Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

giám hộ theo quy định của pháp luật hiện hành-một số vấn đề lí luận và thực tiễn

A. Đặt vấn đề
Giám hộ là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam, các
quy định trong chế định thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước và xã hội ta
đối với người chưa thành niên có hoàn cảnh đặc biệt và người mất năng lực hành
vi dân. Chế định giám hộ được quy định ở phần thứ nhất mục 4, chương III của
Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 với 16 điều (từ điều 58 dến điều 73) với
những sửa đổi, bổ sung quan trọng. Để nghiên cứu rõ hơn về quy định của pháp
luật hiện hành về giám hộ cũng như tìm hiêu thực tiễn áp dụng việc giám hộ em
xin chọn đề tài “ giám hộ theo quy định của pháp luật hiện hành-một số vấn đề
lí luận và thực tiễn”
B. Giải quyết vấn đề
I. Một số vấn đề lí luận về giám hộ
1. Khái niệm giám hộ
Điểm 1 điều 58 BLDS định nghĩa về giám hộ: “Giám hộ là việc cá nhân,
tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được nhà nước quy định hoặc
được đề cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
những người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi
chung là người đựơc giám hộ)”
Giám hộ là chế định mang tính tổng hợp của nhiều ngành luật. Các quy
định của giám hộ trước tiên được quy định như là một chế định của Luật hôn
nhân và gia đình liên quan đến việc “chăm sóc, giám dục và bảo vệ quyền lợi của
người chưa thành niên” (Điều 47 luật HNGD) mà vì nhiều nguyên nhân khách
quan không có sự chăm sóc của cha, mẹ. Điều này được xác định lại ở điểm A
khoản 2 điều 58 BLDS.
* Đặc điểm của giám hộ
- Giám hộ là một quan hệ pháp luật dân sự được xác lập giữa người giám
hộ và người được giám hộ theo đó người giám hộ sẽ đại diện cho người được
giám hộ trong các quan hệ với nhà nước và hầu hết các giao dịch dân sự khác.
1
- Chủ thể của quan hệ giám hộ bao gồm người giám hộ và người được
giám hộ. Trong đó người giám hộ có thể là cá nhân hoặc tổ chức xã hội. Cá nhân
người giám hộ thường được xác định theo quan hệ hôn nhân, huyết thống người
được giám hộ là người chưa thành niên, không còn cha, mẹ, không xác định
được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự; bị tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ; tuy còn cha, mẹ nhưng cha,
mẹ không còn điều kiện chăm sóc…
- Quan hệ giám hộ được phát sinh theo quy định của pháp luật (giám hộ
đương nhiên) hoặc theo ý chí tự nguyện của người giám hộ (giám hộ được cử)
tuy nhiên đều phải tuân theo quy định của pháp luật.
- Mục đích của việc giám hộ là đảm bảo cho những người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự được chăm sóc, giáo dục, được bảo vệ
các quyền và lợi ích hợp pháp.
* Ý nghĩa của chế định giám hộ
- Về mặt pháp lý: chế định giám hộ tạo ra cơ sở để người được giám hộ có
thể hiện thực hóa các quyền mà pháp luật quy định cho mình. Chế định này còn
bảo đảm sự bình đẳng giữa các công dân trong xã hội trong việc được hưởng các
quyền năng do luật định và việc thực thi các quyền đó trên thực tế. Mặt khác chế
định tạo ra cơ sở pháp lý cho việc nâng cao trách nhiệm của người giám hộ đối
với người được giám hộ.
- Về mặt xã hội: chế định giám hộ góp phần phát huy truyền thống đạo
đức tốt đẹp của dân tộc ta, truyền thống tương thân tương ái. Xây dựng và củng
cố tình cảm gắn bó tốt đẹp giữa các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng
xã hội. Chế định này còn thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của Nhà nước đối
với những người có hoàn cảnh đặc biệt nói trên.
2
2. Người được giám hộ
Theo quy định tại khoản 2 điều 58 BLDS năm 2005 thì người được giám
hộ bao gồm:
- Người chưa thành niên: người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi
(điều 18 BLDS). Người chưa thành niên được giám hộ khi ở vào một trong các
hoàn cảnh sau: không còn cha, mẹ; không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ
đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; bị tòa án
hạn chế quyền của cha, mẹ; hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục
người chưa thành niên và nếu cha, mẹ có yêu cầu.
- Người mất năng lực hành vi dân sự: người chưa đủ mười lăm tuổi không
còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành
vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị tòa án hạn chế quyền của cha,
mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên
đó.
Theo quy định này thì những người được giám hộ có thể phân chia thành
các nhóm sau:
+ Những người bắt buộc phải có người giám hộ bao gồm: người mất năng
lực hành vi dân sự; người dưới 15 tuổi không còn cha, mẹ, không xác định được
cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự, bị tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ.
+ Người được giám hộ theo yêu cầu của cha, mẹ khi cha, mẹ không có
điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên.
+ Những người từ 15 đến dưới 18 tuổi không bắt buộc phải có người giám
hộ nếu họ phát triển bình thường về thể chất.
3
3. Người giám hộ
Người giám hộ có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức được pháp luật quy
định hoặc được cử làm người giám hộ để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Để trở thành người giám hộ
cần có những điều kiện được quy định tại điều 60 BLDS:
“Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
2. Có tư cách đạo đức tốt; không phải là người đang bị truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong
các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của
người khác;
3. Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ.”
Về hình thức giám hộ, luật dân sự quy định 2 hình thức giám hộ đó là
giám hộ đương nhiên và giám hộ được cử.
- Giám hộ đương nhiên: là hình thức do pháp luật quy định, người giám
hộ đương nhiên chỉ có thể là cá nhân. Người giám hộ đương nhiên đối với người
được giám hộ là những người thân thiết, gần gũi nhất đối với người được giám
hộ, được xác định theo quan hệ hôn nhân hoặc tùy trường hợp cụ thể. Đối với
giám hộ đương nhiên pháp luật đã quy định trước ai sẽ thuộc đối tượng có quyền
giám hộ. Cứ theo thứ tự luật định mà họ đương nhiên là người giám hộ đối với
người được giám hộ không đòi hỏi bất cứ trình tự thủ tục nào để cử làm người
giám hộ.
+ Giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên.
Giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên là giám hộ do pháp luật
quy định mang tính bắt buộc được đặt ra đối với người thân thích của người
chưa thành niên, với điều kiện họ có đủ các yêu cầu quy định tại điều 61 BLDS.
Như vậy theo quy định tại điều này thì: trong trường hợp anh, chị ruột không có
thỏa thuận khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của em chưa thành niên,
4
nếu anh cả khoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị
tiếp theo là người giám hộ. Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc
anh cả, chị cả không có đủ điều kiện thì ông nội, bà nội ông ngoại, bà ngoại là
người giám hộ. Nếu không có ai trong số những người thân thích này có đủ điều
kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ. Ông nội, bà
nội, ông ngoại, bà ngoại có đủ điều kiện là người giám hộ đương nhiên của
người chưa thành niên khi cháu không còn cả cha và mẹ hoặc còn cha mẹ nhưng
cha mẹ không đủ điều kiện và cháu không có anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột,
chị ruột không đủ điều kiện làm người giám hộ.
+ Giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự.
Khái niêm giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự
cũng được quy định tại điều 62 BLDS đối với người chưa thành niên. Người
giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định theo
thủ tục sau:
Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám
hộ. Nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.
Trong trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một
người mất năng lực hành vi dân sự còn người kia không có đủ điều kiện làm
giám hộ thì người con cả là người làm giám hộ, nếu con cả không có đủ điều
kiện thì người con tiếp theo có đủ điều kiện là người làm giám hộ.
Trong trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có
vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người
giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.
- Giám hộ được cử.
Là hình thức giám hộ theo trình tự do pháp luật quy định. Nếu không có
người giám hộ đương nhiên thì UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người
giám hộ có trách nhiệm đề nghị một cá nhân của tổ chức làm giám hộ đều có thể
trở thành người giám hộ được cử.Việc cử người giám hộ được thực hiện theo 2
trường hợp cụ thể: không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại điều
61 và điều 62 BLDS năm 2005.
5
Ngoài ra, trong chế định giám hộ không đề cập tư cách giám hộ của cha,
mẹ với con chưa thành niên nhưng có thể suy đoán mặc nhiên vai trò của cha,
mẹ đối với các con với tư cách là người đại diện đương nhiên cho con chưa
thành niên.
4. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ
a. Nghĩa vụ của người giám hộ
Tại các điều 65, điều 66, điều 67 BLDS 2005 có quy định rõ về nghĩa vụ
của người giám hộ đối với người được giám hộ.
- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ 15
tuổi.
Người giám hộ của người được giám hộ chưa đủ 15 tuổi có các nghĩa vụ
sau đây:
+ Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ
+ Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường
hợp pháp luật quy định người chưa đủ 15 tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện
giao dịch dân sự.
+ Quản lí tài sản của người được giám hộ.
+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ 15 tuổi
đến chưa đủ 18 tuổi.
Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ 15 tuổi
đến chưa đủ 18 tuổi bao gồm các nghĩa vụ: đại diện cho người được giám hộ
trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định từ đủ 15 tuổi đến
chưa đủ 18 tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, quản lí
tài sản của người được giám hộ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được
giám hộ.
- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người mất năng lực hành vi dân sự.
Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ
sau đây:
6
+ Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ. Đây là
dấu hiệu rất quan trọng để phân biệt giám hộ với đại diện.
+ Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự. Mọi giao
dịch dân sự có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
đều do người giám hộ thực hiện với tư cách là người dại diện theo pháp luật.
+ Quản lí tài sản của người được giám hộ: người giám hộ có trách nhiệm
quản lí tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; có trách
nhiệm bảo quản, gìn giữ tài sản, không làm hư hỏng, mất mát tài sản của người
được giám hộ; không được cho, tặng tài sản của người được giám hộ; chỉ sử
dụng định đoạt tài sản vì lợi ích của người được giám hộ. Đối với những giao
dịch có giá trị lớn thì phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Nhằm ngăn chặn sự lạm quyền của người giám hộ, pháp luật quy định
những giao dịch dân sự của người giám hộ đối với người được giám hộ liên quan
đến tài sản đều vô hiệu. Bởi người giám hộ là người đại diện cho người được
giám hộ cho nên những giao dịch dân sự này có sự “hỗn nhập” tư cách chủ thể
trong một quan hệ. Ngoài ra, người giám hộ đối với người từ đủ 6 tuổi đến dưới
18 tuổi có năng lực hành vi một phần, với tư cách là người đại diện kiểm soát
việc thực hiện các giao dịch do người được giám hộ thực hiện dưới hình thức
“đồng ý” – đồng ý việc thực hiện giao dịch cũng như nội dung của giao dịch đó.
b. Quyền của người giám hộ
Người giám hộ có các quyền được quy định tại điều 68 BLDS, ngoài ra
còn có thể có các quyền khác được quy định trong văn bản cử giám hộ (điều 64
BLDS). Các quyền của người giám hộ nhằm thực hiện mục đích của việc giám
hộ là chăm sóc, chữa bệnh và bảo vệ quyền lợi của người được giám hộ.
Bên cạnh nghĩa vụ đối với người được giám hộ thì người giám hộ có các
quyền sau đây:
- Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc,chi dùng cho
những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ: Trong trường hợp người được
giám hộ có tài sản thì người được giám hộ không chỉ có nghĩa vụ quản lí mà còn
7
có quyền quản lí tài sản đó để chăm sóc chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu,
hợp lí của người được giám hộ. Nhu cầu cần thiết của người được giám hộ cần
xác định căn cứ vào người được giám hộ.
- Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lí tài sản của người
được giám hộ. Trong trường hợp người được giám hộ phải bỏ ra một chi phí cần
thiết thì được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lí tài sản của người
được giám hộ.
- Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện các giao
dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Người giám hộ có thể thực hiện việc mua bán trao đổi, cho mượn, cho thuê, cho
vay, cầm cố thế chấp…tài sản của người được giám hộ. Tuy nhiên pháp luật quy
định rõ khi người giám hộ thực hiện các giao dịch đối với tài sản có giá trị lớn
của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Như vậy các quyền mà pháp luật quy định cho người giám hộ tương ứng với
nhũng nghĩa vụ mà họ phải làm. Các quy định về quyền và nghĩa vụ phải làm
của người giám hộ xuất phát từ tình cảm thương yêu, sự tự nguyện cưu
mang,đùm bọc người được giám hộ mà không đòi hỏi một lợi ích vật chất nào
cho việc giám hộ của mình.
5. Giám sát việc giám hộ
Giám sát việc giám hộ là quy định nhằm bảo đảm việc giám hộ được thực
hiện theo đúng Pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám
hộ. Điều 59 BLDS hiện hành quy định: “Người thân thích của người được giám
hộ có trách nhiệm cử người đại diện làm người giám sát việc giám hộ để theo dõi,
đôn đốc, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ, xem xét, giải quyết
kịp thời những đề nghị , kiến nghị của người giám hộ liên quan đến việc giám
hộ.”
Vai trò của người giám sát được thể hiện trước hết là bảo đảm thực hiện
một cách đúng đắn các hành vi sau đây:
- Giám sát việc người giám hộ thực hiện định đoạt tài sản của người được
giám hộ để chi dung cho những nhu cầu cần thiết của người được giám hộ có
đúng mục đích và trung thực hay không.
8
- Giám sát một số giao dịch dân sự mà pháp luật quy định cần phải có sự
đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

6. Đăng kí việc giám hộ
Đăng kí việc giám hộ được hiểu là hành vi của Cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền ghi nhận việc xác lập quan hệ giám hộ. Là cơ sở pháp lí làm phát
sinh các quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ giám hộ.
Chế định giám hộ có liên quan đến việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự. Bởi vậy việc giám hộ phải được đăng kí tại Cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền.
Quy định về đăng kí giám hộ được quy định chi tiết tại Nghị định
158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng kí quản lí hộ tịch:
- Về thẩm quyền đăng kí giám hộ:
UBND cấp xã nơi cư trú của người giám hộ hoặc nơi có trụ sở của cơ
quan, tổ chức đảm nhận việc giám hộ thực hiện việc đăng kí giám hộ.
- Về thủ tục đăng kí việc giám hộ:
+ Người được cử làm giám hộ phải nộp Giấy cử giám hộ. Giấy cử giám
hộ do người cử giám hộ lập; nếu có nhiều người cùng cử một giám hộ thì tất cả
phải cùng kí vào giấy cử giám hộ.
+ Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy
việc giám hộ đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, thì UBND xã đăng kí
việc giám hộ.Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn trên kéo dài thêm
không quá 5 ngày.
+ Khi đăng kí việc giám hộ, người giám hộ và người được làm cử giám hộ
phải có mặt. Cán bộ tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng kí giám hộ.Chủ tịch ủy ban
nhân dân cấp xã kí và cấp công nhận việc giám hộ và người cử giám hộ mỗi bên
một bản chính quyết định công nhận việc giám hộ. Bản sao quyết định công
nhạn việc giám hộ được cấp theo yêu cầu của người giám hộ và người được cử
làm giám hộ.
+ Trong trường hợp người được cử làm giám hộ có tài sản riêng, thì người
cử giám hộ phải lập danh mục tài sản và ghi rõ tình trạng của tài sản đó, có chữ
kí của người cử giám hộ và người được cử làm giám hộ.
9
Như vậy đăng kí giám hộ là thủ tục pháp lí bắt buộc để việc nhận giám hộ
phát sinh hiệu lực pháp lí. Thời điểm đăng kí giám hộ sẽ làm phát sinh các
quyền và nghĩa vụ của người giám hộ.
- Mục đích và ý nghĩa của việc đăng kí giám hộ
+ Để người giám hộ ý thức rõ vai trò của mình là người chăm sóc, bảo vệ
quyền lợi cho người được giám hộ, biết rõ quyền và nghĩa vị của mình sẽ phải
làm trong khi thực hiện việc giám hộ.
+ Để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm giám sát việc giám
hộ biết việc giám hộ xảy ra, có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra đôn đốc người
giám hộ trong việc thực hiện giám hộ. Xem xét, giải quyết kịp thời các khiếu nại
có liên quan đến giám hộ.
+ Là cơ sở để xác định tư cách của người giám hộ khi tham gia vào GDDS
hoặc các tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được giám
hộ.
7. Thay đổi và chấm dứt giám hộ
a. Các trường hợp thay đổi giám hộ.
Bộ luật dân sự 2005 quy định người giám hộ được thay đổi trong các
trường hợp sau đây:
+ Người giám hộ không còn đủ các quy định quy định tại Điều 60 của bộ
luật này;
+ Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố mất tích, tổ
chức làm giám hộ chấm dứt hoạt động;
+ Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vị giám hộ
+ Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám
hộ
+ Người giám hộ có quyền đề nghị thay đổi giám hộ khi họ không thể
đảm bảo tốt cho việc giám hộ. Đề nghị của họ đưa ra đương nhiên được pháp
luật chấp nhận, việc giám hộ được chuyển giao cho người khác có đủ điều kiện
làm giám hộ.
Khi thay đổi người giám hộ thì quan hệ giám hộ vẫn còn. Do đó những
quyền và nghĩa vụ của người của người giám hộ đã chấm dứt còn người tiếp
nhận việc giám hộ sẽ tiếp tục thực hiện việc giám hộ đó.
10
Pháp luật hiện hành đã có sự quy định cụ thể phải có sự chuyển giao giám
hộ của người giám hộ được cử.
- Khi thay đổi người giám hộ thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có
người giám hộ mới, người đã thực hiện việc giám hộ phải chuyển giao giám hộ
cho người thay thế mình
- Việc chuyển giao giám hộ phải được lập thành văn bản, ghi rõ lí do
chuyển giao và tình trạng tài sản của người được giám hộ tại thời điểm chuyển
giao. Người cử người giám hộ giám sát việc giám hộ chứng kiến việc chuyển
giao giám hộ.
- Nếu bị thay đổi người giám hộ vì lí do người giám hộ là cá nhân chết,bị
tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự,
mất tích; tổ chức làm giám hộ chấm dứt hoạt dộng thì người cử người giám hộ
lập biên bản, ghi rõ tình trạng tài sản của người đực giám hộ, quyền, nghĩa vụ
phát sinh trong quá trình thực hiện việc giám hộ để chuyển giao cho người giám
hộ mới với sự chứng kiến của người giám sát việc giám hộ.
b. Các trường hợp chấm dứt việc giám hộ
Giám hộ là một chế định được thực hiện vì lợi ích của người được giám
hộ nhưng khi người giám hộ đã có thể tự mình thực hiện được các quyền của
mình, thì việc tiếp tục duy trì quan hệ giám hộ sẽ là sự ràng buộc không cần
thiết, thậm chí là hạn chế với người đó. Chính vì thế vấn đề chấm dứt giám hộ
được đặt ra. Bên cạnh đó vì lí do khách quan (người giám hộ chết) thì giám hộ
không còn ý nghĩa.
Các trường hợp chấm dứt giám hộ:
+ Người giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: nghĩa là người
giám hộ mà chưa thành niên thì việc giám hộ chám dứt khi người đó đã thành
niên (đủ từ 18 tuổi trở lên) nếu người giám hộ là người mất năng lực thì việc
giám hộ sẽ chấm dứt khi người đó chữa khỏi bệnh, có năng lực đẻ nhận thức và
làm chủ được hành vi của mình.
11
+ Người giám hộ chết: hiện nay thì pháp luật chưa quy định trường hợp
người giám hộ chết theo tự nhiên hay chết theo pháp luật(bị Tòa án tuyên bố
chết)
Trường hợp chết theo tự nhiên thì chấm dứt việc giám hộ là điều đương
nhiên.
Tuy nhiên trường hợp chết theo pháp luật thì có việc áp dung không thống
nhất. Có quan điểm cho rằng trường hợp này cũng sẽ được áp dụng như trường
hợp chết tự nhiên. Tuy nhiên quan điểm khác cho rằng quy định như vậy là chưa
thật chính xác vì nếu người bị tòa tuyên là chết đó nếu trở về vì vậy hậu quả của
trường hợp này sẽ phải áp dụng theo quy định tại Điều 82 BLDS.
+ Người được giám hộ được nhận làm con nuôi: khi người được giám hộ
được nhận làm con nuôi thì việc giám hộ sẽ chấm dứt và người đó được giao cho
cha, mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc, trông nom, giáo dục…So với quy định tại Bộ
luật năm 1995 thì quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự 2005 bổ sung thêm
quy định tại khoản 4 về việc giám hộ chấm dứt khi người được giám hộ được
nhận làm con nuôi nhằm phù hợp hơn, với quy định về con nuôi trong luật hôn
nhân và gia đình.
Hậu quả của chấm dứt giám hộ:
- Khi việc giám hộ chấm dứt thì trong thời hạn 3 tháng, kể từ thời điểm
chấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản với người được giám
hộ hoặc với cha, mẹ của người được giám hộ.
Trong trường hợp người được giám hộ chết thì trong thời hạn 3 tháng, kể
từ thời điểm chấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản với người
thừa kế của người được giám hộ; nếu hết thời hạn đó mà chưa xác định được
người thừa kế thì người giám hộ tiếp tục quản lí tài sản của người được giám hộ
cho đến khi tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế và
thông báo cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người được giám hộ cư
trú.
- Các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch dân sự vì lợi ích của
người được giám hộ được người giám hộ thực hiện như sau:
12
+ Chuyển cho người được giám hộ khi người này đã có năng lực hành vi
dân sự đầy đủ.
+ Chuyển cho cha, mẹ của người được giám hộ trong trường hợp quy định
tại khoản 3 và khoản 4 điều 72 của bộ luật này.
+ Chuyển cho người thừ kế của người được giám hộ khi người được giám
hộ chết.
c. Thủ tục đăng ký thay đổi, chấm dứt giám hộ
Đăng kí thay đổi, chấm dứt việc giám hộ là cơ sở xác định chấm dứt tư
cách pháp lí của người giám hộ đối với người được giám hộ.
- Thẩm quyền đăng kí chấm dứt, thay dổi người giám hộ
Việc thay đổi người giám hộ, chấm dứt việc giám hộ phải được đăng kí tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền. UBND cấp xã nơi đã đăng kí việc giám hộ là
cơ quan có thẩm quyền thay đổi, chấm dứ việc giám hộ.
- Thủ tục đăng kí, thay đổi, chấm dứt việc giám hộ
Người yêu cầu chấm dứt việc giám hộ phải nộp tờ khai (theo mẫu quy
định), quyết định công nhận việc giám hộ đã cấp trước đây và xuất trình các giấy
tờ cần thiết để chứng minh đủ điều kiện chấm dứt việc giám hộ theo quy định
của Bộ luật Dân sự.
Trong trường hợp người được giám hộ có tài sản riêng, đã được lập thành
danh mục khi đăng kí giám hộ, thì người yêu cầu chấm dứt việc giám hộ sẽ phải
nộp danh mục tài sản đó và danh mục tài sản hiện tại của người được giám hộ.
Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ các giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy
yêu cầu chấm dứt việc giám hộ là phù hợp với quy định của pháp luật và không
có tranh chấp thì cán bộ tư pháp hộ tịch ghi vào Quyết định công nhận chấm dứt
việc giám hộ, đồng thời ghi chú chấm dứt việc giám hộ vào sổ đã đăng kí giám
hộ trước đây.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã kí và cấp cho người yêu cầu chấm dứt
một bản chính Quyết định công nhận chấm dứt việc giám hộ. Bản sao Quyết
định công nhận chấm dứt việc giám hộ được cấp theo yêu cầu của đương sự.
13
Trong trường hợp người giám hộ yêu cầu được thay đổi giám hộ và có
người khác có đủ điều kiện nhận làm giám hộ, thì các bên làm thủ tục đăng kí
chấm dứt việc giám hộ cũ và đăng kí việc giám hộ mới theo quy định tại mục
này.
II. Thực tiễn áp dụng
Bộ luật dân sự Việt Nam không ngừng hoàn thiện phần giám hộ. Tuy
nhiên, trong thực tế áp dụng vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều trường hợp luật dân
sự và luật hôn nhân và gia đình không thống nhất, gây khó khăn trong việc áp
dụng.
Ví dụ như một vụ tranh chấp thừa kế mà TAND TP.HCM thụ lý hiện
đang bị ách lại vì chính quyền địa phương chưa thể cử được người giám hộ cho
một người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.Vào tháng 10 năm 2010,
TAND TP.HCM thụ lý vụ tranh chấp thừa kế mà ông T. là bị đơn. Ông H. ở
Việt Nam và bốn người em khác ở nước ngoài được tòa xác định là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trước đó, ông H. từng bị TAND TP tuyên bố bị
mất năng lực hành vi dân sự. Theo luật, các giao dịch dân sự của ông phải do
người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện nên ngày 8-3-2010, TAND
TP.HCM có công văn gửi UBND phường 4, quận 3 yêu cầu UBND phường cử
người giám hộ cho ông H. Theo công văn trên, ông H. và ông T. là anh em ruột,
ở cùng một nhà nhưng ông T. không phải là người giám hộ đương nhiên cho
ông H. Do ông T. có đơn tự nguyện làm người giám hộ cho ông H. nên căn cứ
vào Điều 63 Bộ luật Dân sự, tòa đề nghị UBND phường 4 có văn bản cử ông T.
làm người đại diện theo pháp luật cho ông H. để giải quyết vụ kiện. Công văn
của tòa cũng nêu rõ nếu UBND phường 4 không thực hiện được thì phải thông
báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho tòa biết.
Từ đó đến nay đã hai tháng nhưng UBND phường 4 vẫn chưa đáp ứng
yêu cầu của tòa. Theo bà Trần Ngọc Thu, Chủ tịch UBND phường 4, Điều 63
Bộ luật Dân sự quy định: Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét