nghiệp đã bỏ qua vấn đề lợi ích của xã hội, do vậy nhà nớc cần có các biện pháp
hành chính, biện pháp kinh tế để quản lý.
+ Đảm bảo nguyên tắc ngoại thơng và quan hệ kinh tế với nớc ngoài trên cơ
sở tôn trọng, bình đẳng và đôi bên cùng có lợi.
_ Đối với doanh nghiệp thì hoạt động kinh doanh nhập khẩu góp phần giải
quyết các sản phẩm đầu vào và các sản phẩm đầu ra, tạo điều kiện cho quá trình
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đợc tiến hành một cách bình thờng
Kinh doanh xuất nhập khẩu phát huy đợc các lợi thế và những khả năng vợt trội
của doanh nghiệp, khắc phục đợc những hạn chế đem lại lợi nhuận cao cho doanh
nghiệp. Đây là phơng thức cho các doanh nghiệp tham gia các hoạt động kinh
doanh quốc tế.
3. Một số hình thức nhập khẩu chủ yếu:
Trong sự phát triển đa dạng chung của toàn thế giới thì hoạt động kinh
doanh quốc tế nói chung, hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng cũng phát
triển phong phú và đa dạng dới nhiều hình thức. Có thể kể ra một vài hình thức
nhập khẩu thông dụng đang đợc áp dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp nh sau:
3.1. Nhập khẩu trực tiếp
Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tự tính toán đầu t, nghiên cứu thị trờng, tính toán chi phí, ký kết và
thực hiện hợp đồng sao cho đúng với luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế. ở
loại hình này, doanh nghiệp phải chịu mọi chi phí, mọi rủi ro cũng nh phải chịu
trách nhiệm pháp lý về mọi hoạt động nhập khẩu của mình.
3.2. Nhập khẩu uỷ thác
Là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp có nhu cầu nhập
khẩu một loại hàng hoá nào đó nhng không có quyền tham gia quan hệ xuất nhập
khẩu trực tiếp và phải uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch
ngoại thơng tiến hành nhập khẩu hàng theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác
phải tiến hành đàm phán với đối tác nớc ngoài để làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá
theo yêu cầu của bên uỷ thác và đợc hởng một phần thù lao gọi là lệ phí uỷ thác.
Bên uỷ thác vẫn phải tự mình nghiên cứu thị trờng, lựa chọn mặt hàng, đối tợng
5
giao dịch và chịu mọi chi phí liên quan.
3.3. Nhập khẩu liên doanh
Là hoạt động nhập khẩu trên cơ sở liên kết kinh tế tự nguyện giữa các
doanh nghiệp( Trong đó có ít nhất một doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp) nhằm
phối hợp kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra các biện pháp có liên quan đến hoạt
động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hớng có lợi cho cả hai
bên.
3.4. Nhập khẩu đổi hàng
Nhập khẩu đổi hàng và trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ yếu của
buôn bán đối lu. Đây là một hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, thanh
toán không bằng ngoại tệ mà bằng hàng hoá. ở đây mục đích nhập khẩu hàng hoá
không chỉ để thu lãi từ các hoạt động kinh doanh nhập khẩu mà còn thu lãi từ các
hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
3.5. Nhập khẩu tái xuất
Nhập khẩu tái xuất là hình thức nhập khẩu nhng không phải để tiêu thụ mà
để xuất sang nớc thứ ba nhằm thoả mãn nhu cầu và thu lợi nhuận. Những hàng
nhập này không đợc qua chế biến ở nớc tái xuất, doanh nghiệp nớc tái xuất phải
tính toán chi phí, ghép mối bạn hàng xuất và nhập để làm sao thu đợc lợi nhuận.
Nh vậy nhập khẩu tái xuất luôn thu hút đợc ba bên: Bên nhập khẩu, bên xuất khẩu
và bên tạm nhập tái xuất. Hàng hoá không nhất thiết phải chuyển qua nớc tái xuất
mà có thể chuyển qua nớc thứ ba( nớc nhập khẩu ). Tiền trả cho nớc xuất khẩu do
nớc tái xuất thanh toán khi nhận đợc khoản thanh toán từ nớc thứ ba.
4. Nội dung hoạt động nhập khẩu
_ Nhập khẩu hàng hoá hữu hình, hàng hoá vô hình( dịch vụ)
_ Nhập khẩu trực tiếp, nhập khẩu gián tiếp Trong từng phơng thức ngời ta
thực hiện những phơng thức cụ thể khác nhau rất đa dạng. Để thực hiện hình thức
kinh doanh này ngời ta ký với nhau những hợp đồng kinh doanh nhập khẩu cụ thể,
hợp đồng uỷ thác cụ thể.
6
_ Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thơng mại, trong đó một
bên( gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của
một bên khác( gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm, giao lại cho bên
đặt gia công và nhận thù lao. Trong gia công quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu
gắn liền với hoạt động sản xuất.
_ Tái xuất khẩu, chuyển khẩu, tạm nhập, tạm xuất, tái nhập, tái xuất. Đây là
hoạt động lại xuất khẩu những hàng hoá đã nhập khẩu nhng cha qua chế biến ở n-
ớc nhập khẩu.
_ Quá cảnh hàng hoá
_ Xuất khẩu tại chỗ
_ Hiệp định thơng mại đặc biệt
II. Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp:
1. Hiệu quả kinh doanh
1.1. Khái niệm
Trong cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp đều phải xác định cho mình các
mục tiêu hoạt động kinh doanh cụ thể. Để đạt đợc mục tiêu đó đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tự xây dựng cho mình một chiến lợc kinh doanh cụ thể thích hợp. Mục
tiêu bao trùm lâu dài của mọi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. để đạt đợc
mục tiêu này, trớc hết mọi doanh nghiệp phải xác định tính toán sao cho sử dụng
các yếu tố đầu vào và đầu ra một cách hợp lý nhằm đạt đợc mục đích tối đa hoá lợi
nhuận. Nh vậy, hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh luôn gắn liền
với các yếu tố chi phí đầu vào và kết quả đạt đợc. Mọi khái niệm hiệu quả kinh
doanh đợc đa ra đều chỉ ra mối liên hệ giữa kết quả đạt đợc và chi phí đầu vào ở
những khía cạnh khác nhau.
Nh vậy hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế
nhằm phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nh: lao động, vốn, máy móc, thiết
bị, nguyên vật liệu, trong các hoạt động kinh doanh để đạt đ ợc các mục tiêu
kinh doanh mà doanh nghiệp đã xác định. Có thể biểu diễn khái niệm bằng công
thức sau:
7
H=K/C (1)
H: Hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh
K: Là kết quả thu đợc từ các hoạt động đó
C: Tổng chi phí để đạt đợc kết quả đó
Hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lợng các hoạt động sản xuất kinh
doanh, trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.1. Bản chất
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế rất rộng phản ánh những lợi
ích đạt đợc từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để hiểu rõ bản chất của
phạm trù hiệu quả kinh doanh cần phân biệt rõ ranh giới giữa hai phạm trù hiệu
quả và kết quả.
Có thể hiểu kết quả là phạm trù phản ánh những cái thu đợc sau một qúa
trình kinh doanh hay một khoảng thời gian kinh doanh nào đó, kết quả cần đạt đợc
bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp có thể cân, đo, đong, đếm đợc thông qua các chỉ tiêu
về số lợng sản phẩm, doanh thu, thị phần và cũng có thể là các đại l ợng chỉ phản
ánh mặt chất lợng hoàn toàn có tính chất định tính nh uy tín, chất lợng sản phẩm
Những kết quả này lại không cho thấy đợc trình độ quản lý, trình độ sử dụng đầu
vào của doanh nghiệp.
Trong khi đó hiệu quả là một phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các
nguồn lực sản xuất. ở công thức (1) ta thấy khái niệm phạm trù hiệu quả kinh
doanh bao gồm kết quả( đầu ra) và chi phí( đầu vào) để đánh giá hiệu quả kinh
doanh. Cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều đợc tính bằng hai đơn vị hiện vật và
giá trị. Tuy nhiên nếu tính bằng đơn vị hiện vật thì rất khó xác định do tính không
đồng nhất của đơn vị đo lờng, vì vậy ngời ta thờng tính hiệu quả theo đơn vị giá trị
mà biểu hiện là tiền tệ.
Nh vậy, bản chất của hiệu quả kinh doanh chính là hiệu quả của lao động xã
hội, nó phản ánh mặt chất lợng của hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử
8
dụng các yếu tố đầu vào của quá trình kinh doanh để đạt đợc mục tiêu lợi nhuận.
Đồng thời cũng là thớc đo trình độ tiết kiệm các yếu tố đầu vào, nguồn lực xã hội.
Tiêu chuẩn đặt ra là tối đa hoá kết quả hoặc tối thiểu hoá chi phí dựa trên nguồn
lực sẵn có.
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh
_ Trớc hết đó là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp. Đây là vấn đề quyết
định sự sống còn của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Hiệu quả kinh doanh đợc
coi nh là một trong những công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng của
mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết
việc sử dụng các nguồn lực đạt đợc ở trình độ nào mà nó còn cho phép các nhà
quản trị phân tích và tìm ra các nhân tố để đa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả kinh doanh. Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh có thể đợc hiểu là nhằm tạo ra
kết quả cao hơn trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng của kết quả
cao hơn so với tốc độ tăng của các nguồn lực đầu vào.
_ Nguồn lực xã hội là một phạm trù khan hiếm, càng ngày ngời ta càng sử
dụng nhiều các nguồn lực sản xuất vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm
phục vụ các nhu cầu khác nhau của con ngời. Trong khi các nguồn lực sản xuất xã
hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con ngời ngày càng đa dạng và tăng lên, do đó
đòi hỏi các nhà sản xuất kinh doanh phải biết tận dụng và sử dụng tiết kiệm tối đa
các nguồn lực đầu vào để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất. Để làm đợc điều đó
đòi hỏi các doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời chính xác ba câu hỏi: sản xuất
cái gì? sản xuất cho ai? Và sản xuất nh thế nào?. Bởi vì thị trờng chỉ chấp nhận
cho phép tồn tại những doanh nghiệp có quyết định sản xuất đúng loại sản phẩm
với số lợng và chất lợng hợp lý. Nếu doanh nghiệp xác định tốt ba câu hỏi trên thì
sản phẩm tạo ra của doanh nghiệp sẽ tiêu thụ tốt trên thị trờng, không lãng phí các
nguồn lực sản xuất. Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng
cao hiệu quả kinh doanh là không thể thiếu đợc trong mỗi doanh nghiệp, nó thực
sự là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp.
_ Trong điều kiện kinh tế thị trờng, môi trờng cạnh tranh ngày càng gay gắt
do đó muốn tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải luôn tạo ra và duy trì các lợi
thế cạnh tranh, đó là chất lợng và sự khác biệt hoá. Để duy trì lợi thế về giá cả,
doanh nghiệp phải sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất hơn các doanh nghiệp
9
khác cùng ngành. Doanh nghiệp càng sử dụng tiết kiệm các nguồn lực thì càng có
các thuận lợi để nâng cao lợi nhuận. Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phản
ánh tơng đối của việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất xã hội nên là điều
kiện để thực hiện mục tiêu bao trùm lâu dài của doanh nghiệp. Vì vậy nâng cao
hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu
bao trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận.
1.3. ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
_ Đối với nền kinh tế quốc dân thì việc nâng cao hiệu quả kinh tế nói chung
và hiệu hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng là một phạm trù kinh
tế đặc biệt quan trọng, phản ánh yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, phản ánh
trình độ sử dụng lực lợng sản xuất dới chế độ xã hội chủ nghĩa trong cơ chế thị tr-
ờng. Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất càng cao thì quan hệ sản xuất ngày
càng hoàn thiện, ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng. Càng nâng cao hiệu quả sử
dụng thì càng hoàn thiện quan hệ sản xuất, yêu cầu của quy luật kinh tế ngày càng
đợc thoả mãn.
_ Đối với bản thân doanh nghiệp thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là mục
tiêu cơ bản của mọi doanh nghiệp, nó giúp doanh nghiệp bảo toàn và phát triển
vốn. Nói cách khác, nó là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất mở rộng,
cải tạo, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất kinh doanh, cải
thiện đời sống cho nhân dân, tích luỹ cho ngân sách, tăng uy tín và thế lực của
công ty trên thơng trờng.
_ Đối với cá nhân thì nó là động cơ thúc đẩy kích thích ngời lao động hăng
say lao động, giúp cho năng suất lao động ngày càng cao. Việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh sẽ giúp cho đời sống của mọi ngời đợc cải thiện khi đợc sử dụng các
sản phẩm có chất lợng cao, giá thành rẻ. Hơn nữa việc nâng cao năng suất sẽ giúp
cho mọi ngời có thu nhập cao, cải thiện đời sống.
2. Phân loại hiệu quả kinh doanh
Có nhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh tuỳ thuộc vào mục tiêu phân
loại và các chỉ tiêu khác nhau:
_ Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối và hiệu quả kinh doanh tơng đối
10
_ Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận
_ Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh ngành
_ Hiệu quả kinh doanh tài chính và hiệu quả kinh doanh xã hội
3. Các nhân tố ảnh hởng đến nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu
3.1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
3.1.1. Nguồn lao động của doanh nghiệp
Đây là một nhân tố rất quan trọng, có quyết định trực tiếp đến hiệu quả của
việc thực hiện các nhiệm vụ, công việc của công ty. Nếu công ty có đội ngũ cán
bộ có năng lực, có trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình trong công việc thì sẽ đạt
hiệu quả kinh doanh cao. Để có đợc đội ngũ cán bộ có trình độ, tinh thần, ý thức
trách nhiệm cao, thì buộc doanh nghiệp phải chăm lo đến việc đào tạo, bồi dỡng
và nâng cao trình độ chuyên môn của lực lợng lao động. Bố trí sắp xếp lao động cả
về cật chất lẫn tinh thần. Đặc biệt là trong các hoạt động kinh doanh nhập khẩu,
khi mà các công việc có liên quan trực tiếp đến các vấn đề mang tính quốc tế với
sự khác biệt về ngôn ngữ, về văn hoá, thì việc đào tạo và nâng cao trình độ của
đội ngũ cán bộ công nhân viên lại càng phải đợc quan tâm. Đó là những nhiệm vụ
hàng đầu của mỗi doanh nghiệp để có thể tạo dựng một đội ngũ lao động có hiệu
suất cao, từng bớc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
3.1.2. Vốn kinh doanh nhập khẩu
Nếu công ty có nguồn vốn lớn( đặc biệt là vốn lu động) và ổn định thì sẽ
nắm bắt kịp thời cơ hội kinh doanh, có khả năng ký kết các hợp đồng lớn, khả
năng thanh toán tốt, tạo đợc uy tín với các đối tác. Thực tế cho thấy nhiều công ty
khi tham gia vào các hoạt động mang tầm cỡ quốc tế thì thờng gặp phải tình trạng
thiếu vốn trầm trọng do các hợp đồng thờng có giá trị lớn và thời hạn thanh toán
nhanh. Trong các hợp đồng kinh doanh nhập khẩu nói chung hay trong các hợp
đồng kinh tế nói riêng thì việc thiếu vốn sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thờng bỏ lỡ
mất cơ hội kinh doanh do không chủ động. Mặt khác việc thiếu vốn sẽ dẫn tới việc
phải vay vốn từ nhiều phía và phải trả lãi xuất cho các khoản vay đó. Chính vì vậy
dẫn tới nhiều chi phí không cần thiết.
11
3.1.3.Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin trong các hoạt động nhập khẩu
Thông tin có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, nhất là trong các hoạt động kinh doanh nhập khẩu. Nếu thông
tin kịp thời, chính xác sẽ là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp xác định phơng hớng
kinh doanh, đồng thời giúp cho doanh nghiệp có thể nắm bắt và nghiên cứu đầy đủ
hơn về môi trờng kinh doanh. Qua đó giúp cho doanh nghiệp có thể nắm bắt và
vận dụng đợc những cơ hội kinh doanh tốt, phòng tránh đợc các rủi ro. Việc có đ-
ợc những thông tin đầy đủ và chính xác sẽ giúp cho doanh nghiệp đa ra những
quyết định chính xác trong quản lý và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Do vậy, việc
tổ chức khoa học hệ thống thông tin nội bộ sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời cho
doanh nghiệp những thông tin trong kinh doanh, và tiết kiệm các chi phí.
3.1.4. Nhân tố quản trị các hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
Nhân tố quản trị có tác động tới hiệu quả các hoạt động kinh doanh nhập
khẩu của doanh nghiệp. Công tác quản trị đợc tiến hành tốt sẽ giúp cho doanh
nghiệp có hớng đi đúng, định hớng các mục tiêu kinh doanh ngắn hạn và dài hạn
hợp lý. Từ đó làm cơ sở để đem lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Một cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp hợp lý không những giảm thiểu các chi
phí không cần thiết trong quản lý mà còn là một nhân tố nâng cao hiệu quả các
hoạt động kinh doanh nhập khẩu. Nếu doanh nghiệp có đợc một cơ cấu quản lý tối
u sẽ xây dựng đợc và lựa chọn một cách hợp lý các phơng án huy động, phân bổ
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu vào phục vụ cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
3.2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
3.2.1. Nhân tố cạnh tranh
Nền kinh tế thị trờng với nền kinh tế mở, khuyến khích sản xuất phát triển
kinh doanh ngày càng làm tăng mức độ ảnh hởng của yếu tố cạnh tranh đối với
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh
tốt, chiếm u thế trên thị trờng, đảm bảo tốt về chất lợng lẫn giá thành sẽ chiếm vị
trí cao trong thơng trờng và thu đợc nhiều lợi nhuận. Và ngợc lại doanh nghiệp
nào không có khả năng cạnh tranh tốt trong thơng trờng thì sẽ có lợi nhuận thấp,
kinh doanh không hiệu quả và dẫn tới tình trạng phá sản. Đặc biệt, đối với các
công ty tham gia các hoạt động kinh doanh quốc tế thì mức độ cạnh tranh càng
12
gay gắt, bởi vì đó là một thị trờng rất rộng lớn, nhiều chủng loại, mẫu mã đạp, giá
thành rẻ, Đứng tr ớc một hợp đồng nhập khẩu một loại hàng hoá nào đó, doanh
nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ xem nhập loại hàng hoá nào, mẫu mã, chất lợng và
giá cả ra sao, để từ đó có những chiến l ợc cụ thể nhằm cạnh tranh với các sản
phẩm cùng loại khác trên thị trờng.
Cạnh tranh đợc xét theo hai góc độ: Cạnh tranh trong nội bộ ngành trong n-
ớc và cạnh tranh với đối thủ nớc ngoài. Trong cùng một thời điểm nhất định, nếu
tồn tại nhiều doanh nghiệp cùng nhập khẩu một loại mặt hàng và tiêu thụ ở thị tr-
ờng nội địa thì sẽ ảnh hởng trực tiếp đến giá cả và khả năng tiêu thụ, do đó ảnh h-
ởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhà sản xuất nớc
ngoài khi thâm nhập vào thị trờng nội địa cũng trở thành một đối thủ cạnh tranh
lớn đối với doanh nghiệp trong nớc. Họ cạnh tranh bằng giá cả, chất lợng, mẫu
mã, uy tín nhằm thu hút khách hàng, từ đó tạo ra việc giảm doanh số tiêu thụ
của các doanh nghiệp nội địa.
Để đảm bảo cạnh tranh tốt nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
cho các doanh nghiệp nhập khẩu thì chính bản thân các doanh nghiệp phải không
ngừng nỗ lực vơn lên, tăng cờng khả năng cạnh tranh của mình với các đối thủ
trong và ngoài nớc. Muốn nh vậy thì ngay từ đầu, ngay từ khâu lựa chọn lĩnh vực
kinh doanh, doanh nghiệp nên có hớng lựa chọn đúng đắn và tìm hiểu kỹ càng để
có thể đa ra các biện pháp cạnh tranh vừa lành mạnh vừa có hiệu quả.
3.2.2. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là phơng tiện so sánh về mặt giá trị chi phí sản xuất của
doanh nghiệp với giá cả thị trờng thế giới và dẫn tới tác động tơng quan giữa giá
xuất khẩu và giá nhập khẩu với khả năng cạnh tranh của công ty.
Trong trờng hợp tỷ giá hối đoái giảm xuống, tức là đồng bản tệ có giá trị
thấp đi so với đồng ngoại tệ. Nếu không có các yếu tố khác ảnh hởng sẽ làm cho
giá cả của hàng nhập khẩu đắt hơn so với thực tế bởi vì trị giá đồng nội tệ mà ngời
nhập khẩu phải bỏ ra sẽ lớn hơn so với mức bình thờng. Việc tỷ giá hối đoái bị
giảm xuống sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
Việc tăng thêm các khoản chi phí bằng đồng ngoại tệ để nhập khẩu các loại hàng
hoá tiêu dùng hay nguyên vật liệu sản xuất, các nhà kinh doanh nhập khẩu buộc
phải tăng chi phí kinh doanh. Hơn nữa, nếu tăng chi phí sẽ làm giảm cầu trên thị
13
trờng và khách hàng sẽ chuyển sang dùng các loại hàng hoá có thể thay thế khác,
dẫn tới việc tồn đọng, khó tiêu thụ của các loại hàng hoá nhập khẩu. Xét về hiệu
quả kinh tế xã hội, việc giảm tỷ giá hối đoái sẽ là một thuận lợi cho các nhà kinh
doanh xuất khẩu do có thể thu về một lợng ngoại tệ có giá trị so với đồng nội tệ
lớn hơn mức bình thờng.
Ngợc lại khi tỷ giá hối đoái tăng lên, nghĩa là đồng nội tệ sẽ có giá trị tăng
lên so với đồng ngoại tệ, nếu không có các yếu tố khác ảnh hởng thì sẽ là một
thuận lợi cho các nhà kinh doanh nhập khẩu nhng lại là một bất lợi cho các nhà
kinh doanh xuất khẩu.
3.2.3. Thuế nhập khẩu
Có nhiều cách đánh thuế khác nhau nh: tính và thu một số tiền nào đó đối
với mỗi một đơn vị hàng hoá hoặc tính theo tỷ lệ phần trăm(%) đối với tổng giá trị
hàng hoá hoặc cũng có thể kết hợp cả hai biện pháp trên.
Mục đích của việc đánh thuế nhập khẩu là nhằm phát triển và bảo vệ sản
xuất trong nớc, tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia. Ngoài ra nó có vai trò rất
quan trọng trong việc bảo hộ các ngành còn non trẻ, cha có khả năng cạnh tranh
trên thơng trờng quốc tế. Thuế nhập khẩu sẽ làm cho giá trị của hàng hoá nhập
khẩu trên thị trờng trong nớc sẽ lớn hơn rất nhiều so với giá thực tế, chính điều này
đã làm cho hàng hoá tự lựa chọn ngời tiêu dùng trong nớc. Điều này dẫn đến tình
trạng giảm mức cầu của ngời tiêu dùng đối với hàng hoá nhập khẩu.
3.2.4.Hạn ngạch
Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của nhà nớc về số lợng hoặc giá trị một
mặt hàng nào đó đợc nhập khẩu trong một thời gian nhất định( thờng là một năm).
Hạn ngạch nhập khẩu thờng đa đến tình trạng hạn chế số lợng nhập khẩu và ảnh h-
ởng đến giá nội địa của hàng hoá. Do việc hạn chế số lợng nhập khẩu của hạn
ngạch, các nhà sản xuất trong nớc sẽ thực hiện một quy mô sản xuất với hiệu quả
thấp hơn so với điều kiện thơng mại tự do. Đối với cả chính phủ và các doanh
nghiệp thì hạn ngạch sẽ giúp cho việc xác định trớc số lợng nhập khẩu.
Hạn ngạch nhập khẩu có tác động tơng đối giống với thuế quan nhập khẩu
tức là do hạn ngạch nên giá cả của hàng nhập khẩu sẽ tăng lên. Hạn ngạch có tác
động khác thuế quan ở hai điểm:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét