Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Nghiệp vụ thương mại


Đối với doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh thương mại
quốc tế chủ yếu thông qua xuất khẩu và nhập khẩu các hàng
hóa, dịch vụ.

Kinh doanh thương mại quốc tế là hình thức mua bán hàng
hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tập thể , doanh nghiệp ở các
quốc gia khác nhau nhằm thu được lợi nhuận.

Đối với doanh nghiệp, mục đích của kinh doanh thương
mại quốc tế là nhằm tối đa hoặc ổn định lợi nhuận của doanh
nghiệp thông qua mở rộng thị trường tiêu thụ, bù đắp các chi
phí đầu tư, thực hiện giảm chi phí theo quy mô và tìm kiếm
nguồn lực, lợi thế từ nước ngoài, …

Thông qua giao lưu, quan hệ với các đối tác nước ngoài
các doanh nghiệp có điều kiện học hỏi được kinh nghiệm về
hoạt động marketing, phương thức kinh doanh, phong cách kinh
doanh và quản lý doanh nghiệp để đổi mới hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nhằm rút ngắn khoảng cách lạc hậu
với đối tác nước ngoài.

Có thể nói, xuất nhập khẩu không chỉ đóng vai trò thúc đẩy
hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà còn giải
quyết tốt vấn đề thuộc pham vi nội bộ doanh nghiệp như tổ
chức bộ máy, lực lượng lao động, vốn kinh doanh và các nguồn
lực khác để phát triển hoạt động kinh doanh.

Theo số liệu thống kê cho đến nay trong ngành thương mại
đã có hàng chục nghìn doanh nghiệp là đầu mối kinh doanh
xuất nhập khẩu, một lực lượng đông đảo , quan trọng của các
doanh nghiệp Việt Nam, bằng hành động thực tế để chứng minh
rằng : Việt Nam không chỉ là bạn, mà còn là đối tác tin cậy của
tất cả các quốc gia trên thế giới.
9.1.2. Đặc điểm kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh
nghiệp
Kinh doanh xuất nhập khẩu trên thị trường quốc tế khác
biệt căn bản với kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong nước.
a) Hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được tiến hành với đối
tác ở nước ngoài.

Nghĩa là việc buôn bán diễn ra giữa các đối tác có ngôn
ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo khác nhau. Đặc điểm này đòi
hỏi trong buôn bán các đối tác phải lựa chọn ngôn ngữ chung
để giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng. Sự khác nhau về
văn hóa dễ dẫn tới hiểu lần đáng tiếc và rủi ro khi không chung
một ngôn ngữ, hệ thống luật pháp, nếp nghĩ, thói quen và cả
những giá trị mà các bên theo đuổi giữ gìn.

Trong buôn bán với nước ngoài, hàng hóa được chuyển từ
trong nước ra nước ngoài hoặc ngược lạ, đòi hỏi bao bì, ký mã
hiệu phải tuân theo tiêu chuẩn quốc tế, bền chăc để có thể
chuyển tải qua nhiều phương thức vận tải, nhiều phương tiện
vận chuyển khác nhau. Nội dung của hợp đồng phải cụ thể,
phải thể hiện ý chí của cả hai bên và theo mẫu quy định của
hoạt động thương mại quốc tế.
b) Phương thức thu nợ, thanh toán trong kinh doanh thương mại
quốc tế phức tạp và đa dạng hơn so với kinh doanh trong nước

Cũng vì vậy khả năng rủi ro lớn hơn.Theo ước tính , nếu
rủi ro trong buôn bán quốc tế là 100% thì khâu thanh toán
chiếm hơn 70%. Đặc điểm này đòi hỏi các nhà kinh doanh tùy
điều kiện phải lựa chọn được đồng tiền thanh toán,, các hình
thức thanh toán bảo vệ quyền lợi của mình và thực hiện được
hợp đồng.
c) Phương thức, phương tiện trao đổi thông tin trong thương
mại quốc tế hiện đại và phong phú hơn nhiều so với kinh doanh
nội địa

Với sự phát triển của kỹ thuật công nghệ và thông tin, gần
như giữa các đối tác không còn khoảng cách , họ có thể giao
dịch trực tuyến để thảo luận về nội dung của hợp đồng, sử dụng
các phương tiện quảng cáo và giao hàng tận nhà không bị cách
trở bởi khoảng cách địa lý. Đặc điểm này đòi hỏi cán bộ giao
dịch, buôn bán quốc tế phải thành thạo các công cụ, các phương
tiện để chủ động thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh.
d) Buôn bán quốc tế phải theo chuẩn mực quốc gia và quốc tế
Mỗi quốc gia đều có hệ thống luật pháp của mình, bởi vậy,
trong soạn thảo nội dung hợp đồng mua bán, tổ chức thực hiện
và giải quyết tranh chấp phải tuân thủ luật pháp của quốc gia
,quốc tế và các thông lệ, tập quán thương mại quốc tế.
e) Xu hướng phát triển quan hệ thương mại trực tiếp trong buôn
bán quốc tế.
Bảo đảm tính tự chủ của thương nhân , giảm chi phí phát
triển mối quan hệ hợp tác trong thương mạ quốc tế cá đối tác
đều muốn thực hiện quan hệ trực tiếp để bảo vệ quyền lợi của
mình. Tuy nhiên hình thức quan hệ gián tiếp vẫn được áp dụng
trong những trường hợp cần thiết như dung lượng buôn bán
nhỏ, thị trường biến động, việc tiếp cận, quảng cáo, phân phối
hàng hóa có khó khăn.
f) Hội nhập kinh tế không chỉ mang lại cơ hội thuận lợi mà còn
mang lại khó khăn đối với các doanh nghiệp Việt Nam
Là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính
có hạn, kỹ thuật và cơ sở vật chất lạc hậu, chưa có nhiều kinh
nghiệm trong xây dụng, quảng bá thương hiệu và xúc tiến
thương mại. Chưa làm chủ các kênh phân phối sản phẩm trong
nước và chưa thâm nhập vào các kênh phân phối ở thị trường
nước ngoài.
g) Hệ thống thông tin trong hoạt động thương mại quốc tế có
tầm quan trọng đặc biệt
Khác với hoạt động kinh doanh trong nước, buôn bán quốc
tế cần hệ thống thông tin toàn diện, đầy đủ và chính xác hơn.
Những thông tin về cung cầu, giá cả và sự cạnh tranh trên thị
trường quốc tế là rất cần thiết. Những thông tin này cần phải cụ
thể, cập nhật. Để đặt quan hệ cần phải có thông tin để đối tác,
chính sách thương mại của các nước trong xuất nhập khẩu. Các
quy định về hải quan cần tường tận, chính xác để doanh nghiệp
có thể tiếp cận thị trường nước ngoài.
9.2. HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

Để thực hiện nhập khẩu hàng hóa, các doanh nghiệp
thường tiến hành các hoạt động theo trình tự sau :
9.2.1. Xác định nhu cầu cụ thể về hàng hóa cần
nhập khẩu
Các doanh nghiệp thương mại nhập khẩu hàng hóa là để
bán lại cho người tiêu dùng, vì thế trước tiên phải xác định nhu
cầu cụ thể về mặt hàng, quy cách, chủng loại, số lượng, thời
hạn tiêu dùng, giá cả mà người tiêu dùng chấp nhận. Sau đó,
doanh nghiệp sẽ tổng hợp các nhu cầu của khách hàng, cân đối
với lượng hàng hóa tồn kho, để quyết định hàng hóa cần nhập
khẩu theo công thức :
Yêu cầu hàng
hóa nhập khẩu
=
Nhu cầu hàng hóa
của khách hàng
±
Nhu cầu dự trữ
hàng hóa của
DNTM
Yêu cầu các mặt hàng cần nhập khẩu sẽ là căn cứ để ký
hợp đồng với nước ngoài.
9.2.2. Nghiên cứu thị trường nước ngoài, chọn đối
tác kinh doanh
Một loại hàng hóa nào đó sẽ có nhiều thị trường (các
nước) khác nhau cùng sản xuất, mỗi nước lại có nhiều hãng, ở
mỗi hãng có thể sản xuất, kinh doanh nhiều loại sản phẩm, mà
kết quả kinh doanh lại phụ thuộc vào từng đối tác cụ thể. Bởi
vậy, doanh nghiệp phải nắm bắt được không chỉ khái quát về
từng thị trường mà còn cần thông hiểu địa vị pháp lý, sức mạnh
tài chính, quan điểm, triết lý kinh doanh và các sản phẩm hàng
đầu của hãng để đặt hàng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét