Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014
nâng cao hiệu quả nguồn vốn và sử dụng vốn tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn quận Hai Bà Trưng
5
tiền. Q trình tạo tiền của hệ thống Ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở tiền
gửi của xã hội. Xong số tiền gửi được nhân lên gấp bội khi ngân hàng cho vay
thơng qua cơ chế thanh tốn chuyển khoản giữa các ngân hàng .
2.3. Vai trò của Ngân hàng Thương mại
Vai trò của Ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế ngày càng quan
trọng nó được thể hiện qua các vai trò sau :
Thứ nhất : Ngân hàng thương mại là nơi tập trung vốn tạm thời nhận rồi
trong xã hội để cung cấp cho các nhu cầu của nền kinh tế, qua đó chuyển tiền
thành tư bản để đầu tư phát triển sản xuất và tăng cường hiệu quả hoạt động của
tiền vốn. Trong xã hội ln ln tồn tại tình trạng thừa và thiếu vốn một cách
tạm thời. Những cá nhân, tổ chức có tiền nhàn rỗi tạm thời thì muốn bảo quản số
tiền một cách an tồn nhất và có hiệu quả nhất. Trong khi đó những cá nhân, tổ
chức có nhu cầu về vốn thì muốn vay được những khoản vốn nhằm phục vụ cho
hoạt động kinh doanh của mình. Chính vì vậy Ngân hàng thương mại là một
trung gian tài chính tốt nhất để thực hiện chức năng là cầu nối giữa cung và cầu
về vốn. Ngân hàng là một điạ chỉ tốt nhất mà những người dư thừa về vốn có thể
gửi tiền một cách an tồn và hiệu quả nhất và ngược lại cũng là một nơi sẵn sàng
đáp ứng những nhu cầu về vốn của các cá nhân và doanh nghiệp.
Thứ hai : Hoạt động của các Ngân hàng thương mại góp phần tăng cường
hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế. Ngân hàng thương mại với địa vị là một trung gian tài
chính thực hiện chức năng là chiếc cầu nối giữa cung và cầu về vốn trên thị
trường tiền tệ đã góp phần đẩy nhanh hoạt động của nền kinh tế, đem lại thuận
lợi cho hoạt động của các cá nhân và tổ chức. Những cá nhân và tổ chức đã giảm
được các khoản chi phí trong việc tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư cho sản xuất
kinh doanh, và ngồi ra có thể vân dụng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho
khách hàng để đẩy nhanh hoạt động của mình. Việc vay vốn từ ngân hàng của
các doanh nghiệp đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải có phương án sản xuất tối
ưu và có hiệu quả kinh tế thì mới có thể trả lãi và trả vốn cho ngân hàng. Việc
lập phương án sản xuất tối ưu do doanh nghiệp lập ra phải qua sự kiểm tra, thẩm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
định kỹ lưỡng của ngân hàng nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có
thể sảy ra.
Ngược lại những cá nhân và tổ chức dư thừa về vốn có thể n tâm đem
gửi tiền của mình vào ngân hàng vì ngân hàng là một địa chỉ có thể bảo quản
tiền vốn một cách an tồn và hiệu quả tốt nhất. Khách hàng có thể n tâm về sự
an tồn và khả năng sinh lời của đồng vốn và cũng có thể rút tiền của mình bất
cức lúc nào muốn. Có thể lãi suất mà ngân hàng trả cho khách thấp hơn so với
việc đầu tư tiền vốn vào những lĩnh vực như : mua cổ phiếu, đầu tư vào kinh
doanh nhưng việc gửi tiền vào ngân hàng là có hệ số an tồn cao nhất. Thêm
vào đó những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng như : chuyển tiền,
thanh tốn hộ, các dịch vụ tư vấn sẽ tạo thêm thuận tiện cho khách hàng trong
hoạt động kinh doanh của mình.
Tất cả những hoạt động của ngân hàng là cơ sở giúp cho việc tăng cường
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung.
Thứ ba : Ngân hàng thương mại thơng qua những hoạt động của mình
góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia như :
ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo cơng ăn việc làm cao, ổn định lãi xuất, ổn
định thị trường tài chính, thị trường ngoại hối, ổn định và tăng trưởng kinh tế.
Với các cơng cụ mà Ngân hàng trung ương dùng để thực thi chính sách tiền tệ
như : Chính sách chiết khấu; tỷ lệ dự trù bắt buộc của Ngân hàng trung ương đối
với Ngân hàng thương mại: lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ thị trường
tự do. Thì các ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc thi hành chính
sách tiền tệ quốc gia. Các Ngân hàng thương mại có thể thay đổi lượng tiền
trong lưu thơng bằng việc thay đổi lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ
trên thị trường mở qua đó góp phần chống lạm phát và ổn định sức mua của
đồng nội tệ.
Thứ tư : Ngân hàng thương mại bằng hoạt động của mình đã thức hiện
việc phân bổ vốn giữa các vùng qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế
đồng đều giữa các vùng khác nhau trong một quốc gia. Các vùng kinh tế khác
nhau thì có sự phát triển khác nhau. Hiện tượng thừa vốn hoặc thiếu vốn một
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
cách tạm thời giữa các vùng diễn ra thường xun . Do đó vấn đề đặt ra là làm
sao thực hiện tốt nhất hiệu quả huy động của vốn và chính hoạt động điều
chuyển vốn trong nội bộ ngân hàng đã thực hiện tốt vấn đề này.
Thứ năm : Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa nền kinh tế các nước
và thế giới, tạo điều kiện cho việc hồ nhập của nền kinh tế trong nước với nền
kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới. Với xu hướng tồn cầu hóa nền
kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới cùng với chính sách mở rộng quan
hệ hợp tác quốc tế về kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới thì hoạt động
của các Ngân hàng thương mại được mở rộng và thúc đẩy cho việc mở rộng
hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp trong nước. Với hoạt động rộng khắp
của mình, các ngân hàng có khả năng được nguồn vốn từ các cá nhân và các tổ
chức nước ngồi góp phần bảo đảm được nguồn vốn cho nền kinh tế trong nước,
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có thể mở rộng hoạt động của họ
ra nước ngồi một cách rễ dàng hơn, hiệu quả hơn nhờ hoạt động thanh tốn
quốc tế, bảo lãnh.
Chính từ sự mở rộng các quan hệ quốc tế mà nền kinh tế trong nước có sự
thâm nhập vào thị trường quốc tế và tăng cường khả năng cạnh tranh với các
nước khác trên thế giới.
2.4. Các loại hình
Dựa trên nhiều hình thức khác nhau mà người ta phân chia ra thành các
loại Ngân hàng Thương mại khác nhau :
- Dựa trên tiêu thức sở hữu , người ta phân biệt Ngân hàng Thương mại
cơng và Ngân hàng Thương mại tư .
Ngân hàng Thương mại cơng là loại ngân hàng thương mại do nhà nước
cấp tồn bộ vốn điều lệ và bộ máy lãnh đạo do nhà nước bổ nhiệm . Còn Ngân
hàng Thương mại tư là loại hình ngân hàng thương mại do tư nhân hùn vốn dưới
hình thức góp cổ phần .
- Căn cứ vào tiêu thức quốc tịch , người ta phân biệt Ngân hàng Thương
mại bản xứ và Ngân hàng Thương mại nước ngồi .
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Ngân hàng Thương mai bản xứ là ngân hàng thương mại do nhà nước
hoặc cơng dân nước sở tại sở hữu . Ngân hàng Thương mại nước ngồi là do nhà
nước hoặc các tổ chức cơng dân nước ngồi sở hữu .
- Dựa trên tiêu thức cơ quan cấp giấy phép hoạt động, người ta phân biệt
ngân hàng thương mại tồn quốc ( hay còn gọi là ngân hàng thương mại liên
bang ở những nước theo thể chế liên bang) là loại hình ngân hàng thương mại do
chính phủ hoặc do một cơ quan quản lý trung ương ( thường là ngân hàng trung
ương) cấp giấy phép hoạt động.
Ngân hàng thương mại địa phương ( hay còn gọi là Ngân hàng bang ở
những nước theo thể chế liên bang) là loại hình ngân hàng thương mại do chính
quyền địa phương cấp giấy phép hoạt động.
- Căn cứ vào tiêu thức số lượng chi nhánh người ta phân biệt Ngân hàng
thương mại duy nhất và Ngân hàng thương mại mạng lưới.
Ngân hàng thương mại duy nhất là loại hình ngân hàng thương mại chỉ có
một hội sở hoạt động duy nhất trên phạm vi tồn lãnh thổ quốc gia. Trong khi đó
ngân hàng thương mại mạng lưới là loại hình ngân hàng có hội sở trung ương và
phân chi nhánh hoạt động trên phạm vi tồn bộ lãnh thổ và nhiều khi có cả ở
nước ngồi.
Tóm lại : Ngồi những cánh phân biệt thường dùng trên đây để xem xét
loại hình của một ngân hàng thương mại, một số nước trên thế giới còn có các
cách phân biệt khác như : căn cứ vào tiêu thức doanh số hoạt động, căn cứ vào
tiêu thức chun mơn hố hoạt động tín dụng để đánh giá xem xét loại hình của
ngân hàng thương mại đó.
II. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
1. Hoạt động huy động vốn
1.1. Huy động vốn nhàn rỗi của xã hội
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất của Ngân hàng Thương mại. Nó được
huy động từ các hình thức sau :
1.1.1. Các khoản tiền gửi của khách hàng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
* Tiền gửi tiết kiệm của dân cư :
Đây là một trong những khoản tiền gửi lớn của ngân hàng. Thơng thường
người gửi tiết kiệm nhận được một cuốn sổ nhỏ trong đó nhân viên ngân hàng
xác định tồn bộ số tiền rút ra ,gửi thêm , số tiền lãi . Khách hàng ở đây là tất cả
các dân cư có khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng , có thể gửi
vào ngân hàng nhằm tìm kiếm một khoản tiền lãi .
Việc phân chia các khoản tiền gửi tiết kiệm của dân cư có thể theo nhiều
tiêu thức khác nhau. Nhưng thường người ta phân chia các khoản tiền gửi tiết
kiệm của dân cư theo tiêu thức thời gian, tức là gồm tiền gửi tiết kiệm khơng kỳ
hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
* Tiền ký gửi :
Đây là những khoản tiền mà khách hàng đem ký gửi vào ngân hàng .Việc
sử dụng những khoản tiền ký gửi được thực hiện theo những thoả thuận giữa
khách hàng và ngân hàng . Lịch sử phát triển của ngân hàng cho thấy rằng hình
thức ban đầu của hoạt động ngân hànglà việc khách hàng nhờ bảo quản những
đồng tiền vàng. Người chủ phải bảo đảm trả lại chính những đồng tiền mà họ
được chuyển giao và bảo quản . Trong những trường hợp này người chủ khơng
thể tiến hành các nghiệp vụ cho vay đối với những đồng tiền nhận bảo quản đó
và khơng thể thu lợi nhuận để trả lợi tức cho người gửi tiền. Cùng với sự phát
triển của xã hội đã tạo điều kiện cho người bảo quản có thể sử dụng những đồng
tiền đó bởi vì người gửi tiền khơng u cầu phải trả lại chính những đồng tiền họ
gửi mà chỉ u cầu trả lại tổng số tiền mà họ đã gửi. Chỉ khi đó mới xuất hiện
khả năng sử dụng số tiền vay mượn đó để cấp tín dụng thu lợi tức và trả lãi cho
người gửi tiền. Tuy nhiên việc cho vay bằng tiền ký gửi phải căn cứ vào các
điều kiện có liên quan đến các khoản ký gửi khác nhau. Khi sử dụng các khoản
tiền ký gửi ngân hàng phải có sự phân loại các khoản tiền này nhằm có được
một cách sử dụng chúng hiệu quả nhất.
1.1.2. Vốn vay của các tổ chức tài chính tín dụng
Các Ngân hàng thương mại có thể thu hút vốn bằng cách vay ở các tổ
chức tài chính tín dụng. Đối với những ngân hàng ở các nước phát triển có quan
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
hệ rộng khắp thì nguồn vốn này là một nguồn vốn vay thường xun và khá
quan trọng. Nguồn vốn vay mượn này đã trở thành một nguồn vốn quan trọng
hơn đối với các ngân hàng trong những năm qua. Trong hoạt động quan hệ quốc
tế, việc vay mượn từ các tổ chức tín dụng quốc tế cũng cung cấp cho ngân hàng
những nguồn vốn quan trọng. Tuy nhiên đối với các quốc gia đang phát triển,
các ngân hàng thương mại thường có quan hệ quốc tế hạn hẹp, do đó việc thu
hút những nguồn vốn này còn nhiều hạn chế và thường được huy động theo các
chương trình dự án quốc tế.
1.2. Nguồn vốn vay từ ngân hàng Trung Ương
Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại sưới
nhiều hình thức như cho vay, mua ván, chiết khấu, tái chiết khấu đối với các
giấy tờ có giá cuả ngân hàng thương mại. Vốn hình thành từ nguồn này đảm bảo
cho khả năng thanh tốn của ngân hàng thương mại.
1.3. Nguồn vốn điều hồ trong hệ thống
Các ngân hàng thương mại có nhiều chi nhánh nằm trên các địa bàn khác
nhau nên ln ln xuất hiện tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn đối với các chi
nhánh trong cùng một hệ thống. Sở dĩ xuất hiện tình trạng này là do trên mỗi địa
bàn thì có những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau do đó có tác động mạnh mẽ
đến nguồn vốn và khả năng sử dụng vốn của từng chi nhánh. để giải quyết tình
trạng này các ngân hàng thương mại hoặc các sở tài chính sẽ thực hiện việc điều
hồ nguồn vốn trong hệ thống. Chính vì vậy nguồn vốn điều hồ trong hệ thống
cũng là một nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp cho ngân hàng có thể mở rộng
được hoạt động trên thị trường và làm tăng lợi nhuận của ngân hàng.
2. Sử dụng và khai thác nguồn vốn
2.1. Hoạt động cho vay
Hướng cơ bản trong sử dụng và khai thác các nguồn vốn của Ngân hàng
thương mại là cho vay. Hoạt động cho vay có thể được phân loại bằng nhiều
cách như : Mục đích, thời hạn, hình thức đảm bảo, phương pháp hồn trả và
nguồn gốc khách hàng
* Căn cứ theo hình thức bảo đảm thì khoản mục tín dụng được chia thành
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
+ Cho vay có bảo đảm : là hoạt động quan trọng của ngân hàng. Cho vay
có bảo đảm biểu hiện việc cho vay có cầm giữ các vật thế chấp cụ thể nào đó.
Vật thế chấp có thể bao gồm nhiều loại khác nhau như : Bất động sản, biên nhận
ký gửi hàng hố, máy móc thiết bị, cổ phiếu u cầu cơ bản của những vật
thế chấp là có thể bán được. Lý do thực tế đòi hỏi một khoản cho vay phải được
đảm bảo là nhằm tạo điều kiện để ngân hàng giảm bớt rủi ro, mất mát trong
trường hợp người vay khơng muốn hoặc khơng thể trả nợ khi đến hẹn.
Sự bảo đảm là u cầu phải có đối với các khoản vay vì một trong những
lý do chính là sự yếu kém về mặt tài chính của người vay. sự yếu kém này có thể
được biểu hiện thơng qua một vài yếu tố bao gồm nợ nần chồng chất, quản lý
yếu kém và lợi nhuận thấp. Người vay trong điều kiện tài chính như vậy có thể
tạo uy tín bằng việc thế chấp các tài sản. Cho vay có bảo đảm cũng tạo tâm lý
n tâm cho ngân hàng. Khi người vay đem cầm cố các tài sản mang quyền sở
hữu của mình thì người vay sẽ có ý thức hồn trả nợ. Kỳ hạn của mỗi khoản vay
cũng ảnh hưởng đến việc khoản vay đó có cần được bảo đảm hay khơng. Khi kỳ
hạn cho vay dài, rủi ro trong việc khơng hồn trả tăng lên thì các khoản cho vay
càng cần có sự bảo đảm.
Khách hàng khơng có khả năng trả nợ hoặc khơng có người bảo đảm trả
thay thì khi đến hạn tài sản cầm cố, thế chấp có thể là động sản và cũng có thể là
bất động sản.
+ Cho vay khơng bảo đảm : Khác với cho vay bảo đảm, cho vay khơng
bảo đảm được dựa trên tính liêm khiết và tình hình tài chính của người vay lợi
tức có thể được trong tương lai và tình hình trả nợ trước đây. Trong hoạt động
ngân hàng một số khoản vay lớn nhất được thực hiện dựa trên một cơ sở khơng
bảo đảm. Một số cơng ty được các ngân hàng xem là người vay chủ yếu, trong
nhiều trường hợp họ được hưởng lãi suất ưu đãi và khơng cần bảo đảm. Những
cơng ty ấy có danh tiếng trên thị trường, có cách quản lý hiệu quả, có các sản
phẩm và các dịch vụ được thị trường chấp nhận, có lợi nhuận ổn định và với một
tình hình tài chính vững mạnh. Họ sẵn sàng cung cấp cho ngân hàng các báo cáo
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
tài chính của mình để ngân hàng nắm rõ tình hình tài chính và sự tiến bộ của họ
để ngân hàng cung cấp các khoản cho vay khơng đảm bảo.
Các doanh nghiệp khơng phải là những đơn vị duy nhất được vay khơng
cần bảo đảm, nhiều tác nhân cũng được hưởng đặc quyền ấy. Những người có
nhà riêng, có cơng ăn việc làm ổn định, hoạt động trong các cơng sở
* Căn cứ theo các phương pháp hồn trả thì khoản mục tín dụng được
phân chia thành :
+ Các khoản cho vay hồn trả một lần :
Những khoản cho vay hồn trả một lần thường là những khoản cho vay
thẳng, nghĩa là hợp đồng u cầu trả vốn một lần vào thời gian đáo hạn cuối
cùng. Những khoản lãi có thể được trả vào những thời điểm khác nhau hoặc trả
khi đáo hạn. Đối với khoản cho vay hồn trả một lần, việc hồn trả khi đáo hạn
trở thành một gánh nặng đối với khách hàng. Những khoản cho vay hồn trả một
lần thường là những khoản cho vay ngắn hạn.
+Các khoản cho vay hồn trả nhiều lần:
Cho vay hồn trả nhiều lần đòi hỏi việc hồn trả theo những thời điểm
nhất định .
Cho vay hồn trả nhiều lần thực hiện theo ngun tắc trả dần trong suốt
kỳ hạn thực hiện hợp đồng . Nhờ vậy việc hồn trả khơng trở thành một gánh
nặng lớn đối với người vay như trong trường hợp tồn bộ khoản vay được trả
một lần. Đối với nhiều người có khoản cho vay hồn trả nhiều lần ví dụ như các
khoản trả góp đóng một vai trò như một phương tiện tích luỹ . Nó làm tăng hiệu
quả sử dụng vốn.
* Căn cứ theo kỳ hạn thì khoản mục tín dụng được phân chia thành :
+ Cho vay ngắn hạn :
Các khoản cho vay ngắn hạn có kỳ hạn 1 năm hoặc ít hơn , cho vay ngắn
hạn được thực hiện trong một thời gian nhất định dưới 1 năm hoặc trên cơ sở
theo u cầu. Cho vay theo u cầu là khoản vay khơng có kỳ hạn nhất định và
phải được trả khi khách hàng có u cầu vào bất cứ lúc nào. Cho vay theo u
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
cầu của người vay ở vào một vị thế rất linh hoạt và có thể trả nợ trong một thời
gian rất ngắn.
Những khoản cho vay ngắn hạn thường được sử dụng rộng rãi trong việc
tài trợ mang tính thời vụ về vốn ln chuyển và tài trợ tạm thời cho các hoạt
động sản xuất kinh doanh.
+Cho vay trung và dài hạn :
Việc quy định về thời gian cho các khoản vay trung và dài hạn theo những
quy định riêng của từng quốc gia . Theo quy định của nước ta , những khoản
vốn cho vay từ 1 năm đến 3 năm được coi là trung hạn, những khoản vốn cho
vay từ 3 năm trở lên được coi là dài hạn . Những khoản cho vay này thường có
giá trị lớn và người vay thưòng dùng để đầu tư, mở rộng sản xuất,nâng cấp tài
sản cố định .
Khách hàng thường ưa chuộng những khoản tín dụng trung và dài hạn vì
một số lý do :
Thứ nhất : Đối với các khoản vay trung và dài hạn khách hàng có thể n
tâm về thời gian sử dụngđồng vốn trong sản xuất kinh doan.
Thứ hai : Các khoản vay trung và dài hạn thường thuận tiện hơn các
khoản vay ngắn hạn .
Thứ ba : Các khoản vay trung và dài hạn dễ ràng thực hiện hơn so với
các hình thức tài trợ khác như : phát hành trái phiếu, cổ phiếu mới
Vốn trung hạn và dài hạn là một nhu cầu cấp thiết đối với việc đẩy mạnh
sự tăng trưởng của nền kinh tế tại những quốc gia đang phát triển.
2.2. Hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư hay còn gọi là hoạt động chứng khốn giúp Ngân hàng
Thương mại sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động. Đồng thời,
nó cũng mang lại nguồn thu nhập quan trọng cho Ngân hàng Thương mại . Ngân
hàng Thương mại có thể đầu tư vốn mua chứng khốn ngắn hạn của chính phủ.
Những chứng khốn này vừa mang lại thu nhập cho Ngân hàng Thương mại ,
vừa góp phần vào việc cân bẳng thu chi ngân sách thường xun ; đồng thời góp
phần điều hồ lưu thơng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
Ngân hàng Thương mại còn được phép đầu tư vốn để mua cổ phiếu và trái
phiếu của các doanh nghiệp , qua đây những Ngân hàng thương mại lớn tham
gia vào việc thành lập quản lý các doanh nghiệp . Tuy nhiên, Ngân hàng Thương
mại chỉ được đầu tư chứng khốn ở một giới hạn nhất định , khơng được để hoạt
động này lấn át hoạt động cho vay.
2.3. Hoạt động ngân quỹ
Là hoạt động phục vụ cho việc chi trả đối với khách hàng. Nó bao gồm
nghiệp vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các ngân hàng khác và ở Ngân hàng Thương
mại , tiền trong q trình thu nhận , và cũng có thể bao gồm cả nghiệp vụ về
chứng khốn ngắn hạn.
+ Quỹ tiền mặt bao gồm tiền giấy và tiền đúc được sử dụng để chi trả cho
khách hàng. Quỹ tiền mặt lớn hay nhỏ phụ thuộc chủ yếu vào quy mơ ngân
hàng, mối quan hệ giữa thanh tốn tiền mặt và thanh tốn chuyển khoản, tính
thời vụ của các khoản chi tiền mặt.
+ Tiền gửi của Ngân hàng Thương mại ở Ngân hàng Trung ương bao gồm
tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh tốn ( dư thừa)
+ Tiền gửi ở các ngân hàng khác phục vụ cho việc chi trả theo u cầu
của khách hàng, của Ngân hàng Thương mại này qua một Ngân hàng Thương
mại khác.
3. Mối quan hệ giữa huy động và sử dụng vốn của Ngân hàng Thương
mại
Ngân hàng hoạt động theo ngun tắc đi vay để cho vay do đó giữa hoạt
động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Để có vốn vay, ngân hàng phải thực hiện cơng tác huy động. Nếu số lượng
vốn huy động nhiều thì ngân hàng có thể tăng cường hoạt động sử dụng vốn, khi
đó ngân hàng có thể mở rộng các khoản cho vay, các khoản đầu tư. Trong
trường hợp ngân hàng đã áp dụng đầy đủ các biện pháp như thay đổi lãi xuất,
mở rộng các dịch vụ nhưng cũng khơng thể tăng được khối lượng vốn huy động
dẫn đến việc phải thực hiện chính sách tín dụng có lựa chọn, khơng đáp ứng
được đầy đủ nhu cầu của khách hàng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét