Nguồn nhân lực (NNL): là trình độ tay nghề, là kiến thức và năng lực của
toàn bộ cuộc sống con ngời hiện có, thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế
xã hội trong một cộng đồng.
Cơ cấu nguồn nhân lực bao gồm:
- Cơ cấu trạng thái hoạt động của NNL: Phân chia NNL thành hoạt động
kinh tế (lực lợng lao động) và không hoạt động kinh tế ( Đi học, MSLĐ, nội trợ
và không có nhu cầu việc làm)
- Việc tạo lập cơ cấu NNL mới để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
theo hớng CNH - HĐH (của mỗi quốc gia, vùng) phải nhằm phục vụ cho đợc sự
chuyển dịch lớn cơ cấu lao động trong theo ba mặt chủ yếu là:
+ Cơ cấu trình độ lành nghề của đội ngũ lao động chuyển dịch theo hớng
yêu cầu trí tuệ ngày càng cao, gắn với cơ cấu công nghiệp mới, đó là cơ cấu
nhiều trình độ công nghệ, nhiều loại quy mô trong đó u tiên các loại trình độ
tiên tiến thích hợp.
Theo kinh nghiệm của thế giới, tơng ứng với mỗi giai đoạn phát triển của
tiến bộ kỹ thuật cần có cơ cấu chất lợng lao động theo các trình độ thích hợp t-
ơng ứng.
+ Cơ cấu phân công lao động theo ngành
Theo tổng kết kinh nghiệm của các nhà kinh tế học thế giới, có mối tơng
quan chặt chẽ giữa bình quân GDP/ ngời và cơ cấu lao động làm việc trong các
ngành KTQD: GDP/ngời càng cao thì tỷ trọng lao động làm việc trong nông
nghiệp càng giảm, trong công nghiệp và dịch vụ càng tăng và ngợc lại
+ Cơ cấu tổ chức lao động chuyển dịch theo hớng hình thành bộ máy và cơ
chế vận hành mới của ba loại hình tổ chức phổ biến trong xã hội. Đó là:
Bộ máy Nhà nớc (lập pháp, hành pháp và t pháp), Đảng, Đoàn thể; đội
ngũ cán bộ công chức hành chính của bộ máy công quyền, sự phát triển
số lợng tơng quan với qui mô dân số và đòi hỏi chất lợng cao
Các doanh nghiệp (kể cả hộ gia đình) sản xuất kinh doanh và dịch vụ
phát triển theo yêu cầu của thị trờng sản xuất kinh doanh hàng hoá và
dịch vụ
5
Các cơ sở sự nghiệp (khoa học và giáo dục - đào tạo, ) gồm đội ngũ
cán bộ, viên chức, lao động khu vực sự nghiệp thuộc hệ thống kết cấu
hạ tầng xã hội, phục vụ trực tiếp cho sự phát triển toàn diện và thoả
mãn nhu cầu ngày càng tăng của con ngời. Số lợng và chất lợng này t-
ơng quan với qui mô dân số, phân bố dân c và trình độ phát triển kinh
tế - xã hội, có ý nghĩa quyết định đến chất lợng dịch vụ và chất lợng
của kết quả phát triển của con ngời.
- Đối với mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi ngành còn phải chú ý đến
cơ cấu lãnh thổ, vùng, miền để đảm bảo sự tơng quan nguồn nhân lực
với yêu cầu phát triển bền vững.
1.3. Khái niệm cơ cấu đầu t:
2. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong đó có cơ cấu ngành) đã đợc định nghĩa
nh sau: là quá trình cải biên kinh tế xã hội từ nền kinh tế lạc hậu, mang tính
chất tự cấp, tự túc bớc vào chuyên môn hoà hợp lý, trang bị kỹ thuật, công nghệ
hiện đại, trên cơ sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng trởng mạnh
cho nền kinh tế tến chung . Định nghĩa này mang nhiều tính chủ quan, mong
muốn hơn là mô tả bản chất của sự việc, và thiếu một sự khái quát nhất định. Vì
rằng không chỉ có nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển (tự túc, tự cấp) mới có sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Ngày nay, chính các nền kinh tế công nghiệp phát
triển cũng phải thờng xuyên điều chỉnh cơ cấu kinh tế để tiếp tục phát triển.
Kết hợp với ý nghĩa của thuật ngữ chuyển dịch có thể định nghĩa chuyển
dịch cơ cấu ngành nh sau: Chuyển dịch cơ cấu ngành là quá trình phát triển
của các ngành kinh tế dẫn đến sự tăng trởng khác nhau giữa các ngành và
làm thay đổi mối tơng quan giữa chúng so với một thời điểm trớc đó. Theo
định nghĩa này, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành chỉ xẩy ra sau một khoảng
thời gian nhất định (vì nó là một quá trình) và sự phát triển của các ngành phải
6
dẫn đến thay đổi mối quan hệ tơng đối ổn định vốn có của chúng (ở thời điểm
trớc đó). Trên thực tế, sự thay đổi này đợc biểu hiện ở những mặt sau:
- Xuất hiện thêm những ngành mới hay mất đi một số ngành đã có, tức là
có sự thay đổi về số lợng cũng nh loại ngành trong nền kinh tế. Sự kiện này chỉ
có thể nhận biết đợc khi hệ thống phân loại ngành là đủ chi tiết. Trong trờng
hợp chỉ xét đến những ngành gộp thì không thể biết đợc những ngành sản phẩm
mới hình thành hay ngành sản phẩm đã mất đi trong một ngành đã có.
- Sự tăng trởng về quy mô và nhịp độ khác nhau giữa các ngành. Sự thay
đổi cơ cấu diễn ra- hay nói cách khác có sự chuyển dịch cơ cấu ngành- chỉ khi
có sự phát triển không đồng đều giữa các ngành sau mỗi giai đoạn.
Nhịp độ tăng trởng ngành là chỉ tiêu xác định tốc độ biến đổi tơng quan
giữa các ngành kinh tế từ thời điểm t
0
đến thời điểm t
1
:
100100
00
01
ì
=ì
=
m
m
m
mm
g
t
t
Trong đó:
- g
t
: là tốc độ tăng trởng của ngành trong thời đoạn t= t
1
-t
0
;
- m
1
, m
0
: quy mô của ngành ở thời điểm t
0
và thời điểm t
1
- m
t
: Giá trị tăng thêm của quy mô sau thời gian t.
Để đánh giá đúng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành trong mỗi thời kỳ,
phải xem xét đồng thời cả tốc độ tăng trởng và quy mô phát triển mà nó đạt đợc
ở điểm xuất phát.
- Sự thay đổi trong quan hệ tác động qua lại giữa các ngành, sự thay đôi
này trớc hết biểu hiện bằng số lợng các ngành có liên quan. Mức độ tác động
qua lại giữa các ngành nay và các ngành khác thể hiện qua quy mô đầu vào mà
nó cung cấp cho các ngành hay nhận đợc từ các ngành đó (biểu thị ở bằng độ
lớn của các hệ số trong bảng I/O). Những sự thay đổi này thờng liên quan đến
thay đổi thay đổi nhu cầu xã hội trong những điều kiện mới. Nh vậy, khi một
7
Các ngành
kinh tế
Cơ cấu kinh
tế ngành
Các thành
phần kinh tế
Cơ cấu kinh
tế thành phần
Các vùng kinh
tế
Cơ cấu kinh
tế vùng
Các yếu
tố tác
động
Mục tiêu
phát triển
ngành ra đời hay phát triển, do có mối quan hệ với ngành khác mà nó có thể tác
động thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển các ngành có liên quan với nó.
Sự tăng trởng của các ngành dẫn đến chuyển dịch cơ cấu ngành trong mỗi
nền kinh tế. Cho nên, chuyển dịch cơ cấu ngành xảy ra nh là kết quả của quá
trình phát triển. Đó là quy luật tất yếu từ xa đến nay trong hầu hết mọi nền kinh
tế (xét ở mức độ phân ngành nào đó). Vấn đề đáng quan tâm là ở chỗ: sự
chuyển dịch cơ cấu ngành diễn ra theo chiều hớng nào và tốc độ chuyển dịch
nhanh chậm ra sao, có những quy luật gì?.
Có rất nhiều nền kinh tế đã đạt đợc thành công trong sự phát triển nhờ quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đặc thù phù hợp với điều kiện cụ thể.
Việc tìm ra một xu hớng và giẩi pháp cho chuyển dịch cơ cấu ngành ở nớc ta
không đơn thuần là áp dụng kinh nghiệm có đợc, mà là sự phát triển những đặc
thù của đất nớc, của môi trờng trong nớc và thế giới nay để làm thích ứng những
bài học đã có cho hoàn cảnh Việt Nam.
3. Cơ cấu nông nghiệp và sự cần thiết phải chuyển dich cơ cấu nông
nghiệp.
3.1. Cơ cấu ngành nông nghiệp:
Cơ cấu ngành nông nghiệp của một nền kinh tế là tập hợp tất cả các nhóm
ngành nông nghiệp (hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các ngành: nông-lâm-ng
nghiệp; theo nghĩa hẹp bao gồm: trồng trọt và chăn nuôi) và các mối quan hệ t-
ơng đối ổn định giữa chúng. Nói cách khác giữa các ngành nông nghiệp gồm
các yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển trong
những không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện kinh tế nhất
định.
Cơ cấu ngành nông nghiệp luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển của
nền kinh tế. Đó là sự thay đổi quan hệ tỷ lệ giữa các ngành (tỷ lệ giữa ngành
8
trồng trọt và chăn nuôi; giữa nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản ), các vùng, các
thành phần (do sự xuất hiện một số ngành ngoài nông nghiệp nh: tiểu thủ công
nghiệp, công nghiệp, dich vụ nông thôn ) hay do sự gia tăng hoặc giảm sút tốc
độ tăng trởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu ngành nông nghiệp là không
đồng đều. Sự thay đổi của cơ cấu ngành nông nghiệp từ trạng thái này sang
trạng thái khác cho phù hợp với môi trờng phát triển đợc gọi là sự chuyển dịch
cơ cấu ngành nông nghiệp.
Mặt khác trong thực tế cũng nh trong lý luận, cơ cấu nông nghiệp chịu ảnh
hởng trực tiếp của cơ cấu đầu t và cơ cấu lao động.
3.2. Sự cần thiết phải chuyển dich cơ cấu nông nghiệp.
Trong hơn 10 năm phát triển, nông nghiệp Việt Nam đã và đang đạt đợc
những thành tựu hết sức to lớn. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng bắt đầu xuất hiện
những vấn đề đáng lo ngại. Những năm gần đây, tỷ suất hàng hoá trong nông
nghiệp của nớc ta có xu hớng ngày càng nâng cao. Nông nghiệp Việt Nam ngày
càng có nhiều mặt hàng tham gia vào thị trờng thế giới, trong đó có một số mặt
hàng có thứ hạng cao trong thị phần nh cà phê, gạo, hồ tiêu, điều Có thể thấy,
tăng trởng của nông nghiệp nớc ta ngày càng tuỳ thuộc vào kinh tế và thị trờng
thế giới
Thế nhng kinh tế thế giới và khu vực trong những năm qua vẫn đang nằm
trong chu kỳ suy thoái, thậm chí dờng nh nằm ở đáy của chu kỳ này. Do vậy,
những nỗ lực gia tăng sản lợng đã không đủ bù đắp lại thiệt hại về giá cả trên
thị trờng thế giới.( xem biểu đồ)
9
Sản lượng lương thực quy thóc
19.7
25.1
29.2
30.6
31.9
34.3
34.5
34
0
5
10
15
20
25
30
35
40
86-90 91-95 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Năm
Triệu tấn
Sản lượng lương thực quy thóc
Những con số trên đây một mặt thể hiện nổ lực to lớn của những ngời hoạt
động trong lĩnh vực nông nghiệp. Mặt khác cũng cho thấy những khó khăn
không kém trong lĩnh vực này. Một số mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng
10
Sản lượng lương thực quy thóc
19.7
25.1
29.2
30.6
31.9
34.3
34.5
34
0
5
10
15
20
25
30
35
40
86-90 91-95 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Năm
Triệu tấn
Sản lượng lương thực quy
thóc
nh cà phê, gạo phải thực hiện bù lỗ xuất khẩu dới nhiều hình thức. Không ít hộ
nông dân lâm vào tình trạng điêu đứng.
Tình trạng bí đầu ra thị trờng thế giới đã tác động ngay đến thị trờng
nông sản trong nớc, một thị trờng mà nh nhiều năm gần đây, ngời nông dân
trong tình thế bất lợi. Năm nay, hàng bán ra thị trờng thế giới lỗ lãi, tồn đọng ở
thị trờng trongnc nhiều. Độ co dãn về cầu trong nớc của những mặt hàng này lại
thấp. Những tín hiệu trên đây của thị trờng mách bảo điều gì?.
ít nhất thì cũng có hai điều có thể nhận biết từ động thái của thị trờng trong
những năm gần đây, nhất là từ năm 2002. Một là, cần phải đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn cho thích ứng với đòi hỏi thị trờng. Hai là,
tổ chức lại nền nông nghiệp, kinh tế nông thôn nhằm nâng cao năng suất lao
động, chất lợng sản phẩm và nắm bắt thông tin thị trờng thế giới cũng nh trong
nớc.
Mặc dù sản lợng lúa tăng thêm 1,3 triệu tấn, nhng nhu cầu gạo của nông dân
lại giảm, ở khu vực thành thị còn 10 kg/ngơì/tháng.Điều này cho thấy sự bấp
bênh trong việc tìm hớng đi cho hàng nông sản . Nó không chỉ là một vấn đề tr-
ớc mắt mà còn là vấn đề phải đối mặt trong tơng lai gần đây khi nhà nớc ta đang
tiến hành từng bớc để tiến tới gia nhập AFTA.
4.2 Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp với các vấn đề xã hội
II. Cơ sở khoa học chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
1. Quy luật tiêu thụ sản phẩm của E.Engel.
Ngay từ cuối thế kỷ 19, nhà kinh tế học ngời Đức E.Engel đã nhận thấy
rằng, khi thu nhập của các gia đình tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu của họ cho lơng
11
thực, thực phẩm giảm đi. Do chức năng chính của khu vực nông nghiệp là sản
xuất lơng thực, thực phẩm nên có thể suy ra là tỷ trọng nông nghiệp toàn bộ nền
kinh tế sẽ giảm đi khi thu nhập tăng lên.
Quy luật của E.Engel đợc phát hiện cho sự tiêu dùng lơng thực, thực phẩm
nhng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc định hớng cho việc nghiên cứu tiêu
dùng các loại sản phẩm khác. Các nhà kinh tế gọi lơng thực, thực phẩm là các
sản phẩm thiết yếu, hàng công nghiệp là sản phẩm tiêu dùng lâu bền, và việc
cung cấp dịch vụ là sự tiêu dùng cao cấp. Qua quá trình nghiên cứu, họ phát
hiện ra xu hớng chung là khi thu nhập tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu cho hàng tiêu
dùng lâu bền tăng phù hợp với tăng thu nhập, còn chi tiêu cho tiêu dùng cao cấp
tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập.
Nh vậy, quy luật tiêu thụ sản phẩm của E.Engel đã làm rõ tính xu hớng
của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển.
2. Quy luật tăng năng suất lao động của A.Fisher.
Năm 1953, trong cuốn Các quan hệ kinh tế của tiến bộ kĩ thuật, A.Fisher
đã giới thiệu khái niệm về việc làm ở khu vực thứ nhất, thứ hai và thứ ba.
A.Fisher quan sát thấy rằng, các nớc có thể phân loại theo tỷ lệ phân phối tổng
số lao động của từng nớc vào 3 khu vc. Khu vực thứ nhất bao gồm sản xuất
nông nghiệp,lâm nghiệp và theo một số quan điểm còn bao gồm cả khai thác
mỏ. Khu vực thứ hai bao gồm công nghiệp chế biến và xây dựng. Khu vực thứ
ba gồm có vận tải, thông tin, thơng nghiệp, dịch vụ Nhà nớc, dịch vụ t nhân.
Theo A.Fisher, tiến bộ kĩ thuật đã có tác động đến sự thay đổi phân bố lao động
vào 3 khu vực này. Trong quá trình phát triển, việc tăng cờng sử dụng máy móc
và các phơng pháp canh tác mới đã tạo điều kiện cho nông dân nâng cao năng
suất lao động. Kết quả là, để đảm bảo lợng lơng thực, thực phẩm cần thiết cho
xã hội thì không cần đến lợng lao động nh cũ và do vậy, tỷ lệ của lực lợng lao
động trong nông nghiệp giảm. Dựa vào các số liệu thống kê thu nhập đợc,
A.Fisher cho rằng tỷ lệ giảm này có thể từ 80% đối với các nớc chậm phát triển
nhất xuống 11-12%, ở các nớc công nghiệp phát triển và trong những điều kiện
đặc biệt có thể xuống tới 5%. Ngợc lại, tỷ lệ lao động đợc thu hút vào khu vực
thứ hai và khu vực thứ ba ngày càng tăng do tính co dãn về nhu cầu sản phẩm
12
của 2 khu vực này và khả năng hạn chế hơn của việc áp dụng tiến bộ kĩ thuật,
đặc biệt là đối với khu vực thứ ba.
3. Lý thuyết về các giai đoạn phát triển kinh tế của W.Rostow.
Năm 1960 cuốn Các giai đoạn phát triển kinh tế của nhà kinh tế học
Mỹ W.Rostow đã tạo ra sự quan tâm lớn về nghiên cứu qúa trình tăng trởng và
phát triển kinh tế của các nớc. Theo W.Rostow nhìn chung quá trình phát triển
kinh tế của một nớc có thể chia ra 5 giai đoạn: Xã hội truyền thống; chuẩn bị
cất cánh; cất cánh; trởng thành và mức tiêu dùng cao. Việc xem xét các giai
đoạn phát triển của W.Rostow tập chung làm rõ các vấn đề.
- Dới tác động nào mà xã hội nông nghiệp truyền thống đã bắt đầu quá
trình hiện đại hoá.
- Những lực lợng nào đã thúc đẩy quá trình tăng trởng.
- Những đặc chng cơ bản của từng giai đoạn.
- Những lực lợng nào tác động đến mối quan hệ giữa các khu vực trong
quá trình tăng trởng.
Các giai đoạn phát triển của W.Rostow có thể minh họa bằng đờng cong ở sơ
đồ 1 Thu nhập
1 2 3 4 5 Thời gian
13
3.1. Xã hội truyền thống.
Đặc trng cơ bản của giai đoạn này là: sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ
yếu trong hoạt động kinh tế. Năng xuất lao động thấp do sản xuất chủ yếu bằng
công cụ thủ công, khoa học - kỹ thuật cha phát triển mạnh. Hoạt động chung
của xã hội kém linh hoạt; sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự cung tự cấp,
sản xuất hàng hoá cha phát triển.
Tuy vậy xã hội truyền thống cũng không hoàn toàn là tĩnh tại, mức sản l-
ợng có thể vẫn tăng liên tục do diện tích canh tác đợc mở rộng, hoặc do áp dụng
những cải tiến trong sản xuất, nh xây dựng các hệ thống thuỷ lợi, áp dụng giống
cây trồng mới. Song nhìn chung nền kinh tế không có những biến đổi mạnh.
3.2. Giai đoạn chuẩn bị cất cánh.
Đây đợc coi là thời kỳ quá độ giữa xã hội truyền thống và sự cất cánh.
Trong giai đoạn này những điều kiện cần thiết để cất cánh đã bắt đầu xuất hiện.
Đó là những hiểu biết về khoa học - kỹ thuật đã bắt đầu đợc áp dụng vào sản
xuất cả trong nông nghiệp và công nghiệp. Giáo dục đợc mở rộng và có những
cải tiến để phù hợp với những yêu cầu mới của sự phát triển. Nhu cầu đầu t tăng
lên đã thúc đẩy sự hoạt động của ngân hàng và sự ra đời của các tổ chức huy
động vốn. Tiếp đó giao lu hàng hoá trong và ngoài nớc phát triển đã thúc đẩy sự
hoạt động của ngành giao thông vận tải, thông tin liên lạc.
Tuy vậy tất cả các hoạt động này cha vợt qua đợc phạm vi giới hạn của
một nền kinh tế với những đặc trng của phơng thức sản xuất truyền thống, năng
suất thấp. Xã hội truyền thống vẫn tồn tại song song với các hoạt động kinh tế
hiện đại đang phát triển.
3.3. Giai đoạn cất cánh.
Đây là giai đoạn trung tâm của sự phân tích các giai đoạn phát triển của
W.Rostow. Thuật ngữ này bao hàm ý một đất nớc bớc vào giai đoạn phát triển
kinh tế hiện đại. Cất cánh là giai đoạn mà lực cản của xã hội truyền thống và
các thế lực chống đối với sự phát triển đã bị đẩy lùi. Các lực lợng tạo ra sự tiến
bộ về kinh tế đang lớn mạnh và trở thành lực lợng thống trị xã hội.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét