham gia nhiều loại hình bảo hiểm
con ngời và nếu có xảy ra sự cố nào đó thuộc phạm vi bảo hiểm của nhiều
hợp đồng thì họ đợc nhận tất cả các khoản bồi thờng từ các hợp đồng khác
nhau. Ngời đợc hởng quyền lợi từ bảo hiểm con ngời có thể đồng thời nhận
đợc các khoản bồi thờng từ các hợp đồng mà họ tham gia và khoản bồi thờng
của ngời gây ra thiệt hại. Trong trờng hợp này, không có sự khiếu nại của
nhà bảo hiểm (nhà bảo hiểm bồi thờng cho các hợp đồng do ngời bị tai nạn
tham gia) đối với ngời thứ ba (ngời gây ra thiệt hại) và nhà bảo hiểm của anh
ta.
Duy nhất trong bảo hiểm nhân thọ cho phép đảm bảo cùng một lúc hai
sự cố đối lập nhau là "tử vong và sống".
Thứ năm, trong bảo hiểm nhân thọ không áp dụng nguyên tắc đóng
góp. Nguyên tắc này chỉ áp dụng trong bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách
nhiệm, bảo hiểm thiệt hại. Theo nguyên tắc đóng góp thì công ty bảo hiểm
khi đã đền bù cho ngời đợc bảo hiểm có quyền gọi các công ty bảo hiểm
khác chia sẻ tổn thất trong trờng hợp:
+ Có hai hợp đồng bồi thờng có hiệu lực trở lên
+ Các hợp đồng đều bảo hiểm cho các quyền lợi chung
+ Các hợp đồng đều bảo hiểm cho các rủi ro chung
Nhng bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm con ngời nên ngời tham
gia bảo hiểm có quyền nhận quyền lợi của mọi hợp đồng mà họ tham gia.
Hơn nữa, con ngời là vô giá nên không áp dụng nguyên tắc này.
Nh vậy, nếu bảo hiểm nhân thọ có những điểm tơng đồng với các loại
hình bảo hiểm con ngời thì nó lại có những khác biệt với các loại hình bảo
hiểm phi nhân thọ khác.
2. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ.
ở các nớc trên thế giới, hầu hết các công ty bảo hiểm nhân thọ đang
bán 4 loại hình sản phẩm bảo hiểm nhân thọ chính:
12
- Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn.
- Bảo hiểm nhân thọ trọn đời.
- Bảo hiểm trợ cấp hu trí.
- Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp.
* Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn:
Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, đúng nh tên gọi của nó nhà bảo hiểm
nhận bảo hiểm đối với ngời tham gia bảo hiểm trong một thời gian nhất định
gọi là thời hạn bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm chỉ đợc thanh toán trong trờng
hợp ngời đợc bảo hiểm tử vong trong thời hạn bảo hiểm. Nếu ngời đợc bảo
hiểm sống qua thời hạn bảo hiểm sẽ không đợc thanh toán bất cứ khoản gì.
Độ dài của thời hạn bảo hiểm rất khác nhau. Tuy nhiên, ngày nay thời hạn
bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm sinh mạng có thời hạn có khi dới một
năm.
* Bảo hiểm nhân thọ trọn đời:
Đây là loại hình có thời hạn bảo hiểm dài hạn và số tiền bảo hiểm chỉ
đợc trả khi ngời đợc bảo hiểm chết hay sống đến 99 tuổi tuỳ thuộc vào sự
kiện nào đến trớc. Bảo hiểm nhân thọ trọn đời kết hợp yếu tố tiết kiệm với
bảo hiểm. Trong khi bảo hiểm sinh mạng có thời hạn chỉ bao gồm yếu tố rủi
ro và không trả thêm bất cứ quyền lợi nào.
* Bảo hiểm cấp hu trí:
Là loại hình mà phí bảo hiểm đợc đóng ngay một lần hay định kỳ. Sau
đó, công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả trợ cấp định kỳ cho ngời đợc bảo
hiểm từ khi ngời đợc baỏ hiểm về hu cho đến chết.
Ngời ta thờng kết hợp dạng bảo hiểm trợ cấp hu trí với bảo hiểm hu trí.
Khi về hu, ngời đợc bảo hiểm nhận số tiền bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm
hu trí và mua ngay hợp đồng trợ cấp hu trí để đảm bảo cuộc sống khi về hu
cho đến khi chết.
* Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp:
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp đảm bảo rằng số tiền bảo hiểm
đợc trả mà không quan tâm đến việc ngời đợc bảo hiểm có bị chết trong thời
hạn bảo hiểm hay không với điều kiện ngời đợc bảo hiểm phải đóng phí theo
quy định. Mỗi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp đều quy định ngày hết
hạn bảo hiểm. Vào ngày đó, công ty bảo hiểm sẽ trả tiền bảo hiểm cho ngời
đợc bảo hiểm nếu anh ta còn sống. Nếu ngời đợc bảo hiểm chết trớc khi hết
13
hạn hợp đồng thì số tiền bảo hiểm sẽ đợc trả cho ngơì đợc hởng lợi vào ngày
ngời đợc bảo hiểm bị chết.
Nh vậy, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp trả số tiền bảo hiểm ấn
định dù ngời đợc bảo hiểm vẫn còn sống đến ngày đáo hạn của hợp đồng
hoặc chết trớc khi hết hạn hợp đồng. Phí bảo hiểm cũng không đổi trong suốt
thời hạn hợp đồng. Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp thể hiện rõ sự kết hợp giữa
bảo hiểm và tiết kiệm.
Dựa trên 4 sản phẩm cơ bản này, các Công ty bảo hiểm nhân thọ khác
nhau thiết kế ra các sản phẩm đặc thù riêng của mình.Chẳng hạn:
Bảo Việt nhân thọ có các sản phẩm nh: bảo hiểm và tiết kiệm thời hạn
5 năm (NA4/1998), bảo hiểm và tiết kiệm thời hạn 10 năm (NA5/1998), an
sinh giáo dục (NA6/1998), bảo hiểm trợ cấp hu trí (ND1/1999)
Prudential có các sản phẩm: phú an khang, phú tích luỹ
3. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ:
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là một văn bản ghi nhận sự cam kết giữa
công ty bảo hiểm và ngời tham gia bảo hiểm, trong đó công ty bảo hiểm có
trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm khi xảy ra những sự kiện quy định trớc: th-
ơng tật, chết, hết hạn hợp đồng, sống đến một độ tuổi nhất định, còn ngời
tham gia bảo hiểm có trách nhiệm đóng phí đầy đủ và đúng hạn.
Theo quy định thì đối tợng của bảo hiểm nhân thọ là tất cả những ngời
trong độ tuổi từ 1 đến 60. Với đối tợng trên thì ngời tham gia bảo hiểm có
thể tham gia bất cứ loại hình nào theo nguyện vọng và yêu cầu của mình.
Khi tham gia bảo hiểm thì ngời tham gia phải viết giấy yêu cầu bảo hiểm và
đây là một bộ phận của hợp đồng bảo hiểm. Trong giấy yêu cầu bảo hiểm
ngời tham gia phải kê khai đầy đủ: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tình trạng
sức khoẻ, bệnh tật Giấy yêu cầu bảo hiểm là căn cứ để công ty bảo hiểm có
chấp nhận bảo hiểm hay không.
Để tìm hiểu về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì chúng ta tìm hiểu một
số các vấn đề liên quan sau:
* Ngời đợc bảo hiểm, ngời đợc hởng quyền lợi bảo hiểm, ngời tham
gia bảo hiểm:
- Ngời đợc bảo hiểm: là ngời mà sinh mạng và cuộc sống của họ đợc
bảo hiểm theo điều khoản của hợp đồng và có tên trong giấy yêu cầu bảo
hiểm, phụ lục của hợp đồng bảo hiểm.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét