Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Tài liệu Hôn nhân gia đình docx

PHẦN I
GIỚI THIỆU VỀ CHUYÊN ĐỀ
Trong chừng mực nào đó có thể định nghĩa Luật Hôn Nhân Gia Đình như
là tập hợp các quy tắc chi phối sự thành lập và sự vận hành của gia đình. Có 3
dữ kiện liên quan đến gia đình mà từ việc phân tích 3 dữ kiện ấy người làm luật
đề ra quy tắc của mình, sự phối hợp của một người đàn ông và một người đàn bà
nhằm xây dựng cuộc sống chung, sự sinh con và việc giáo dục con.Vai trò của
luật Hôn Nhân Gia Đình được xác định tuỳ theo kết quả xác định mối quan hệ
giữa nhà nước và gia đình, hay đúng hơn tuỳ theo mức độ tự chủ của gia đình
với nhà nước trong giá trị hệ thống và phát triển các dữ kiện ấy .
Vấn đề giải quyết tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong các án
kiện ly hôn là vấn đề phức tạp và khó giải quyết. Thực tiễn cho thấy tại các cơ
quan thi hành án dân sự , tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong các án
kiện ly hôn chiếm phần lớn trong các vụ tranh chấp tài sản dân sự. Gần một nửa
các vụ án dân sự là tranh chấp tài sản của vợ chồng trong các án kiện ly hôn,
trong đó số án giải quyết chủ động chiếm phần lớn .Tài sản của vợ chồng là tài
sản hợp nhất, vì vậy khi chia tài sản này phải đặc biệt lưu ý đến vấn đề hoàn
cảnh của người phụ nữ và trẻ em vì đây là hai đối tượng cần được bảo vệ và
chăm sóc đặc biệt. Trong các trường hợp giải quyết chia tài sản giữa vợ và
chồng trong các án kiện ly hôn, đã được quy định cụ thể trong luật hôn nhân
năm 2000 và các văn bản hướng dẫn kèm theo. Tuy nhiên vấn đề phức tạp ở chỗ
hai ngưòi không có giấy đăng kí kết hôn ,không xác định rõ tài sản chung hay
riêng, tài sản tranh chấp đang thuộc sở hữu chung với hộ gia đình.
Để giải quyết vấn đề này, công tác thi hành án dân sự phải được đảm bảo
theo những quy định của pháp luật, đặc biệt là của luật Hôn nhân gia đình năm
2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Trong những năm qua, thi hành án dân sự huyện Thanh hà tỉnh Hải dương
đã làm tốt nhiệm vụ được giao, giải quyết các bản án, quyết định dân sự một
1
cách nhanh chóng và hiệu quả, nhất là trong các án kiện ly hôn về vấn đề giải
quyết tranh chấp tài sản vợ chồng.
PHẦN II
NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH
CHẤP VỀ TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC ÁN KIỆN LY HÔN
Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là một loại quan hệ đặc biệt ràng buộc 2
người vốn đã gắn bó với nhau do hiệu lực của hôn nhân , nghĩa là có đăng kí kết
hôn , liên quan đến tài sản , nói chung là các lợi ích vật chất có giá trị tiền tệ
.Trong khung cảnh của luật thực định việt nam , sự thoả thuận của quan hệ tài
sản của vợ chồng phụ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân - Quan hệ tài
sản của vợ chồng không tồn tại giữa 2 người chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng kí kết hôn quan hệ tài sản giữa vợ chồng bị thủ tiêu. Trong
trường hợp 2 người chung sống với nhau có đăng kí kết hôn nhưng sau đó hôn
nhân bị huỷ theo một bản án hoặc quyết định của toà án .Quan hệ tài sản giữa vợ
chồng chấm dứt trong trường hợp 2 người chung sống với nhau có đăng kí kết
hôn nhưng sau đó hôn nhân chấm dứt do ly hôn hoặc do có một người chết.

Mục 1: Điều kiện để giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và
chồng trong các án kiện ly hôn
Theo luật Hôn nhân gia đình năm 2000 của nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thì căn cứ giải quyết tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng
trong các án kiện ly hôn là một trong hai người có đơn yêu cầu ly hôn gửi toà án
và có yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài sản. vì vậy các bên đương sự phải là
vợ chồng hợp pháp và có đủ điều kiện kết hôn theo điều 9 của luật hôn nhân gia
đình và phải được đăng kí kết hôn (Điều 11,12 luật hôn nhân gia đình) do cơ
quan có thẩm quyền thực hiện đối với công dân việt nam thì ở UBND xã,
phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên và cơ quan đại diện ngoại giao
và cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan lãnh sự Việt nam ở nước ngoài với
công dân Việt nam với nhau ở nước ngoài. Hoặc trong trường hợp hôn nhân
2
thực tế được toà án công nhận trước năm 2000 đối với những trường hợp chưa
đăng kí kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng và có tài sản chung thì
cũng được giải quyết theo luật Hôn nhân gia đình năm 2000. Trên nguyên tắc
công đân có quyền có tài sản riêng (Điều 32 Luật Hôn nhân gai đình năm 2000)
quy định tài sản riêng của vợ chồng theo đó vợ chồng có quyền có tài sản riêng
và vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản
chung . Đây là điều kiện rất quan trọng để cơ quan thi hành án căn cứ giải quyết
vấn đề tranh chấp tài sản khi ly hôn .
Việc ly hôn phải được toà án quyết định bằng bản án hoặc quyết định dân sự có
hiệu lực pháp luật .
Mục 2. Các nguyên tắc giải quyết chia tài sản khi ly hôn.
Theo quy định tại điều 95 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 về nguyên
tắc chia tài sản khi ly hôn thì tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận, nếu
không thoả thuận được thì yêu cầu toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào
thì thuộc quyền sở hữu của bên đó. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo
các nguyên tắc :
- Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem
xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên
vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này . Lao động của vợ, chồng trong
gia đình coi như lao động có thu nhập .
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã
thành niên mà bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự , không có khả năng lao
động và không có tài sản để tự nuôi sống mình .
- Bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của mỗi bên trong sản xuất kinh
doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập.
- Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị
bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được
hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch .
Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản chung của vợ, chồng do vợ
chồng thoả thuận,nếu không thoả thuận được thì yêu cầu toà án giải quyết.
3
Những nguyên tắc trên phải được thực hiện một cách nghiêm túc và là căn
cứ dể áp dụng giải quyết trong các trường hợp tranh chấp tài sản vợ chồng trong
các án kiện ly hôn.
PHẦN III
CÁC CĂN CỨ CỦA PHÁP LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH NĂM 2000 VỀ
GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG
CÁC VỤ KIỆN LY HÔN VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI CƠ QUAN THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ HUYỆN THANH HÀ - HẢI DƯƠNG.
Thanh Hà là một huyện nằm ở phía đông tỉnh Hải Dương. Thanh Hà trải dài
theo hướng tây bắc đông nam có diện tích tự nhiên là 158,9km
2
; dân số năm
2006 là 161.260 người sống trên 24 xã và một thị trấn của huyện.Phía Tây và
Nam giáp thành phố Hải Dương,phía đông và nam giáp huyện Kim Thành và
huyện An Lão, phía Bắc giáp huyện Nam Sách.Bao quanh huyện là hệ thống các
sông lớn với 72 km
2
đê. Là huyện cửa ngõ phía đông thành phố Hải Dương,
Thanh Hà có các con sông lớn bao quanh tạo nên những tuyến giao thông đường
thuỷ quan trọng.
Mảnh đất Thanh Hà có lịch sử phát triiển lâu đời , trải qua hàng vạn năm
được phù sa sông Thái Bình và sông Kinh Thầy bồi đắp đã thành đồng bãi phù
sa châu thổ .Đồng thời Thanh Hà cũng là mảnh đất nằm trong vùng khí hậu
nóng ẩm , nguồn đất dồi dào, đất đai phì nhiêu thuận lợi cho việc sản xuất nông
nghiệp .Xuất phát từ vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên như vậy mà huyện Thanh
Hà về cơ bản vẫn là huyện thuần nông với 80%dân số gắn với cây lúa .
Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà có trụ sở nằm ở thi trấn Thanh Hà với diện
tích được uỷ ban nhân dân cấp huyện là 1000m
2
.Trước những nhiệm vụ mà cấp
trên giao phó các cán bộ và chấp hành viên của đội đã hăng hái tham gia tích
cực vào công tác thi hành án để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ngược thời
gian trỏ về trước là cả một chặng đường đã qua với nhiều khó khăn của ngày
4
mới tách huyện . Có thể nói ngày mới tách huyện cơ sở vật chất của cơ quan thi
hành án vô cùng thiếu thốn: trụ sở chật hẹp, phương tiện làm việc chưa đủ, lực
lượng cán bộ ít ỏi ( chỉ có 3 cán bộ trong đó có một chấp hành viên ) với trình
độ chuyên môn không đồng đều và phần lớn chưa có kinh nghiệm công
tác.Nhưng cho đến nay Thi hành án huyện Thanh Hà đã dần kiện toàn về mặt tổ
chức và cơ sở vật chất đã được đầu tư tương đối đầy đủ. Đặc biệt với vốn kiến
thức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ Thi hành án cộng với kinh
nghiệm đã qua công tác thi hành án dân sự đã góp phần nâng cao uy tín của cơ
quan. Năm 2006 đã có 6 biên chế chính thức trong đó có 2 chấp hành viên và
một đội trưởng. Ba biên chế đã tốt nghiệp đại học Luật chính quy còn lại là tốt
nghiệp đại học Luật hệ tại chức và trung cấp các ngành khác. Đây là bước tiến
triển tốt của đội ngũ cán bộ ở đây. Nhờ đó đã phần nào đáp ứng được nhiệm vụ,
yêu cầu ngày càng cao của cơ quan. Với số lượng cán bộ và chấp hành viên còn
ít như vậy nên số lượng công việc mà mỗi chấp hành viên phải đảm nhiệm là rất
lớn. Mỗi chấp hành viên phải thường xuyên giải quyết nhiều việc. Nói chung số
vụ việc, quyết định mà mỗi chấp hành viên phải giải quyết là tương đối nhiều.
Điều này đòi hỏi các chấp hành viên phải có chuyên môn nghiệp vụ, có kinh
nghiệm công tác để đạt hiệu quả cao trong công việc.
Mục 1. Các căn cứ trong pháp luật Hôn nhân gia đình năm 2000 về
giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong án kiện ly hôn.
Vấn đề chia tài sản của vợ chồng được quy định rõ trong luật hôn nhân
gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tài sản chung của vợ
chồng có thể được chia trong thời kì hôn nhân theo yêu cầu của các bên hoặc
theo quyết định của toà án khi một người phải thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tài
sản chung còn được chia khi một bên chết hoăc ly hôn. Khi giải quyết việc tranh
chấp tài sản trong đơn ly hôn, Toà án sẽ căn cứ vào các quy định trong luật hôn
nhân gia đình để giải quyết.
Ngoài những căn cứ về điều kiện kết hôn, thủ tục ly hôn, nguyên tắc chia
tài sản thì những căn cứ sau đựơc áp dụng trực tiếp nhất để giải quyết vấn đề
5
chia tài sản khi ly hôn. Theo điêù 96 luật hôn nhân gia đình 2000 thì chia tài sản
trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn thì được giải
quyết như sau:
Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài
sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình thì căn cứ vào công sức
đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung
cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài
sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình, nếu không thoả thuận được thì
yêu cầu toà án giải quyết.
Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ
chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể được chia theo phần thì khi ly
hôn,tài sản của vợ chồng đựơc trích ra từ khối tài sản chung đó đựơc chia như
sau:
Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó .
Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như
sau:
Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản, nêú cả
hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo
thoả thuận của hai bên, nếu không thoả thuận được thì yêu cầu toà án giải quyết
theo quy định của điều 95 của luật này( theo nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn)
Trong trường hợp chỉ có một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử
dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia
phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng.
Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây
hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền
sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định như trên.
Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất nông nghiệp để trồng
rừng, đất ở thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật dân
sự .
6
Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà có quyền sử dụng
đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử
dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy
định tại điều 96 của luật này.
Theo điều 98 chia nhà ở thuọcc sở hữu chung của vợ chồng : Trong
trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì
khi ly hôn được chia theo quy định tại điều 95 của luật này, nếu không thể chia
được thì bên đựợc tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá
trị chênh lệch mà họ được hưởng .
Theo điều 99. Giải quyết quyền lợi của vợ chồng khi ly hôn trong trường
hợp thuộc sở hữu riêng của một bên .
Trong trưồng hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào
sử dụng chung thì khi ly hôn nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu
nhà nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà ở căn cứ vào công
sức bảo duỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà .
Mục 2 : Các trường hợp giải quyết tranh chấp tài sản vợ chồng trong
các án kiện ly hôn.
Để quyết định công nhận ly hôn cho các đương sự, Toà án phải dựa vào
những căn cứ pháp luật nhất định để giải quyết. Nếu như trong đơn ly hôn các
bên thuận tình và thoả thuận giải quyết, chia tài sản theo yêu cầu mỗi bên thì toà
án sẽ căn cứ vào đó và giải quyết theo đơn và ra quyết định công nhận sự thoả
thuận này. Theo đó tài sản sẽ được các bên thoả thuận giải quyết, còn nếu như
trong đơn ly hôn chỉ có một bên yêu cầu xin được ly hôn và chia tài sản
chung,hoặc hai bên không tự thoả thuận được việc chia tài sản thì toà án sẽ căn
cứ vào quy định của pháp luật để chia cho phù hợp. Nếu như trong truờng hợp"
hôn nhân thực tế " thì toà án sẽ căn cứ vào quy định của pháp luật là nếu như họ
không đăng kí kết hôn trước khi luật hôn nhân gia đình năm 2000 có hiệu lực
thì sẽ được đăng kí kết hôn theo luật hôn nhân năm 2000 và nếu có đơn xin giải
quyết ly hôn thì toà sẽ giải quyết theo luật hôn nhân năm 2000.Trong trường hợp
sau khi luật hôn nhân gia đình năm 2000 có hiệu lực mà họ không đăng kí kết
7
hôn thì toà án sẽ không công nhận là vợ chồng và nếu có đơn yêu cầu tòa án giải
quyết ly hôn thì sẽ không được chấp nhận, còn tài sản thì sẽ chia như tài sản dân
sự tức là sẽ căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên, tài sản riêng của bên
nào vẫn thuộc về bên ấy. Vì không đựơc công nhận là vợ chồng nên tài sản này
không được coi là tài sản hợp nhất, mà chỉ được coi như tài sản dân sự sở hữu
chung theo phần. Trong trưòng hợp vợ chồng sống chung với nhau mà không có
đăng kí kết hôn, sau năm 1954 mà người chồng tập kết ra ngoài Bắc mà lấy
thêm vợ nữa thì trong trường hợp này nếu có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn của
một trong hai người vợ thì toà án sẽ công nhận cả hai người vợ này vì đây là do
hoàn cảnh đất nước như vậy. Còn nếu có yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài
sản Toà án sẽ giải quyết theo pháp luật hiện hành tức luật hôn nhân gia đình
năm 2000.
PHẦN IV
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ
CHỒNG TRONG CÁC ÁN KIỆN LY HÔN TẠI THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG .
Mục 1 .Tình hình thực tế giải quyết các tranh chấp tài sản trong các án
kiện ly hôn
Trong những năm gần đây tình trạng ly hôn có xu hướng gia tăng số án ly
hôn chiếm khoảng 50% số án dân sự . Tính riêng năm 2005-2006 đã có 413 án
ly hôn trong tổng số 946 án dân sự tại huyện Thanh Hà tỉnh Hải dương, trong
đó số án giải quyết theo điều luật chiếm 325 án còn lại là giải quyết theo yêu
cầu của các đương sự. Năm 2005có 186 án ly hôn thì năm 2006 con số này là
227 án tăng 12%so với năm 2005.Trong số các án ly hôn thì lý do ly hôn chủ
yếu là do tính tình không hợp nhau, không có con, một bên mất tích Nhiều
nhất là ở các xã Thanh An , Cẩm Chế, Thanh Bình.
8
Theo báo cáo tổng kết của cơ quan thi hành án thì số án dân sự tại huyện
Thanh Hà không thi hành được chiếm tỉ lệ khá lớn, trong số đó án ly hôn không
thi hành được chiếm khoảng 2/3 tổng số án dân sự .
Vấn đề tranh chấp tài sản của vợ chồng khó giải quyết khi không xác định
được tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng các bên không tự chứng minh
được là của mình, tranh chấp về quyền thừa kế tài sản để lại cho vợ hay chồng.
Nếu như trong các án dân sự,các đương sự sẽ phải thi hành trách nhiệm của
mình nếu không sẽ bị cưỡng chế nhưng đối với án kiện ly hôn, việc thi hành sẽ
khó giải quyết hơn vì vấn đề tài sản chung khó xác định, xác định tài sản riêng,
trách nhiệm nuôi con là điều không dễ dàng. Vì vậy trong các án kiện ly hôn cần
phải thi hành thì chỉ có khoảng 67% được các đương sự thực hiện nghiêm túc.
Số còn lại rất khó thi hành, cưỡng chế.
Trong các án kiện ly hôn thì vấn đề giải quyết tranh chấp về tài sản là
phức tạp và khó giải quyết. Khi có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn của các đương
sự, Toà án sẽ căn cứ vào lời khai và yêu cầu của đương sự để giải quyết. Việc
xác định phân chia tài sản là điều quan trọng và là cơ sở để cơ quan có thẩm
quyền căn cứ giải quyết dựa trên luật Hôn nhân gia đình năm 2000 tức là có tính
đến công sức đóng góp của mỗi bên và nguyên tắc bảo vệ bà mẹ trẻ em.
Mục 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng
trong các án kiện ly hôn.
Các căn cứ pháp luật đều phải dựa trên luật Hôn nhân gia đình để giải
quyết những tranh chấp về tài sản của vợ chồng thì phải dựa vào đơn yêu cầu ly
hôn của đương sự và xác định được số tài sản chung của đương sự. Việc xác
định số tài sản chung hay riêng của đương sự rất khó xác định khi tài sản chung
đang do một người quản lý, tài sản chung đang ở nước ngoài, tài sản riêng như
nữ trang có giá trị lớn.
Như vậy có thể qua một số vụ việc dưới đây để làm rõ vấn đề này.
*vụ việc thứ nhất:
Tại bản án số 16 ngày 28/9/2004 của TAND huyện Thanh hà
9
Chị Phan Thanh Mai và anh Buỳ Duy An đều trình bày: anh chị kết hôn
hoàn toàn tự nguyện và có đăng kí tại UBND xã Thanh lang ngày20/11/2001.
Sau khi cưới thì nảy sinh mâu thuẫn và chị Mai đã bỏ về nhà ngày 6/11/2003
.Nay anh chị xác định tình cảm không còn và xin được ly hôn .Về tài sản vợ
chồng hiện có anh chị đều xác nhận:tiền bán ruộng đất của chị Mai 1293,1m cho
anh Tăng Bá Thiện 14.800.000đ,sau đó vợ chồng đã mua ruộng của anh Tăng
Bá Quảng 1432m
2
với giá 16.000.000đ trên diện tích mua anh An và chị Mai đã
lập vồng cây ăn quả và mua cây tre dóc rào nay hai bên thoả thuận trị giá cả lập
vồng là 19.000.000đ còn cây cối trị giá 2.280.000đ, tiền mua dóc 1.500.000đ,
cộng 22.780.000đ. Khi chưa làm nhà ở trên diện tích này vợ chồng đã xây dựng
một chuồng lợn và vật liệu xây dựng làm chuồng để chăn vịt, ngan gà trên diện
tích đất của gia đình ông Tỵ 2 bên thoả thuận trị giá 2.500.000đ . Tổng giá trị 2
bên thoả thuận trị giá 25.280.000đ .
Về công nợ : anh An trình bày quá trình lập vườn, làm chuồng lợn, mua
cây cối trồng, mua vật liệu làm chuồng chăn nuôi ngan gà, vịt, mua thức ăn cho
gia súc ,mua đạm,lân, kali, hiện còn nợ anh Tăng Bá Quảng 500.000đ,chị Tăng
Thị Dương 300.000đ, bà Thắm 800.000đ, mẹ anh vay hộ nông dân xã 300.000đ,
vợ chồng anh Bích, chị Lịch 400.000đ, anh Mích 11 xe cát 400.000đ, anh Sự,
chị Tẹo 1500.000đ, anh Quang 1.800.000đ, chị Yến 1500.000đ, chị Thảo 2 lần
mua chịu hàng 3.500.000đ, chị Mai 200.000đ, chị Trâm 50.000đ, bà Bổng
90.000đ, chị Hương 50.000đ, chị Nụ 200.000đ, anh Thảng 50.000đ, thuê chị
Thuý vằm đất 750.000đ, chị Thảo 1000.000đ.
Khi ly hôn lời khai có tại hồ sơ anh An đề nghị diện tích lập vườn chia 3
cho hai vợ chồng và con, còn các tài sản khác chia đôi bằng hiện vật vì anh
không có tiền trả . Về công nợ anh khai đề nghị chị Mai phải có trách nhiệm.
Còn chị Mai lời khai có tại hồ sơ cũng như tại phiien toà đề nghị vì bán diện tích
ruộng tiêu chuẩn của chị mua ruộng của anh Quảng nên chị đề nghị trả chị 2 sào
còn lại chia đôi còn các tài sản khác trên đất của bố mẹ anh An để quản lý cây
cối trên phần đất của ai người đó quản lý sở hữu, chênh lệch chia đôi. Căn cứ
trình bày lời khai của các đương sự Toà án đã xác định điều tra thể hiện chứng
10
cứ có tại hồ sơ Hội đồng xét xử toà án nhân dân huyện Thanh Hà thấy vợ chồng
chị Phan Thị Mai và anh Bùi Duy Anh kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng kí
tại UBND xã Thanh Lang.
Diện tích lập vườn 1432m
2
mua của anh Quảng là nguồn gốc bán
1293,1m
2
tiêu chuẩn ruộng đất canh tác của chị Mai, gia đình bà Thuý chia cho
nay chị Mai xin lại 720m
2
ruộng được chấp nhận là tài sản riêng. Số diện tích còn
lại chia bằng nhau.
Về các khoản nợ, Toà án xác minh là đã trả hết, nợ ít khai nhiều. Riêng
khoản nợ 3000.000đ anh An khai nhờ mẹ anh là bà Bình vay hộ ở Hội nông dân
xã thì không có tên bà trực tiếp vay.
Do vậy có đủ có đủ căn cứ anh An, Chị Mai khi ly hôn còn nợ
11.063.000đ vợ chồng phải có nghĩa vụ thanh toán.
Xét thấy anh An sở hữu tài sản nhiều hơn chị Mai số tiền 598.500đ tính chung
khoản nợ mà anh An mua hàng, còn sau khi chị Mai đi là khoản nợ của riêng
của anh. Chị Mai phải trả cho anh An 1500.000đ giá trị nợ chênh lệch. Hội đồng
xét xử toà án nhân dân huyện Thanh Hà đã xử giao cho chị Mai được sử dụng
1076m
2
đất vườn trị giá 14.250.000đ được sở hữu toàn bộ cây cối, tre dóc tài sản
khác trên đất được giao giá trị 2.835.000đ.
Giao cho anh Bùi Duy An phần đất còn lại diện tích 356,2m
2
giá trị
4.750.000đ. Được sở hữu toàn bộ cây cối, tre dóc và tài sản khác trên đất trị giá
945.000đ.
Giao cho anh An được sở hữu 1 chuồng lợn xây trị giá 2.500.000đ.
Về công nợ : giao cho chị Mai trả nợ bà Phạm Thị Thuý 600.000đ , anh
Tăng Bá Quảng 300.000
đ
, chị Yến 517.000
đ
, bà Nguyễn Thị Thảo 1.737.000
đ
.Tổng phải trả là 3.196.000đ, nhưng phải trả chênh lệch nợ cho anh An
1.500.000
đ
. Giao cho anh An phải trả nợ cho gia đình chị Tăng Thị Dương
3.000.000
đ
anh Tăng Bá Thưởng 60.000
đ
, trả 3000.000
đ
cho bà Bình, ông
Nguyễn Khắc Mích 400.000
đ
, chị Tăng Thị Nụ 200.000
đ
, bà Tăng Thị Thắm
700.000
đ
. Tổng nợ phải trả 7.867.000
đ
.
11
Về án phí : chị Mai phải trả chịu 50.000
đ
án phí ly hôn, án phí chia tài sản
chị Mai phải trả 854.000
đ
án phí chia tài sản .
Qua vụ việc trên ta có thể thấy rằng hội đồng xét xử Hội đồng xét xử Toà
án nhân dân huyện Thanh Hà đã áp dụng điều 89,90,92,94,95,97 luật Hôn nhân
gia đình , nghị định 70/CP quy định án phí dân sự và án phí chia tài sản, thông
tư 01/LN quy định lãi xuất chậm thi hành án dân sự. Căn cứ để ra quyết định
như vậy, Toà án đã xác định quan hệ của anh An và chị Mai là quan hệ vợ
chồng hợp pháp có đăng kí kết hôn theo luật định, lý do ly hôn được toà chấp
nhận là hợp lý. Vấn đề chia tài sản được yêu cầu giải quyết trong đơn được xác
định theo nguyên tắc chia tài sản của luật hôn nhân gia đình năm 2000. Tài sản
riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên ấy. Tài sản chung về
nguyên tắc được chia đôi có căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên. Về
phần công nợ thì Toà xác định là nợ chung của 2 vợ chồng nên cũng được chia
đôi nhưng vì chị Mai phải nuôi con nhỏ, nên khi ly hôn được trả phần nợ ít hơn
anh An. Như vậy Toà đã căn cứ vào nguyên tắc chia tài sản vợ chồng có tính
đến việc ưu tiên quyền phụ nữ và trẻ em. Vì tài sản chung ở đây được xác định
rõ ràng nên việc giải quyết tranh chấp tài sản được giải quyết theo đúng tinh
thần luật hôn nhân gia đình. Trong trường hợp trên vấn đề giải quyết tranh chấp
tài sản của vợ chồng chị Mai và anh An đã được toà án giải quyết theo luật hôn
nhân và gia đình năm 2000.
* Vụ việc thứ 2
TAND huyện Thanh Hà xét xử ly hôn giữa chị Đỗ Thị Yến và anh
Nguyễn Văn Thành, trú quán tại Thuý Lâm -Thanh Sơn -Thanh hà .
Chị Đỗ Thị Yến và anh Nguyễn Văn Thành được gia đình 2 bên gia đình tổ
chức cưới vào tháng 11/1987. Hai bên đủ điều kiện kết hôn nhưng do không am
hiểu pháp luật nên không đăng kí kết hôn .
Sau ngày cưới mâu thuẫn phát sinh khi anh Thành hay đi cờ bạc đánh đập
chị Yến.Vợ chồng không ăn ở với nhau từ tháng 6 /2003 đến nay và xin được ly
hôn .Toà xét thấy chị Đỗ Thị Yến và anh Thành xây dựng với nhau trên cơ sở tự
nguyện, 2 bên đã đủ tuổi đăng kí kết hôn. Song do không am hiểu pháp luật nên
12
đã không đăng kí kết hôn. Mặc dù luật hôn nhân gia đình năm 2000 đã khuyến
khích tạo điều kiện để họ đăng kí kết hôn nhưng 2 người không thực hiện. Vì
vậy căn cứ vào khoản 2 NQ55 của Quốc hội nam nữ chung sống với nhau như
vợ chồng từ 3/1/1987 đến ngày 1/1/2003 mà không đăng kí thì không được
công nhận là vợ chồng.
Về quan hệ con chung : chị Yến nhận nuôi 2 con
Về quan hệ tài sản : Chị Yến và anh Thành thừa nhận xây 01 gian nhà
ống, 01 gian bếp, 01 gian nhà tắm, 01 giếng khơi, 01 hố tiêu diện tích 721m
2

11 cây vải.
Chị Yến khai vợ chồng làm nhà không có tiền còn vay của mẹ đẻ chị
12.000.000đ,vay anh Vịnh 3.000.000đ để chữa bệnh cho cháu Đô, và vay cậu
Ghi 1.500.000đ từ năm 2003. Khi bán vải năm 2003 trả cậu Ghi xong. Ngoài ra
chị đi lấy chồng gia đình chị cho 400.000đ mua diện tích của bố chồng là 10
thước có văn bản viết bán cho chị, trong đó có 04 cây vải sau gia đình anh
Thành cho 05 thước có 01 cây vải tổng cộng 360m
2
đất thổ cư .Toàn bộ tài sản
trên vợ chồng không tự thoả thuận đã mời Hội đồng định giá .
Ngoài ra chị Yến và anh Thành tự thoả thuận về diện tích 721m
2
ở khu cống
vôi có 16 thước trồng được 6 cây vải, ở khu đồng đất ông Quảng 5 thước trồng
được 4 cây vải tự chia theo khẩu. Khi ly hôn chị Yến đề nghị 10 thước đất của
chị là tài sản riêng. Anh Thành không thừa nhận vay của mẹ vợ số tiền làm nhà
cũng như của anh Vinh, cậu Ghi. Khi làm nhà vợ chồng còn thu hoạch vải để
làm nhà , cháu Đô ốm đi chữa bệnh hết 5.000.000đ. Thừa nhận số tiền mua
vườn gia đình vợ cho, sau gia đình anh cũng cho 5 thước ở khu ông Quảng, 16
thước ở khu cống vôi gồm 8 cây vải chia theo tiêu chuẩn hai bên tự thoả thuận,
ngoài ra anh Thành khai vợ chồng còn mua của anh Lừng 12 thước ruộng có 5
cây vải, nếu toà giải quyết cho ly hôn anh đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Diện tích 721m
2
thoả thuận tự chia anh cũng nhất trí như hội đồng định giá. Toà
đã tiến hành xác minh về nguồn gốc tài sản của vợ chồng chị Yến và anh Thành
thì thấy rằng: khi 2 anh chị xây dựng với nhau được 1 năm . Năm 1988 anh
Thành đi làm thuê bị tai nạn lao động có ảnh hưởng đến dây thần kinh, ăn nói
13
không được bình thường. Toàn bộ chi tiêu trong nhà cũng như xây dựng chị Yến
đứng ra lo toan vay mượn để làm nên khối tài sản trị giá 23.670.000
đ
và trồng 11
cây vải trị giá 4.000.000
đ
, trong khi các cháu còn nhỏ, cháu Đô phải đi viện nên
nhiều lần nên chữa bệnh tốn tiền, nhưng anh Thành khai không vay mượn là
không có căn cứ, vì vậy bà Đọc khai bà cho vay 12.000.000
đ
khi làm nhà bà cho
2.000.000
đ
, ngoài ra thu hoạch vải còn vải đong ăn cho cả nhà, khi vay mượn chi
tiêu vợ chồng vẫn hoà thuận anh Thành cố tình không biết nguồn thu không có,
đi làm thì không. Vợ chồng chỉ trông nom vào mấy cây vải vừa mới trồng, vì
vậy xác định làm nhà có vay bà Đọc 10.000.000
đ
, vay tiền chữa bệnh cho cháu
Đô 3.000.000
đ
. Khi ly hôn hai bên đều phải có trách nhiệm thanh toán .
Về chỗ ăn ở của vợ chồng, Toà án cũng xem xét hiện tại chị Yến ba mẹ
con chị đều đi ở nhà, tuy làm nên nhưng cả 2 đều bỏ, các đương sự đề nghị chia
đôi. Song diện tích 14 thước lại là đất 721m
2
không được làm nhà nhưng vợ
chồng vẫn đi làm. Xét chị Yến nuôi 2 con nhỏ chỗ ăn ở không có, nên giao cho
chị Yến quản lý và chia trả anh Thành bằng tiền. Anh Thành đã ở với gia đình,
hiện tại chỉ có 1 mình anh Thành ở với bố mẹ, đất lại riêng, như vậy là phù hợp
đảm bảo quyền lợi của các đương sự .
Ngoài diện tích 721

m
2
được chia khi chị Yến khi về gia đình chồng, gia
đình chị cho 400.000
đ
mua đất của bố anh Thành khi bán có văn bản Bồng viết
là bán cho con dâu là Yến 10 thước có 04 cây vải. Sau gia đình cho anh Thành
05 thước và 01 cây vải, nay chị Yến cho là tài sản riêng của chị, nhưng từ khi
vợ chồng ăn ở vẫn thu nhập chi tiêu. Toà cũng xét đến đất thổ cư là lâu dài khi
xây dựng với anh Thành cả 2 gia đình đều cho, khi ly hôn chị lại phải nuôi con
nhỏ nên giao cho chị phần nhiều hơn, vì công sức đóng góp duy trì phát triển
tạo lập nhiều hơn .
Ngoài ra anh Thành còn khai vợ chồng mua của chị Lừng 12 thước ruộng
có 06 cây vải, chị Yến không thừa nhận. Toà án đã xác minh không đủ căn cứ
kết luận vợ chồng không mua ruộng của anh Lừng .
Từ nhận xết kết luận trên HĐXX toà án nhân dân huyện Thanh Hà căn cứ
điểm b, khoản 3, NQ35 của quốc hội, Điều 11 khoản 1, điều 17, khoản 2,3 Điều
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét