Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
2. Nội dung quản lý vận tải hành khách bằng xe buýt
a) Theo dõi, tổng hợp lưu lượng và nhu cầu đi lại của hành khách trên tuyến,
tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, hợp tác xã trên tuyến;
b) Xây dựng quy hoạch mạng lưới tuyến;
c) Công bố tuyến: số hiệu tuyến, điểm đầu, điểm cuối, điểm dừng đỗ, lộ trình
tuyến, tần suất chạy xe;
d) Điều chỉnh lộ trình, ngừng hoạt động tuyến;
e) Quyết định các tuyến xe buýt theo hình thức đặt hàng, đấu thầu .
f) Xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng (kể cả đáp ứng nhu cầu giao thông tiếp
cận) phục vụ xe buýt;
g) Ban hành các chính sách ưu đãi của nhà nước về khuyến khích phát triển vận
tải hành khách bằng xe buýt trên địa bàn;
h) Quyết định và quản lý giá cước.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quy hoạch mạng lưới tuyến, xây dựng và
quản lý kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động xe buýt, công bố tuyến, giá vé, các chính
sách ưu đãi của nhà nước về khuyến khích phát triển vận tải hành khách bằng xe
buýt trên địa bàn.
Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi
1. Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi có hành trình và lịch trình theo yêu
cầu của hành khách; cước tính theo đồng hồ tính tiền căn cứ vào kilômét xe lăn bánh;
2. Có hộp đèn với chữ "TAXI" gắn trên nóc xe; hộp đèn phải được bật sáng khi
xe không có khách và tắt khi trên xe có khách.
3. Lái xe phải đủ 21 tuổi trở lên.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức và quản lý điểm đỗ xe taxi công cộng.
Kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng
1. Kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng là kinh doanh vận tải hành khách
có lộ trình và thời gian theo yêu cầu của hành khách, có hợp đồng vận tải bằng văn bản.
2. Xe hoạt động phải có hợp đồng vận tải ghi rõ số lượng hành khách; trường
hợp xe vận chuyển hành khách với cự ly từ 100 ki lô mét trở lên phải kèm theo danh
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
sách hành khách; không được đón thêm khách ngoài số lượng, danh sách theo hợp
đồng; không được bán vé cho hành khách đi xe.
Kinh doanh vận tải khách du lịch bằng xe ô tô
1. Kinh doanh vận tải khách du lịch là kinh doanh vận chuyển khách theo
tuyến, chương trình và địa điểm du lịch.
2. Khi vận chuyển hành khách, lái xe phải mang theo chương trình du lịch và
danh sách hành khách, không được đón thêm khách ngoài danh sách, không được
bán vé cho hành khách đi xe.
Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe ô tô
1. Xe vận chuyển hàng hóa thông thường (trừ taxi chở hàng) khi chở hàng hóa
trên đường, lái xe phải mang theo hợp đồng vận tải hoặc giấy vận chuyển.
2. Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe taxi tải.
a) Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe taxi tải là việc sử dụng xe ô tô có trọng
tải dưới 1.500 kg để vận chuyển hàng hóa, cước tính theo kilômét xe lăn bánh.
b) Mặt ngoài hai bên thành xe hoặc cánh cửa xe sơn chữ “TAXI TẢI”, số điện
thoại liên lạc, tên đơn vị kinh doanh.
3. Kinh doanh vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng.
a) Kinh doanh vận tải hàng siêu trường, siêu trọng là việc sử dụng xe ô tô phù
hợp để kinh doanh vận chuyển các loại hàng siêu trường, siêu trọng;
b) Khi vận chuyển, lái xe phải mang theo giấy phép sử dụng đường bộ;
c) Đơn vị kinh doanh chịu trách nhiệm gia cố cầu đường bộ theo yêu cầu của cơ
quan quản lý đường bộ.
4. Vận chuyển hàng nguy hiểm tuân theo Nghị định của Chính phủ quy định
danh mục hàng nguy hiểm, vận chuyển hàng nguy hiểm và thẩm quyền cấp phép
vận chuyển hàng nguy hiểm.
Vị trí của doanh nghiệp trên thị trường
Biểu hiện cụ thể của yếu tố này là thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh trên thị
trường, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, thậm chí cả uy tín của doanh nghiệp với
đối thủ cạnh tranh. Tất cả các yếu tố đó sẽ cho biết doanh nghiệp đang ở vị trí nào trên thị
trường. Đây là một tài sản vô hình quan trọng, đặc biệt trong thời điểm cạnh tranh ngày càng
gay gắt như hiện nay. Nhân tố này được tích luỹ trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh của
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
doanh nghiệp, mang tính lâu dài. Vì vậy, nó tạo ra lợi thế to lớn cho doanh nghiệp, giúp cho
doanh nghiệp có nhiều ưu thế hơn so với đối thủ, doanh nghiệp ngày càng có khả năng mở
rộng được thị phần, nâng cao được doanh số tiêu thụ, góp phần tăng lợi nhuận của doanh
nghiệp.
Chất lượng, giá cả sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng
Chất lượng sản phẩm tác động trực tiếp đến người tiêu dùng nên nó quyết định đến
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó đảm bảo cho doanh nghiệp mở rộng thị phần, tiêu
thụ sản phẩm nhiều hơn, đảm bảo thu hồi vốn nhanh cho sản xuất. Ngoài ra, nếu sản phẩm
của doanh nghiệp đạt được chuẩn mực quốc tế và khu vực về mọi phương diện là nhân tố rất
quan trọng trong tình hình cạnh tranh mang tính toàn cầu. Sản phẩm không chỉ đáp ứng được
nhu cầu trong nước mà còn đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trên khắp thế giới.
Do đó, khi sản phẩm của doanh nghiệp đạt được đúng tiêu chuẩn quy định, nghĩa là sản
phẩm của doanh nghiệp có thể xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, được người tiêu dùng tin
tưởng và là phương tiện, biện pháp quan trọng đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh được tiến hành thuận lợi, đạt được kết quả tối ưu.
Cùng với yếu tố chất lượng sản phẩm, gía thành là yếu tố đặc biệt quan trọng quyết
định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của
doanh nghiệp. Nếu chênh lệch giữa giá bán và giá thành cá biệt của doanh nghiệp càng cao
so với đối thủ thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng lớn và đây chính là vũ khí lợi
hại trên thương trường cạnh tranh về giá.
Trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của doanh nghiệp
Trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của doanh nghiệp cao sẽ giúp cho việc phát huy
tối đa hiệu quả sử dụng các yếu tố vật chất cũng như phi vật chất của doanh nghiệp, trước
hết trong việc quản lý và sử dụng vốn. Nếu trình độ quản lý và sử dụng vốn của doanh
nghiệp có hiệu quả thì sẽ đem lại lợi nhuận cao, từ đó có khả năng tái sản xuất mở rộng, mở
rộng thị trường tiềm năng, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ vào quy mô
sản xuất ngày càng mở rộng tạo lợi thế vượt trội so với đối thủ cạnh tranh.
Một doanh nghiệp có trình độ tổ chức sản xuất và quản lý cao thì doanghiệp đó có
năng suất lao động cao. Nói cách khác, năng suất lao động là yếu tố phản ánh trình độ trang
bị kỹ thuật cho sản xuất, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ tổ chức quản lý. Nếu máy móc
thiết bị được trang bị hiện đại, trình độ tay nghề của công nhân cao phù hợp với trình độ của
máy móc thiết bị và có trình độ tổ chức quản lý tốt thì công việc quản lý kinh doanh sẽ suôn
sẻ, tạo được nhiều lợi thế cạnh tranh so với đối thủ, khẳng định khả năng cạnh tranh trên thị
trường của doanh nghiệp trên thương trường. Để đạt được điều đó cần phải kết hợp nhuần
nhuyễn ba yếu tố: máy móc thiết bị, lao động và tổ chức quản lý.
1.2. Quản lý chất lượng dịch vụ vận chuyển hành khách
1.2.1. Vai trò của quản lý chất lượng dịch vụ vận chuyển hành khách
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
Giao thông vận tải có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế xã
hội. Giao thông vận tải có phát triển, có thông suốt thì sẽ tạo điều kiện cho việc đi lại
vận chuyển của hàng hoá và con người được nhanh chóng dễ dàng thuận tiện. Đảng
và Nhà nước đã thấy được tầm quan trọng của giao thông vận tải nên trong những
năm qua, rất nhiều những công trình giao thông quan trọng, lớn, nhỏ, đường bộ cũng
như đường sắt, đường biển cũng như đường sông, và đường hàng không đã được
xây dựng để phục vụ công cuộc phát triển kinh tế xã hội. Từ các kết quả đạt được
trong năm qua Bộ Giao thông vận tải đã chỉ ra những việc chính cần phải làm trong
giai đoạn tới từ 2010 - 2020 đó là: Đến năm 2020, hệ thống giao thông vận tải nước
ta cơ bản đáp ứng nhu cầu vận tải đa dạng cua xã hội với mức tăng trưởng nhanh,
đảm bảo chất lượng ngày càng cao, giá thành hợp lý; kiềm chế tiến tới giảm sự gia
tăng tai nạn giao thông và hạn chế ô nhiễm môi trường.
Về tổng thể, hình thành được một hệ thống giao thông vận tải hợp lý giữa các
phương thức vận tải và các hàng lang vận tải chủ yếu đối với các mặt hàng chính có
khối lượng lớn. Có thể khái quát như sau:
Hoàn thành việc cải tạo, nâng cấp một số tuyến trọng điểm ở các vùng kinh tế tập
trung như vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các tuyến
đường hành lang Đông – Tây trong khuân khổ Dự án phát triển và hợp tác kinh tế
vùng MêKông mở rộng (Việt Nam – Thái Lan – Lào – Campuchia và tỉnh Vân
Nam Trung Quốc), các tuyến thuộc địa bàn phát triển chiến lược kinh tế.
Mở rộng hệ thống giao thông đô thị, xây dựng các tuyến vành đai và các trục hướng
tâm tại các thành phố lớn, tổ chức tốt giao thông công cộng trong các thành phố lớn
nhằm đáp ứng trên 50% nhu cầu đi lại của nhân dân tại các thành phố đó.
Thực hiện các biện pháp đồng bộ để giải quyết giao thông thông suốt, tăng cường
đảm bảo an toàn giao thông trên các quốc lộ có lưu lượng xe cao và tại các đô thị
lớn, đặc biệt là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Ưu tiên đầu tư cho giao thông nông thôn, tập trung đầu tư phát triển giao thông ở
các vùng sâu, xa để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Ưu tiên phát triển vận tải hành khách công cộng, đặc biệt là các phương thức vận
tải hành khách công cộng nhan, khối lượng lớn. Kiểm soát sự phát triển của xe
máy, xe ôtô con cá nhân đặc biệt Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.
1.2.2. Nội dung của quản lý chất lượng phục vụ vận chuyển hành khách
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
Hoạt động quản lý chất lượng trong doanh nghiệp về nguyên lý khác với hoạt
động quản lý của nhà nước đối với chất lượng. Điều này là do tính chất tổ chức của
cơ quan nhà nước và của doanh nghiệp rất khác nhau vì những mục tiêu khác nhau.
Hoạt động quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp hay nói rộng hơn là của
các tổ chức không phải là nhà nước cũng hết sức đa dạng do tính chất hoạt động của
các tổ chức này.
Bộ Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000 được thông qua lần đầu tiên vào năm 1987
(ISO 9000:1987), đến năm 2000 bộ tiêu chuẩn này đã được sửa đổi bổ xung lần thứ
ba với ký hiệu ISO 9000:2000. Đây là sự thay đổi về chất đối với bộ tiêu chuẩn này,
đó chính là sự thay đổi khái niệm “đảm bảo chất lượng” bằng “quản lý chất lượng”.
Khái niệm “quản lý chất lượng” không chỉ dành cho các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh hàng hóa và dịch vụ, mà còn cho tất cả các tổ chức khác như tổ chức sự
nghiệp: Nhà trường, bệnh viện, viện nghiên cứu…và cả các cơ quan hành chính nhà
nước, các tổ chức chính trị. Nghĩa là có thể áp dụng cho tất cả những tổ chức nào
muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của mình nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày
càng tăng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm của mình. Khái niệm sản phẩm ở
đây theo đó cũng hết sức rộng: Kết quả của một quá trình hoạt động của con người.
Đây cũng là hệ quả tất yếu quá trình quản lý chất lượng của thế giới trước tác động
của quá trình toàn cầu hóa nói chung và tự do hóa thương mại đang ngày càng sâu
rộng. Các phương thức và công cụ quản lý chất lượng cơ bản bao gồm:
Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection) với mục tiêu để sàng lọc các sản phẩm
không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏi các sản phẩm
phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt. Mục đích là chỉ có sản phẩm đảm
bảo yêu cầu đến tay khách hàng.
Kiểm soát chất lượng (Quality Control – QC) với mục tiêu ngăn ngừa việc tạo ra,
sản xuất ra các sản phẩm khuyết tật. Để làm được điều này, phải kiểm soát các
yếu tố như con người, phương pháp sản xuất, tạo ra sản phẩm (như dây truyền
công nghệ), các đầu vào (như nguyên, nhiên vật liệu…), công cụ sản xuất (như
trang thiết bị công nghệ) và yếu tố môi trường (như địa điểm sản xuất).
Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control – TQC) với mục tiêu kiểm
soát tất cả các quá trình tác động đến chất lượng kể cả các quá trình xảy ra trước
và sau quá trình sản xuất sản phẩm, như khảo sát thị trường, nghiên cứu, lập kế
hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng; và lưu kho, vận chuyển, phân phối, bán
hàng và dịch vụ sau khi bán hàng.
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management – TQM) với mục tiêu
của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt nhất
có thể. Phương pháp này cung cấp một hệ thống toàn diện cho hoạt động quản lý
và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia
của tất cả các cấp, của mọi người nhằm đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra.
Sự liệt kê các phương pháp quản lý chất lượng nêu trên cũng phản ảnh sự phát
triển của hoạt động quản lý chất lượng trên phạm vi thế giới diễn ra trong hàng thế
kỷ qua, thông qua sự thay đổi tư duy của các nhà quản lý chất lượng trong tiến trình
phát triển kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ của thế giới.
Ngoài các bộ tiêu chuẩn của ISO về hệ thống quản lý chất lượng (ISO 9001),
nhiều các hệ thống khác cũng đang được các doanh nghiệp Việt Nam xem xét áp
dụng, như ISO 14001 – hệ thống quản lý môi trường, HACCP – Hệ thống Phân tích
các nguy cơ và Kiểm soát các điểm trọng yếu trong lĩnh vực nông sản thực phẩm,
GMP – Quy chế thực hành sản xuất tốt trong lĩnh vực dược và thực phẩm, OHSAS
18001 – Hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, SA 8000 Hệ thống trách
nhiệm xã hội và các hệ thống quản lý chất lượng tích hợp hoặc đặc thù như ISO
22000 Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm (food chain), ISO/TS 29001 Công
nghiệp dầu khí và hóa dầu – Hệ thống quản lý chất lượng trong các ngành công
nghiệp đặc thù- yêu cầu đối với các tổ chức cung cấp sản phẩm và dịch vụ.
Ngoài các doanh nghiệp, việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp và các cơ quan hành chính nhà nước
cũng được quan tâm. Mới đây ngày 20 tháng 6 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg về việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà
nước với mục đích từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý
dịch vụ công. Việc ban hành và thực hiện Quyết định này của Thủ Tướng như là một
biện pháp của Chính phủ trong nỗ lực cải cách hành chính nhằm đạt được những mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010 dựa trên những kinh nghiệm của quốc
tế trong lĩnh vực quản lý chất lượng. Điều này cho thấy hoạt động quản lý chất lượng ở
Việt Nam đã có những bước hội nhập quốc tế mạnh mẽ và có chiều sâu.
Hoạt động quản lý chất lượng ở Việt Nam đã có bề dày hơn nửa thế kỷ. Trong
thời gian đó, hoạt động này đã có những đóng góp nhất định cho phát triển kinh tế
xã hội. Hoạt động quản lý chất lượng với mức độ hội nhập quốc tế tương đối cao sẽ
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
càng có vai trò và vị trí to lớn hơn trong việc góp phần đạt được mục tiêu phát triển
kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra.
Trong môi trường phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, cạnh tranh trở thành
một yếu tố mang tính quốc tế đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
mỗi doanh nghiệp. Theo M.E. Porre (Mỹ) thì khả năng cạnh tranh của mỗi doanh
nghiệp được thể hiện thông qua hai chiến lược cơ bản là phân biệt hóa sản phẩm
(chất lượng sản phẩm) và chi phí thấp. Chất lượng sản phẩm trở thành một trong
những chiến lược quan trọng nhất làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chấp nhận kinh tế thị trường nghĩa là chấp nhận cạnh tranh, chịu tác động của quy
luật cạnh tranh. Sản phẩm, dịch vụ muốn có tính cạnh tranh cao thì chúng phải đạt được
những mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, của xã hội về mọi mặt một cách
kinh tế nhất (sản phẩm có chất lượng cao, giá rẻ). Với chính sách mở cửa, tự do thương
mại, các nhà sản xuất kinh doanh muốn tồn tại thì sản phẩm, dịch vụ của họ phải có tính
cạnh tranh cao, nghĩa là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh về nhiều mặt.
Quan tâm đến chất lượng, quản lý chất lượng chính là một trong những
phương thức tiếp cận và tìm cách đạt được những thắng lơi trong sự cạnh tranh gay
gắt trên thương trường nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Chất lượng dịch vụ làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp vì:
Tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua: Mỗi sản phẩm dịch vụ có rất nhiều các
thuộc tính chất lượng khác nhau. Các thuộc tính này được coi là một trong những
yếu tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh của mối doanh nghiêp. Khách hàng quyết
định lựa chọn mua hàng vào những sản phẩm dịch vụ có thuộc tính phù hợp với
sở thích, nhu cầu và khả năng, điều kiện sử dụng của mình. Họ so sánh các sản
phẩm cùng loại và lựa chọn loại hàng n ào có những thuộc tính kinh tế - kỹ thuật
thỏa mãn những mong đợi của họ ở mức cao hơn. Bởi vậy sản phẩm dịch vụ có
các thuộc tính chất lượng cao là một trong những căn cứ quan trọng cho quyết
định mua hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nâng cao vị thế, sự phát triển lâu dài cho doanh nghiêp trên thị trường: Khi sản
phẩm dịch vụ đạt chất lượng cao và ổn định đáp ứng được nhu cầu của khách hàng
sẽ tạo ra một biểu tượng tốt, tạo ra niềm tin cho khách hàng vào thương hiệu của sản
phẩm dịch vụ đó. Nhờ đó uy tín và danh itếng của doanh nghiệp được nâng cao, có
tác động to lớn đến quyết định lựa chọn mua hàng của khách hàng.
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
1.3. Yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng dịch vụ vận chuyển
hành khách
1.3.1. Yếu tố bên trong
Vị trí của doanh nghiệp trên thị trường
Biểu thị cụ thể của yếu tố này là thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh trên thị
trường, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, thậm chí cả uy tín của doanh
nghiệp với đối thủ cạnh tranh. Tất cả các yếu tố đó sẽ cho biết doanh nghiệp đang ở
vị trí nào trên thị trường. Đây là một tài sản vô hình quan trọng, đặc biệt trong thời
điểm cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Nhân tố này được tích luỹ trong
suốt quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mang tính lâu dài. Vì vậy, nó
tạo ra lợi thế to lớn cho doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có nhiều ưu thế hơn so
với đối thủ, doanh nghiệp ngày càng có khả năng mở roọng được thị phần, nâng cao
được doanh số tiêu thụ, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Xây dựng chính sách giá cả hợp lý
Giá cả hiện nay vẫn là một công cụ cạnh tranh khá hữu hiệu trong nền kinh tế
nước ta hiện nay, nhất là đối vớ ngành vận tải. Chính sách giá cả ảnh hưởng trực tiếp
đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Vai trò cạnh tranh của giá cả được thể hiện
qua chính sách định giá của Công ty. Chính sách giá đối với từng loại hình biến
động cung cầu của Công ty cần phải linh hoạt tránh tình trạng cứng nhắc. Tình hình
biến động cung cầu trên thị trường cũng ảnh hưởng rất lớn đối với việc đặt giá cho
loại hình dịch vụ của mình.
Với mục tiêu mở rộng thị trường, giành được ưu thế trong cạnh tranh, Công ty
cổ phần Hoàng Hà cần áp dụng một chiến lược định giá phù hợp, có sức mạnh cạnh
tranh để có thế cạnh tranh với các đối thủ mạnh trong điều kiện mức độ cạnh tranh
ngày càng gay gắt.
Hiện nay, giá dịch vụ là một điểm mạnh của Công ty cổ phần Hoàng Hà trong
cạnh tranh: hầu hết giá các dịch vụ mà Công ty kinh doanh đều có mức giá ngang
hoặc thấp hơn thị trường, song định giá cho một dịch vụ là một việc mang tính chất
tổng hợp, do vậy Công ty cần phải xác định rõ mức giá cho từng loại hình dịch vụ
của mình nằm trong giới hạn nào thì sẽ thu hút được những loại khách hàng nào, ở
đoạn thị trường nào, có đủ sức cạnh tranh không?
Đối với dịch vụ đang có yêu cầu lớn trên thị trường Công ty có thể giữ mức
giá ở mức tương đối so với các Công ty khác vì dịch vụ đang được ưa chuộng. Dịch
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
vụ taxi chất lượng cao nên áp dụng chính sách giá này. Còn đối với dịch vụ xe bus,
tuy không có đối thủ cạnh tranh trên thị trường tỉnh nhưng Công ty cũng cần phải
xem xét đến đối tượng sử dụng dịch vụ của mình hầu như là sinh viên và bà con
nông dân để điều chỉnh giá cước cho phù hợp với thu nhập của người dân.
Để xây dựng một chính sách giá cả hợp lý, Công ty cần phải tính tới các biện pháp
để giảm tối đa chi phí để từ đó có thể hạ giá thành mà vẫn đảm bảo lợi nhuận để tăng
hiệu quả kinh doanh cũng như tăng sức cạnh tranh, tạo lợi thế cạnh tranh cho Công ty.
Đối với các dịch vụ xe bus, taxi và xe tuyến thì phương thức thanh toán đơn
giản là tiền mặt, nhân viên Công ty sẽ thu tiền trực tiếp của khách hàng sử dụng dịch
vụ của mình tuy nhiên khi Công ty cho thuê xe dịch vụ thì cần linh hoạt phương thức
thanh toán để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, khách hàng có thể thanh toán
bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản hay séc. Cùng với đó Công ty cũng nên áp dụng
chính sách giảm giá cho những đơn vị, khách hàng thuê xe với số lượng nhiều. Với
các khách hàng lớn, có quan hệ hợp tác lâu dài, Công ty cũng có thể định ra một
chính sách giá riêng để tạo mối quan hệ tốt với họ, song cần phải có một chính sách
hợp lý đảm bảo tình trạng vẫn có lãi, tránh tình trạng dây dưa, công nợ khó đòi. Để
tránh tình trạng này, Công ty cần phải tìm hiểu kỹ về khách hàng, nhất là khách hàng
lớn, trong đó chú trọng đển khả năng tài chính của họ.
Ngoài ra đổi mới phương tiện, thay thế những phương tiện không có hiệu suất
hoạt động cao, tốn nhiên liệu cũng làm tăng sản lượng vận tải, giảm chi phí cố định,
giảm sự tiêu hao nhiên nguyên liệu và tránh sự rò rỉ xăng dầu
1.3.2. Yếu tố bên ngoài
Công tác vận tải hành khách phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân đã có nhiều
tiến bộ do đã có sự đầu tư của một số doanh nghiệp và cá nhân nhưng vẫn còn nhiều
bất cập vì nhiều phương tiện vận tải chủ yếu được cải tạo lại, cũ kỹ lạc hậu. Để đáp
ứng nhu cầu phát triển của Xã hội và nhu cầu đi lại của nhân dân, giảm thiểu những
bất cập hiện nay Công ty chúng tôi quyết định đầu tư mua them xe ô tô với chất
lượng xe mới 100%, nhãn hiệu Samco, trong đó có 30 xe tải trọng 46 ghế và 20 xe
tải trọng 34 ghế. Có tính năng hiện đại và chất lượng tốt nhất để phục vụ nhu cầu
ngày một tốt hơn cho quý khách hàng.
Tính đến tháng 12 năm 2009 công ty Hoàng Hà có tổng số 290 đầu xe các loại.
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH CỦA CÔNG TY HOÀNG HÀ
2.1. Khái quát về Công ty Cổ phần Hoàng Hà
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Hoàng Hà
Thái Bình là một tỉnh với ngành sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, sự phát triển
kinh tế xã hội chưa bắt nhịp được với một số tỉnh lân cận như Nam Định, Hải
Phòng, Hải Dương Những năm gần đây theo đường lối đổi mới của Đảng về sự
phát triển không ngừng của cả nước, Tỉnh Thái Bình đã có nhiều ưu đãi cho các
doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư, chính sách thông thoáng hơn và đã có
các khu công nghiệp và tiểu công nghiệp hình thành tại TP Thái Bình và các huyện
lị trong tỉnh.
Thuộc một trong những tỉnh đồng bằng có mật độ dân số cao nhất nhì nước,
không có giao thông đường sắt nên giao thông đường bộ chiếm một vị trí quan trọng
trong đời sống kinh tế - chính trị của tỉnh. Sự ra đời của Công ty Cổ phần Hoàng Hà
là bước trưởng thành của đội ngũ những người làm công tác vận hành khác, vừa sản
xuất, vừa kinh doanh, vừa phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh.
Công ty Cổ phần Hoàng Hà được thành lập theo quyết định số
1767/2001/QĐ-UB ngày 25 tháng 9 năm 2001 của UBND tỉnh Thái Bình. Công ty
Cổ phần Hoàng Hà là doanh nghiệp cổ phần hạch toán độc lập, trực thuộc Sở giao
thông vận tải Thái Bình, có nhiệm vụ chủ yếu là vận tải hành khách bằng ôtô, ngoài
ra Công ty còn được phép kinh doanh phụ tùng, vật tư, xăng dầu.
Sau lần thay đổi bộ máy tổ chức, vị trí và hình thức sở hữu, hiện nay Công ty CP
Hoàng Hà đã có trụ sở chính nằm trên Số 368 Đường Lý Bôn, Thành Phố Thái Bình với
diện tích là 10.377m
2
bao gồm: khu văn phòng, phân xưởng sửa chữa và sân đỗ xe.
Với sự nỗ lực lớn của toàn bộ nhân viên trong Công ty, Công ty đã vinh dự
được nhận Sao Vàng Đất Việt năm 2005 cùng nhiều bằng khen của tỉnh về thành
tích đã đạt được trong những năm qua.
Qua hơn 8 năm hình thành và phát triển Công ty Cổ phần Hoàng Hà liên tục
đầu tư nhiều phương tiện vận chuyển mới 100% đáp ứng mọi nhu cầu vận chuyển
đặc biệt là có một đội ngũ CBCNV có trình độ và chuyên môn cao, phong cách phục
vụ Hành khách chu đáo, ân cần, với công ty Hoàng Hà chất lượng và phong cách
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét